BigBang (nhóm nhạc)

(Đổi hướng từ Big Bang (nhóm nhạc))


BigBang (tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; RomajaBikbaeng; MRPikpaeng; cách điệu bằng cách viết hoa tất cả chữ cái) là một nhóm nhạc nam Hàn Quốc được thành lập bởi YG Entertainment. Nhóm hiện gồm ba thành viên: G-Dragon, Taeyang, và Daesung. Ban đầu là một nhóm nhạc năm thành viên, Seungri giải nghệ khỏi ngành giải trí vào tháng 3 năm 2019[2]T.O.P rời nhóm vào tháng 5 năm 2023.[3] Được mệnh danh là "Ông hoàng K-pop", họ đã góp phần lan tỏa Làn sóng Hàn Quốc ra quốc tế và được coi là một trong những nhóm nhạc có ảnh hưởng nhất trong K-pop.[4][5][6][7][8][9] Họ nổi tiếng với những thử nghiệm âm nhạc tiên phong, khả năng tự sản xuất và phong thái trình diễn cuốn hút trên sân khấu.[10][11]

BigBang
BigBang năm 2011 Trái sang phải: Taeyang, G-Dragon, và Daesung
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quánSeoul, Hàn Quốc
Thể loại
Năm hoạt động2006–nay
Hãng đĩa
Nhóm nhỏ
Thành viên
Cựu thành viên
WebsiteOfficial website tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2023)
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Romaja quốc ngữBikbaeng
McCune–ReischauerPikpaeng

Mặc dù album ra mắt của họ, BigBang Vol.1 (2006), ra mắt nhưng không nhận được sự đón nhận nồng nhiệt, tuy nhiên sau đó đã gặt hái được nhiều thành công hơn với hàng loạt đĩa đơn ăn khách: "Lies", hát này đã đứng đầu bảng xếp hạng âm nhạc Hàn Quốc trong sáu tuần liên tiếp, giành giải Bài hát của năm tại 2007 Mnet Km Music FestivalGiải thưởng âm nhạc Seoul 2008; "Last Farewell", "Haru Haru", và "Sunset Glow". Sau khi giành giải Nghệ sĩ của năm tại 2008 Mnet Korean Music Festival và Giải thưởng Âm nhạc Seoul 2008, nhóm phát hành 4 album phòng thu tiếng Nhật — BigBang (2009), BigBang 2 (2011), Alive (2012), và Made Series (2016) — tất cả đều được chứng nhận Vàng bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ).

Sau hai năm gián đoạn hoạt động tại Hàn Quốc, nhóm trở lại với EP thứ tư, Tonight (2011), giúp họ giành được giải thưởng Nghệ sĩ Toàn cầu Xuất sắc nhất tại Giải thưởng Âm nhạc MTV Châu Âu 2011.[12] EP thứ năm của họ, Alive (2012), trở thành album tiếng Hàn đầu tiên lọt vào bảng xếp hạng US Billboard 200. Album phòng thu thứ ba của họ, Made (2016), đã được mở đầu bằng nhiều đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng và giúp nhóm giành giải Nghệ sĩ của năm tại Giải thưởng Âm nhạc Châu Á Mnet 2015 lần thứ ba và tại Giải thưởng Âm nhạc Melon 2015. Chuyến lưu diễn quảng bá, Made World Tour, đã thu hút 1,5 triệu người và lập kỷ lục mới về chuyến lưu diễn hòa nhạc có lượng khán giả cao nhất do một nghệ sĩ Hàn Quốc dẫn đầu trong lịch sử vào thời điểm đó.[13][14]

Mười một đĩa đơn của BigBang đã đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Gaon Digital Chart của Hàn Quốc và tổng cộng giữ vững vị trí dẫn đầu trên bảng xếp hạng Melon trong kỷ lục 51 tuần. Họ đã bán được hơn 140 triệu bản kỹ thuật số và vật lý trên toàn cầu, điều này khiến họ trở thành một trong những nhóm nhạc nam bán chạy nhất thế giới.[15][16][17][18][19][20] Forbes Korea xếp họ là một trong những người nổi tiếng quyền lực nhất Hàn Quốc từ 2009 đến 2016 (về nhì vào các năm 2009, 2012 và 2014); và họ là những nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên được đưa vào danh sách Forbes Celebrity 100 (2016) và 30 Under 30 những nhạc sĩ có ảnh hưởng nhất thế giới (2017).[21][22]

Lịch sử

2000–2006: Hình thành và ra mắt

 
Logo BigBang

Trước khi nhóm ra mắt, một vài thành viên đã có kinh nghiệm trong ngành giải trí. G-Dragon và Taeyang là những người đầu tiên được YG Entertainment đào tạo từ năm 11 tuổi. Sau khi YG Entertainment liên hệ với G-Dragon để tìm kiếm ứng viên cho nhóm nhạc nam, anh đã liên lạc với T.O.P, người bạn thời thơ ấu của mình, dẫn đến việc T.O.P tham gia buổi thử giọng.[23] Vào thời điểm đó, T.O.P là một rapper underground với nghệ danh "Tempo".[24] Một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của anh là "Buckwild" hợp tác với NBK Gray.[25] Seungri lần đầu xuất hiện trên chương trình truyền hình thực tế Let's Cokeplay: Mnet Battle Shinhwa, một chương trình nơi mà nhóm nhạc thần tượng Shinhwa tìm kiếm thành viên để thành lập "Shinhwa thế hệ thứ hai".[26][27] Đội hình ban đầu gồm sáu thành viên: những người đã được đề cập ở trên cùng với Daesung và Hyun-seung, Cả hai đều đã tham gia buổi thử giọng. Quá trình thành lập nhóm đã được ghi lại trên truyền hình; trước khi chính thức ra mắt, Hyun-seung đã bị loại khỏi nhóm.[28][29] Buổi phát sóng trực tuyến bộ phim tài liệu đã vượt quá một triệu lượt xem.[30]

BigBang đã chính thức ra mắt vào ngày 19 tháng 8 năm 2006 tại Nhà thi đấu Thể dục dụng cụ Olympic ở Seoul trong buổi hòa nhạc kỷ niệm 10 năm thành lập YG Family, được phát sóng vào tháng sau đó.[31] Đĩa đơn đầu tiên "Bigbang", Album được phát hành ngay sau đó bao gồm các bài hát "We Belong Together", với sự góp mặt của nghệ sĩ cùng hãng đĩa Park Bom; "A Fool of Tears" và "This Love", một bản chuyển thể từ bài hát của ban nhạc rock Mỹ Maroon 5, được viết lại và trình bày bởi G-Dragon.[28][32] Đĩa đơn này đã bán được gần 40.000 bản.[33] Đĩa đơn thứ hai, BigBang Is V.I.P, Album này được phát hành vào tháng 9 và cuối cùng đã bán được hơn 32.000 bản.[33] Đĩa đơn cuối cùng, Big Bang 03, theo sau với doanh số bán ra cuối cùng gần 40.000 bản.[33] Nhóm nhạc năm người này đã nhận được giải Nghệ sĩ mới của tháng 10 năm 2006 tại Giải thưởng Âm nhạc Kỹ thuật số Cyworld.[34] Vào tháng 12, nhóm đã tổ chức buổi hòa nhạc đầu tiên mang tên The Real tại Nhà thi đấu Thể dục dụng cụ Olympic cho 12.000 người hâm mộ.[35] Việc phát hành album đầu tay của họ, BigBang Vol. 1 – Since 2007 (2006) diễn ra sau đó. Ra mắt ở vị trí thứ 3, album đã bán được hơn 110.000 bản.[36]

2007–2008: Sự nổi tiếng rộng rãi và màn ra mắt tại Nhật Bản

Vào ngày 8 tháng 2 năm 2007, BigBang phát hành album thu âm buổi hòa nhạc trực tiếp của họ, The First / Real Live Concert, nó đã bán được 30.000 bản vào cuối năm.[37] Họ cũng bắt đầu Want You Tour để hỗ trợ cho Since 2007, đi qua 5 thành phố: Incheon, Daegu, Changwon, JeonjuBusan.[38] EP đầu tiên của họ, Always (2007), đánh dấu một số thay đổi đối với nhóm. Mặc dù các thành viên trước đây đã tham gia viết lời và sáng tác nhạc, nhóm đã nắm quyền kiểm soát sáng tạo nhiều hơn đối với âm nhạc của mình, dần rời xa nguồn gốc hip-hop. G-Dragon đã sáng tác và viết lời cho hầu hết các ca khúc, bao gồm cả đĩa đơn chủ đạo "Lies".[39] EP này cũng đánh dấu sự ra mắt của nhạc điện tử cho BigBang. Phản hồi khá tích cực, đặc biệt là đối với "Lies", được các nhà phê bình mô tả là "cực kỳ xuất sắc".[40] Được phát hành với tư cách là đĩa đơn đầu tiên, bài hát này đã trở thành bản hit số một đầu tiên của họ và album đã bán được hơn 120.000 bản.[39] Với việc đứng đầu bảng xếp hạng trong sáu tuần liên tiếp,[41] "Lies" đã trở thành bài hát đầu tiên giành giải Bài hát của tháng tại Cyworld Digital Music Awards trong hai tháng liên tiếp, đồng thời đạt doanh số bán ra hàng tháng cao nhất trong lịch sử của Cyworld, với hơn 200.000 bản được bán ra trong tháng 9.[34]

EP thứ hai, Hot Issue, phát hành vào tháng 11 cùng năm, bao gồm sáu bài hát, tất cả đều do G-Dragon sáng tác, anh cũng là nhà sản xuất của album.[42] "Hot Issue" tiếp nối thành công của album trước: đĩa đơn chủ đạo "Last Farewell" đứng đầu nhiều bảng xếp hạng, bao gồm cả bảng xếp hạng Melon trong tám tuần liên tiếp, trở thành bài hát đứng đầu bảng xếp hạng lâu nhất của một nhóm nhạc nam.[41] Ca khúc này cũng đã giành được giải Bài hát của tháng (Nhạc số) từ Cyworld.[43] "Fool" và "But I Love U", những bài hát khác từ EP, cũng xếp hạng trong top 10.[44] Thành công trên nền tảng kỹ thuật số đã giúp doanh số bán ra của Hot Issue vượt quá 120.000 bản tại Hàn Quốc.[45] Họ cũng tổ chức buổi hòa nhạc "BigBang is Great", với vé bán hết chỉ trong 10 phút.[46][47]

Do làm việc quá sức và kiệt sức, một số thành viên đã phải nhập viện, dẫn đến việc tạm dừng các hoạt động quảng bá.[48] Mặc dù vậy, các album và đĩa đơn của họ vẫn rất được ưa chuộng, khiến công ty thu âm phải tái bản và đóng gói lại để phát hành lại.[49] Nhờ thành công của các EP, nhóm đã giành được nhiều giải thưởng, bao gồm Nhóm nhạc nam xuất sắc nhất và Bài hát của năm cho "Lies" tại Giải thưởng Âm nhạc Châu Á Mnet 2007.[50] Sau đó, họ đã nhận được giải Nghệ sĩ của năm và Bản thu âm kỹ thuật số của năm tại Giải thưởng Âm nhạc Seoul lần thứ 17.[51] Nhóm kiếm được tổng cộng 12 tỉ won (11.5 triệu $) vào cuối năm.[52]

 
BigBang tại MTV Fast Forward, Thái Lan năm 2007

Khi năm 2007 sắp kết thúc, BigBang đã mạo hiểm xuất ngoại đến Nhật Bản. EP đầu tiên của họ tại Nhật Bản, For the World (2008),[53] đạt vị trí thứ 10 trên bảng xếp hạng Oricon với sự quảng bá tối thiểu.[54] Nhóm cũng tổ chức một buổi hòa nhạc ở JCB Hall tại Tokyo Dome City. BigBang đã trở về Hàn Quốc sau khi kết thúc các hoạt động quảng bá tại Nhật Bản. Mặc dù các hoạt động nhóm bị trì hoãn do các dự án solo, EP tiếng Hàn thứ ba của họ, Stand Up, đã phát hành. Hợp tác với những nghệ sĩ như Daishi Dance và ban nhạc rock Hàn Quốc No Brain, Stand Up đã bán vượt mốc 200.000 bản.[55] "Haru Haru", đĩa đơn chủ đạo của nhóm, đã đứng đầu nhiều bảng xếp hạng trực tuyến và giữ vị trí số một trong bảy tuần liên tiếp..[56][41] Bài hát này cũng trở thành một trong những đĩa đơn thành công nhất mọi thời đại tại Hàn Quốc, bán được hơn năm triệu lượt tải kỹ thuật số chỉ riêng tại Hàn Quốc. EP cũng bao gồm bài hát "Heaven" (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; cheonguk) đứng ở vị trí thứ năm, "Oh My Friend" đứng ở vị trí thứ 10, "A Good Man" và "Lady" đứng ở vị trí thứ 20.[57]

Trong thời gian phát hành các sản phẩm âm nhạc tiếng Hàn, BigBang đã phát hành bài hát tiếng Nhật, "Number 1", từ album phòng thu đầu tiên tiếng Nhật cùng tên, trình diễn trên các chương trình phát thanh và truyền hình Nhật Bản; album đạt vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng album hàng ngày Oricon của Nhật Bản. Album phòng thu tiếng Hàn thứ hai, Remember (2008), đã cho ra đời đĩa đơn số một, "Sunset Glow", một bản làm lại của bài hát cùng tên của Lee Moon-se, phát hành năm 1988.[58] "Strong Baby", do Seungri thể hiện, được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ hai. Album này đã bán được hơn 200.000 bản.[57] BigBang received their second Artist of the Year Award from the 2008 Mnet Asian Music Awards.[59] Cuối năm, có báo cáo cho rằng BigBang đã kiếm được tổng cộng 36 tỷ won (34.5 triệu đô la Mỹ).[52]

2009–2011: Những hoạt động cá nhân, các hoạt động tại Nhật Bản và thành công thương mại

Trong thời gian nhóm tạm nghỉ vào đầu năm 2009, các thành viên theo đuổi các hoạt động solo. Họ tái hợp để hợp tác với 2NE1, nhóm nhạc nữ mới của công ty quản lý, nhóm được mệnh danh là "BigBang phiên bản nữ" vào thời điểm đó,[60] cho "Lollipop", Một bài hát được sử dụng để quảng bá điện thoại di động của LG Cyon. Một video âm nhạc cũng được quay để quảng bá.[61] BigBang cũng phát hành đĩa đơn kỹ thuật số thứ ba mang tên "So Fresh, So Cool" để quảng bá cho thương hiệu bia "Hite", mặc dù Seungri không xuất hiện trong quảng cáo vì chưa đủ tuổi uống rượu.[cần dẫn nguồn] Album phòng thu thứ hai mang tên chính họ được phát hành dưới Universal Music vào tháng 8 năm 2009 và được quảng bá với 2 đĩa đơn: "My Heaven" và "Gara Gara Go!! (ガラガラ Go!!?)".[62][63] "My Heaven", bản thu âm lại phiên bản tiếng Nhật của đĩa đơn tiếng Hàn "Heaven" của họ từ Stand Up, Ra mắt ở vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng âm nhạc Oricon.[64] "Gara Gara Go!" đạt vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng[65] và album đó đạt vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng.[65]

Bắt đầu năm mới với 2010 Big Show concert[66] tại Nhà thi đấu thể dục dụng cụ Olympics,[67] BigBang đã bay đến Nhật Bản để bắt đầu Electric Love Tour.[68] Album phòng thu tiếng Nhật thứ ba, Big Bang 2 (2011) trước đó có ba đĩa đơn: '"Koe o Kikasete" (声をきかせて lit. Let Me Hear Your Voice?), "Tell Me Goodbye", và "Beautiful Hangover".[69] "Koe wo Kikasete" được sử dụng trong phim truyền hình Nhật Bản Ohitorisama ( おひとりさま One Person?),[38][70][71] và xếp hạng tư trên Bảng xếp hạng Oricon.[72] "Tell Me Goodbye" đã được đưa vào bản phát hành lại tại Nhật Bản của bộ phim truyền hình Hàn Quốc Iris.[73] Bài hát đã trở nên phổ biến và nhận được nhiều đánh giá tích cực,[73] giành giải Bái hát của năm tại Japan Record Awards lần thứ 52.[74] Hai đĩa đơn quảng bá cũng được phát hành tại quê nhà của họ: bài hát đứng đầu bảng xếp hạng "Lollipop Part 2" để một lần nữa quảng bá cho điện thoại Lollipop của LG Cyon,[75][76] và "Shout of the Reds" kết hợp với ban nhạc rock Hàn Quốc Transfixion và vận động viên trượt băng nghệ thuật Kim Yuna để hỗ trợ cho FIFA World Cup 2010.[77] Trong phần lớn thời gian trong năm, các thành viên tự quảng bá tác phẩm của mình,[78] bao gồm sự ra mắt của nhóm phụ GD & TOP với album hợp tác của họ.[79] BigBang cũng đã giành được một số giải thưởng đáng chú ý, bao gồm giải Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất từ Japan Gold Disc Awards lần thứ 24[80] cũng như giải thưởng Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất.[81] Vào cuối tháng 5, nhóm đã nhận được giải thưởng Video nhạc Pop xuất sắc nhất và Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất tại MTV Video Music Awards Japan 2010.[82]

Tập tin:BIGBANG Extraordinary 20's.JPG
BigBang năm 2011

Sau gần hai năm gián đoạn hoạt động với đầy đủ các thành viên, BigBang đã trở lại Hàn Quốc với buổi hòa nhạc Big Show 2011,[83] giới thiệu bài hát từ EP sắp ra mắt Tonight.[84] Album này đã nhận được 10.000 đơn đặt hàng trước trên Cyworld, phá kỷ lục 6.500 bản do TVXQ thiết lập vào năm 2008.[85] và đã bán được 100.000 bản trong một tuần.[86] Album nhận được phản hồi tích cực, với Choi Jun của Asiae khen ngợi hướng đi mới trong âm nhạc của nhóm, thừa nhận rằng trong hai năm gián đoạn, "phong cách và gu âm nhạc của nhóm đã được trau chuốt hơn".[87] Bảy ngày sau khi album được phát hành, có thông tin cho rằng BigBang đã kiếm được 7 tỷ won (6,6 triệu đô la Mỹ).[88] Đĩa đơn chính cùng tên của nó Bài hát này đã đứng đầu bảng xếp hạng Gaon Digital Chart, trong khi bốn bài hát khác trong album cũng lọt vào top 10, bao gồm cả "Café" ở vị trí thứ hai và "What is Right?" ở vị trí thứ tư.[89] Sau khi kết thúc các hoạt động quảng bá cho "Tonight", BigBang đã phát hành một album phiên bản đặc biệt với hai ca khúc mới: bài hát đứng đầu bảng xếp hạng "Love Song" và bài hát lọt top 3 "Stupid Liar".[90] Chuyến lưu diễn Nhật Bản thứ ba, Love and Hope, bắt đầu vào tháng 5 để quảng bá cho album. Tất cả các buổi biểu diễn đều cháy vé, và tổng cộng 100.000 người hâm mộ đã tham dự.[91][92]

Tập tin:Big Bang wins MTV EMA award (6324396179).jpg
BigBang tại 2011 MTV Europe Music Awards

Tại 2011 MTV EMAs, BigBang thắng giải Nghệ sĩ toàn cầu xuất sắc nhất với tư cách là đại diện của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, họ đã nhận được hơn 58 triệu phiếu bầu.[93] "Love Song" cũng đã giành giải Video âm nhạc xuất sắc nhất tại Mnet Asian Music Awards năm 2011. Cuối năm đó, BigBang đã tham gia chuyến lưu diễn kỷ niệm 15 năm thành lập YG Family.[94] Tiếp theo đó là việc phát hành album tuyển tập những bài hát hay nhất thứ ba của họ, "The Best of Big Bang" (2011), vào ngày 14 tháng 12, trong đó có phiên bản tiếng Nhật của bài hát "Haru Haru". Album này đã đứng đầu bảng xếp hạng Oricon Daily ngay trong ngày đầu tiên phát hành và bán được hơn 14.000 bản trong tuần đầu tiên. Có thông tin cho rằng BigBang đã kiếm được 78 tỷ won (69,4 triệu đô la Mỹ) vào năm 2011 mặc dù họ chỉ mới hoạt động quảng bá được nửa năm. Thu nhập này bao gồm doanh thu từ các buổi hòa nhạc của BigBang cho chương trình BigBang Show của SBS, buổi hòa nhạc Big Show 2011 và chuyến lưu diễn Love and Hope Tour tại Nhật Bản.[95]

2012–2014: Alive, chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới đầu tiên và thời gian gián đoạn

Tháng 1 năm 2012, YG Entertainment bắt đầu phát hành các teaser cho EP tiếng Hàn thứ năm của BigBang Alive, nó được phát hành cả dưới dạng kỹ thuật số và vật lý vào tháng Hai. Số lượng đặt trước album Alive đạt 260.000 bản chỉ trong hai tuần.[96] Ba đĩa đơn được phát hành để quảng bá album: "Blue", đĩa đơn chính, được phát hành một tuần trước khi album ra mắt và đạt vị trí số một trên tất cả các bảng xếp hạng lớn trong nước;[97] đĩa đơn thứ hai "Bad Boy" đạt vị trí thứ hai[98] và là bài hát Kpop duy nhất được đưa vào danh sách những bài hát hay nhất năm 2012 của Fuse;[99] trong khi đĩa đơn cuối, "Fantastic Baby", loanh quanh ở vị trí thứ 3.[100] Video âm nhạc cho bài hát sau đó đã trở thành video nổi tiếng nhất của nhóm, thu hút hơn 310 triệu lượt xem trên YouTube, là video được xem nhiều nhất của một nhóm nhạc Hàn Quốc cho đến khi bị vượt qua vào năm 2018.[101] Trên phạm vi quốc tế, BigBang đã giành được 5 vị trí trong top 10 của bảng xếp hạng Billboard K-pop Hot 100 và đạt vị trí thứ 150 trên bảng xếp hạng Billboard 200, trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên có album tiếng Hàn đạt được thành tích này.[102] Sự nổi tiếng của họ cũng giúp họ lọt vào bảng xếp hạng Billboard Social 50, ở vị trí thứ 24. Sau đó, họ nhận được sự công nhận từ các trang web nổi tiếng như tạp chí "Time",[103] và một bức ảnh nhóm xuất hiện tại trang chủ của Grammy Awards.[104]

Việc phát hành album trùng với thời điểm diễn ra buổi hòa nhạc thường niên của họ, Big Show 2012, được tổ chức tại Sân vận động Công viên Olympic Seoul từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 3 với 40.000 khán giả tham dự, tất cả đều đã bán hết vé.[105] Đây là sự kiện đánh dấu sự khởi đầu chính thức cho chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới đầu tiên của họ, Alive Galaxy Tour, hợp tác với Live Nation.[106] Chuyến lưu diễn do biên đạo múa nổi tiếng Laurieann Gibson chỉ đạo, với sự tham gia biểu diễn của BigBang tại 21 thành phố ở hơn 13 quốc gia,[107] với tổng số người tham dự là 800.000 người.[108] Những đoạn phim ghi lại buổi hòa nhạc của Big Show đã được phát sóng tại 160 quốc gia thông qua MTV World Stage, góp phần quảng bá cho chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới của nhóm.[109] Chuyến lưu diễn Alive đánh dấu những buổi hòa nhạc đầu tiên của nhóm tại Hoa Kỳ, Hồng Kôngchâu Âu. Do nhu cầu cao, các buổi hòa nhạc bổ sung đã được tổ chức tại Los Angeles, New JerseyLondon.[110][111][112] Nhóm nhạc ngũ tấu này cũng lần đầu tiên biểu diễn tại ba địa điểm mái vòm ở Nhật Bản, trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên biểu diễn tại cả ba địa điểm này trong chuyến lưu diễn của mình.[113] Nhóm nhạc đã kết thúc chuyến lưu diễn bằng các buổi hòa nhạc ở Osaka vào giữa tháng 1, cùng với ba đêm diễn tại Nhà thi đấu Thể dục dụng cụ Olympic ở Seoul vào cuối tháng đó.[112]

Phiên bản tiếng Nhật của Alive được phát hành vào ngày 28 tháng 3 cả dưới dạng kỹ thuật số và vật lý, kèm theo hai bài hát tiếng Nhật bổ sung. Phiên bản vật lý của album bao gồm một bản tiếng Nhật tặng kèm của bài hát nổi tiếng "Haru Haru".[114] Album này đã bán được hơn 23.000 bản trong ngày đầu tiên phát hành và đạt vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng Oricon,[115] cuối cùng bán được 200.000 bản tổng cộng[116] và được chứng nhận Vàng bởi RIAJ.[115] Hoạt động quảng bá tại Nhật Bản bắt đầu với màn trình diễn tại Lễ hội Springroove năm 2012 cùng với các nghệ sĩ hip hop hàng đầu của Mỹ và Nhật Bản. BigBang là nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên được mời cùng với các nghệ sĩ cùng công ty quản lý 2NE1.[117] Sau thành công của màn trở lại, BigBang đã phát hành album phiên bản đặc biệt mang tên "Still Alive" vào ngày 3 tháng 6. Album gồm bốn bài hát mới, trong đó có hai bài hát tiếng Hàn mới, với ca khúc chủ đề mang tên "Monster", cũng như bản làm lại tiếng Hàn của hai bài hát bổ sung trong phiên bản tiếng Nhật của "Alive". Album đã bán được hơn 100.000 bản trong tháng đầu tiên phát hành.[116] Phiên bản đặc biệt Monster của album tiếng Nhật Alive được phát hành vào ngày 20 tháng 6, tương tự như phiên bản Hàn Quốc.

Thành công của album phiên bản đặc biệt đã giúp nhóm nhạc này được biết đến rộng rãi hơn trên toàn cầu, đạt vị trí thứ 11 trên bảng xếp hạng Billboard Social 50.[118] Vào ngày 30 tháng 11 năm 2012, BigBang đã nhận được tổng cộng ba giải thưởng tại 14th Mnet Asian Music Awards, bao gồm Nhóm nam xuất sắc nhất và Nghệ sĩ của năm. G-Dragon cũng đã giành được giải Nghệ sĩ solo nam xuất sắc nhất tại sự kiện này.[119] Họ cũng nhận được giải thưởng hạng mục Người hâm mộ xuất sắc nhất tại TRL Awards của Ý.[120] Sau khi các hoạt động quảng bá kết thúc, các thành viên đã theo đuổi các hoạt động cá nhân trong phần lớn năm 2013 và 2014.

BigBang đã tái hợp vào tháng 11 năm 2013 cho chuyến lưu diễn Japan Dome Tour, tổ chức các buổi hòa nhạc tại sáu nhà thi đấu mái vòm khác nhau ở Nhật Bản, trở thành nhóm nhạc nước ngoài đầu tiên làm được điều này. Thu hút hơn 770.000 người hâm mộ, tổng doanh thu của chuyến lưu diễn, bao gồm tiền vé và doanh thu bán hàng hóa, lên tới 94 triệu đô la.[121][122] Vào tháng 10 năm 2014, nhóm đã biểu diễn tại lễ bế mạc Đại hội Thể thao châu Á 2014 được tổ chức tại Incheon, Hàn Quốc, khép lại chuỗi tiết mục chúc mừng.[123][124] Một tháng sau, nhóm nhạc năm người này bắt đầu chuyến lưu diễn mái vòm thứ hai tại Nhật Bản, đây là lần đầu tiên bất kỳ nghệ sĩ nước ngoài nào biểu diễn tại năm sân vận động mái vòm ở Nhật Bản trong hai năm liên tiếp.[125] Tính đến cuối năm 2014, BigBang là nghệ sĩ Hàn Quốc thu hút nhiều khán giả đến xem concert nhất tại Nhật Bản trong năm đó và đứng thứ hai chung cuộc.[126]

2015–2016: Made, chuyến lưu diễn thế giới thứ hai và kỷ niệm 10 năm

BigBang đã tạm ngừng hoạt động trong hai năm khi G-Dragon trải qua "giai đoạn sa sút sự nghiệp" và không tìm được cảm hứng để sáng tác nhạc mới cho nhóm. Anh giải thích rằng: "Trước đây, ngay cả sau một ngày dài mệt mỏi, tôi vẫn viết ít nhất hai bài hát ở ký túc xá trước khi ngủ như thể đó là nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, [năm 2014], mọi thứ không suôn sẻ với tôi nên album liên tục bị trì hoãn."[127] Năm 2015, BigBang đã trở lại bằng cách phát hành các đĩa đơn đặc biệt cho dự án album "Made" của họ: M, A, D, và E.[128] Đĩa đơn đầu tiên, M, phát hành vào tháng 5, bao gồm 2 bài hát "Loser" và "Bae Bae", ra mắt lần lượt ở vị trí thứ 1 và thứ 2, trên World Digital Songs của Billboard, giúp nhóm nhạc năm người trở thành nhóm nhạc nam K-pop đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng và là nghệ sĩ Hàn Quốc thứ hai cùng lúc chiếm giữ hai vị trí đầu bảng sau người cùng công ty quản lý Psy.[129] "Loser" giành giải Bài hát của năm tại Golden Disk Awards lần thứ 30,[130] trong khi "Bae Bae" giành giải Bài hát của năm tại Korean Music Awards lần thứ 13.[131] Cả hai ca khúc đều được tạp chí Billboard bình chọn là một trong những bài hát K-pop hay nhất năm 2015, trong đó "Loser" đứng đầu danh sách.[132] Tháng kế tiếp chứng kiến sự ra mắt của A, bao gồm "Bang Bang Bang" và "We Like 2 Party", Sau đó, ca khúc này cũng chiếm giữ vị trí số một và số hai trên bảng xếp hạng World Digital Chart của Billboard.[133] "Bang Bang Bang" giành giải Bài hát của năm tại Mnet Asian Music Awards lần thứ 17,[134] và là đĩa đơn có thành tích tốt nhất năm 2015 tại Hàn Quốc theo Bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon.[135] D được phát hành vào tháng 7, bao gồm "Sober" (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Maenjeongsin) và "If You". "If You" đã lọt vào bảng xếp hạng World Digital Chart của Billboard ở vị trí thứ hai và đứng đầu bảng xếp hạng Gaon Digital Chart, trong khi "Sober" đạt vị trí thứ hai tại quê nhà của họ.[136][137] Loạt phát hành hàng tháng liên tiếp đã kết thúc với E vào tháng 8, với các bài hát "Zutter" có sự góp mặt của nhóm nhỏ GD & TOP và "Let's Not Fall in Love".[138] Bài hát sau Đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Gaon Digital Chart và trên bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard.[139][140]

Tập tin:BIGBANG MADE TOUR IN DALIAN.jpg
BigBang trong chuyến lưu diễn Made World Tour ở Trung Quốc, 2015

Để quảng bá các đĩa đơn của mình, BigBang đã thực hiện chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới lần thứ hai, nhận được nhiều đánh giá tích cực và thành công về mặt thương mại. Khởi đầu với hai buổi diễn tại Seoul vào ngày 25 và 26 tháng 4, chuyến lưu diễn đã thu hút 1,5 triệu người hâm mộ trên toàn thế giới, trở thành chuyến lưu diễn lớn nhất của bất kỳ nhóm nhạc Hàn Quốc nào.[13][14] Đến cuối năm, BigBang đã kiếm được hơn 150 tỷ won (120 triệu đô la Mỹ).[141] Mặc dù các đĩa đơn đạt được thành công về mặt thương mại, việc phát hành album đầy đủ đã bị hoãn lại để bổ sung thêm các bài hát mới vào album và để nhóm có thời gian nghỉ ngơi sau bốn tháng quảng bá.[142] BigBang tiếp tục chuyến lưu diễn Made V.I.P Tour vào năm 2016, ghé thăm Trung Quốc, Ma Cao, Malaysia, Singapore, Đài Loan và Hoa Kỳ.[143] Nhóm nhạc này là nghệ sĩ có doanh thu cao nhất năm 2016 tại Trung Quốc đại lục dựa trên doanh thu biểu diễn, thu về 70,3 triệu đô la Mỹ, chiếm 70% tổng doanh thu phòng vé của tất cả các nghệ sĩ Hàn Quốc tại Trung Quốc trong năm đó.[144][145][146] Vào tháng 4 và tháng 5, họ đã thực hiện Fantastic Babys Tour tại Nhật Bản, gặp gỡ 280.000 người hâm mộ.[146][147]

Một số dự án đã được khởi động để kỷ niệm 10 năm thành lập nhóm.[148] Đầu tiên là phim tài liệu Big Bang Made, phim ghi lại hành trình của nhóm trong chuyến lưu diễn Made Tour năm 2015, được phát hành vào ngày 30 tháng 6 năm 2016.[149][150] Nhóm nhạc đã tổ chức chuyến lưu diễn kỷ niệm 10 năm, 0.TO.10, từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 1 năm 2017, bao gồm các buổi biểu diễn cháy vé tại Sân vận động Yanmar NagaiOsaka, Nhật Bản và tại Sân vận động World Cup SeoulSeoul, Hàn Quốc.[151][152][153] Chuyến lưu diễn đã thu hút 781.500 người tham dự 16 buổi hòa nhạc tại Nhật Bản,[154][155] và giúp BigBang trở thành nhóm nhạc có sức hút concert lớn nhất năm tại Nhật Bản, lần đầu tiên một nhóm nhạc nước ngoài đứng đầu danh sách này.[156] Nhìn chung, họ đã thu hút được 1,1 triệu người tham dự chuyến lưu diễn.[157] Nhóm nhạc cũng tổ chức một triển lãm nghệ thuật mang tên "A TO Z" để giới thiệu lịch sử của nhóm cũng như kỷ niệm một thập kỷ cùng người hâm mộ. Triển lãm diễn ra từ ngày 5 tháng 8 đến ngày 30 tháng 10 tại S-Factory ở Seoul.[146][158] Triển lãm đã được tổ chức tại Đài Bắc, Đài Loan từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 22 tháng 8 năm 2017.[159]

Tập tin:Big Bang 2016 'MADE' Press Conference.png
BigBang năm 2016

Sau 1 năm trì hoãn, Made được phát hành vào tháng 12 năm 2016.[160] Hai đĩa đơn đã được công bố cho lần phát hành này: "Fxxk It" và "Last Dance".[161][162] Hai bài hát, cùng với "Girlfriend", đã chiếm giữ ba vị trí đầu bảng xếp hạng Gaon Digital Chart, bán được hơn một triệu bản kỹ thuật số trong vòng năm ngày.[163][164] Những bài hát này lần lượt đạt vị trí thứ 2, 3 và 4 trên bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard, bán được tổng cộng 13.000 bản.[165] Phiên bản kỹ thuật số của Made đã bán được hơn 1 triệu bản trên QQ Music, KuGou và Kuwo, ba nền tảng âm nhạc lớn nhất Trung Quốc chỉ trong một ngày.[166] Album này ra mắt ở vị trí thứ 172 trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Hoa Kỳ với 6.000 đơn vị album tương đương, trong đó 4.000 là doanh số bán album truyền thống, giúp ban nhạc có lần thứ hai lọt vào bảng xếp hạng này. Họ cũng ra mắt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng World Albums và bảng xếp hạng Heatseekers Albums.[165] Tại quê nhà Hàn Quốc, phiên bản vật lý của album đã đứng đầu bảng xếp hạng Gaon Album Chart.[167][168] Hai đêm hòa nhạc cuối cùng được tổ chức tại Gocheok Sky Dome vào tháng 1 năm 2017[169] để kết thúc chuyến lưu diễn kỷ niệm 10 năm và các hoạt động quảng bá cho Made.[169]

2017–2021: Lưu diễn, nghĩa vụ quân sự, và Seungri giải nghệ

Theo yêu cầu nghĩa vụ quân sự bắt buộc, T.O.P. đã nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự hai năm vào ngày 9 tháng 2 năm 2017 với tư cách là một cảnh sát nghĩa vụ.[170] Các thành viên còn lại tiếp tục hoạt động quảng bá mà không có anh,[171] tổ chức chuyến lưu diễn mái vòm thường niên lần thứ năm tại Nhật Bản, Last Dance Tour, vào tháng 11 với 14 buổi hòa nhạc tại bốn thành phố, thu hút 696.000 người hâm mộ tham dự.[172][173] Hai buổi diễn cuối cùng của chuyến lưu diễn cũng được tổ chức tại Gocheok Sky Dome ở Seoul vào ngày 30 và 31 tháng 12.[174] Năm 2017, YG Entertainment đã phát hành một chương trình truyền hình thực tế có sự tham gia của nhóm mang tên Run, Big Bang Scout! thông qua YouTube Red, đây là nội dung gốc đầu tiên của dịch vụ này được sản xuất tại một quốc gia ngoài Hoa Kỳ. Tập đầu tiên của chương trình được phát hành miễn phí và đã thu hút hơn 12,7 triệu lượt xem trên YouTube.[175] Năm sau, các thành viên còn lại bắt đầu nhập ngũ: G-Dragon vào ngày 27 tháng 2,[176] Taeyang vào ngày 12 tháng 3,[177] và Daesung vào ngày 13 tháng 3 năm 2018.[178] Seungri ban đầu được thông báo sẽ nhập ngũ vào ngày 25 tháng 3 năm 2019.[179] Đĩa đơn "Flower Road" được phát hành vào ngày 13 tháng 3 năm 2018, như một lời tạm biệt gửi đến người hâm mộ.[180] "Flower Road" đã lập kỷ lục tại Trung Quốc, đạt hơn một triệu bản bán ra chỉ trong 3 ngày và 14 giờ, thời gian ngắn nhất đối với một nghệ sĩ Hàn Quốc.[181] Bài hát này cũng đứng đầu bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard.[182] và Gaon Digital Chart, nơi bài hát đã đạt được chỉ số kỹ thuật số cao nhất trong năm tính đến thời điểm hiện tại.[183]

Vào ngày 11 tháng 3 năm 2019, Seungri tuyên bố giải nghệ khỏi ngành giải trí do các vụ bê bối liên quan đến hộp đêm Burning Sun, dẫn đến việc anh rời khỏi BigBang.[184][2] Vào ngày 6 tháng 7 năm 2019, T.O.P là thành viên đầu tiên được xuất ngũ.[185] Tiếp theo đó là G-Dragon vào ngày 25 tháng 10 năm 2019.[186] Taeyang và Daesung đã được xuất ngũ vào ngày 10 tháng 11.[187] Vào ngày 3 tháng 1 năm 2020, có thông báo rằng BigBang sẽ biểu diễn tại lễ hội Coachella, đáng lẽ đây sẽ là màn trình diễn đầu tiên của họ với tư cách một nhóm sau ba năm nếu không vì đại dịch COVID-19.[188] Vào tháng 3, bất chấp những báo cáo cho thấy điều ngược lại,[189] cả bốn thành viên đều đã gia hạn hợp đồng với YG Entertainment và đang chuẩn bị cho sự trở lại[190] điều cuối cùng bị trì hoãn.

2022–2025: Trở lại sau thời gian gián đoạn, "Still Life", các thành viên thay đổi hãng thu âm, T.O.P rời nhóm và kỷ niệm 20 năm

Ngày 7 tháng 2 năm 2022, YG Entertainment thông báo BigBang sẽ trở lại với một đĩa đơn kỹ thuật số vào mùa xuân. Họ cũng thông báo rằng T.O.P đã chấm dứt hợp đồng độc quyền với YG Entertainment, mặc dù anh vẫn sẽ tham gia các hoạt động của nhóm.[191] Nhóm đã phát hành đĩa đơn mới mang tên "Still Life" vào ngày 5 tháng 4, đánh dấu sự trở lại đầu tiên của họ sau bốn năm và cũng là lần đầu tiên với tư cách là một nhóm bốn người.[192][193] "Still Life" ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng Gaon Digital Chart của Hàn Quốc, đưa ca khúc này trở thành bài hát đứng đầu bảng xếp hạng thứ 11 của BigBang, một kỷ lục đối với bất kỳ nhóm nhạc nào trong lịch sử bảng xếp hạng này.[194] Chỉ sau ba ngày rưỡi theo dõi, đĩa đơn này đã lọt vào top 10 trên bảng xếp hạng Billboard Global 200Global Excluding US của Billboard, trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc thứ ba đạt được thành tích này.[195] Đĩa đơn ra mắt ở vị trí số 1 tại Hong Kong,[196] Malaysia,[197] Singapore,[198] Vietnam Singles Charts,[199] và số 3 tại Taiwan Singles Chart và Australia Hitseekers Singles, trở thành sản phẩm đầu tiên của nhóm gia nhập bảng xếp hạng của các quốc gia này..[200][201] Ca khúc này cũng lọt vào top 100 ở nhiều quốc gia, trong đó có Indonesia, New Zealand, Netherlands, Hungary, Japan, Vương quốc AnhCanada.[202][203][204] Vào ngày 27 tháng 12 năm 2022, YG đã xác nhận rằng Daesung đã chấm dứt hợp đồng và đang tìm kiếm một khởi đầu mới.[205]

Vào ngày 31 tháng 5 năm 2023, T.O.P tiết lộ rằng anh đã "rút lui" khỏi nhóm.[3] Vào tháng 1 năm 2025, T.O.P. đã loại trừ khả năng quay trở lại nhóm và tuyên bố rằng việc anh rời nhóm là do scandal của mình và cảm thấy xấu hổ khi phải đối mặt với các thành viên khác.[206] Tháng 6 năm 2023, hợp đồng chính thức của G-Dragon với YG hết hạn, khiến anh trở thành thành viên cuối cùng của BigBang rời khỏi công ty.[207] Vào tháng 1 năm 2024, hồ sơ nghệ sĩ của nhóm đã bị xóa khỏi YG, điều này có nghĩa là nhóm không còn trực thuộc công ty nữa.[208]

Vào ngày 23 tháng 11 năm 2024, nhóm đã có màn tái hợp bất ngờ trong phần trình diễn solo của G-Dragon tại Lễ trao giải MAMA 2024 ở Osaka, đánh dấu màn trình diễn trực tiếp đầu tiên của họ kể từ 2017. Họ đã trình diễn các bài hát "Home Sweet Home" của G-Dragon, "Bang Bang Bang" và "Fantastic Baby".[209]

2026–nay: Kỷ niệm 20 năm

Vào ngày 16 tháng 9 năm 2025, có thông báo rằng BigBang sẽ biểu diễn tại Lễ hội âm nhạc và nghệ thuật Thung lũng Coachella vào năm 2026, 6 năm sau thời điểm ban đầu họ dự định biểu diễn tại Coachella.[210] Buổi biểu diễn sẽ đánh dấu kỷ niệm 20 năm ngày ra mắt của nhóm BigBang.[211]

Vào ngày 4 tháng 3 năm 2026, YG Entertainment đã công bố lộ trình chiến lược của mình, thông báo rằng các thành viên BigBang đã đạt được thỏa thuận chung với công ty để thực hiện một chuyến lưu diễn toàn cầu quy mô lớn nhằm kỷ niệm 20 năm thành lập, với nhà sản xuất điều hành Yang Hyun-suk cam kết một chương trình biểu diễn trực tiếp toàn diện mang tính lịch sử.[212] Sau màn trình diễn tại Coachella, trưởng nhóm G-Dragon đã chính thức xác nhận trong phần trình diễn cuối cùng của nhóm rằng Chuyến lưu diễn kỷ niệm 20 năm sẽ bắt đầu vào tháng 8 năm 2026, hé lộ đây sẽ là một sự "khởi động lại" hoàn toàn cho di sản của nhóm.[213] Theo thông tin từ ngành công nghiệp âm nhạc, vào ngày 7 tháng 7, BigBang sẽ phát hành một bài hát mới sau 4 năm và họ sẽ bắt đầu quay video âm nhạc cũng như các nội dung liên quan đến bài hát mới này trong tháng này.[214]

Phong cách nghệ thuật

Phong cách âm nhạc

BigBang được ca ngợi vì cá tính âm nhạc riêng biệt và khả năng kết hợp âm thanh pop với các yếu tố rap, R&B và nhạc dance.[215] Họ được biết đến với tính thử nghiệm[216] và với "phong cách âm nhạc thống trị vượt qua ranh giới thể loại".[217] Trong những ngày đầu sự nghiệp, âm nhạc của BigBang chủ yếu là hip hoppop rap, mặc dù họ cũng kết hợp các bài hát R&B vào album của mình. Một tay bút của Yahoo! Japan từng so sánh những tác phẩm đầu tiên của họ với các nghệ sĩ hip-hop Hoa Kỳ như The Black Eyed Peas, cho rằng các bài hát của họ có "giọng hát dễ nhớ, [...] phần rap và các nhân vật".[218] Bài hát "Ma Girl", ca khúc solo đầu tiên của Taeyang trong album đầu tay của nhóm, được miêu tả là "[mượt mà, gợi cảm và nhiều âm trầm]" và gợi nhớ đến Omarion.[219] Tương tự, ca khúc solo đầu tiên của Seungri từ cùng album, "Next Day", được nhận xét là mang "chất nhạc Usher thập niên 90 cực kỳ mạnh mẽ".[220]

EP đầu tiên của nhóm Always (2007) là một bước ngoặt về âm thanh so với những sản phẩm trước đó của họ, lần đầu tiên thử nghiệm với nhạc điện tử dance và định hình nó như một xu hướng âm nhạc mới tại Hàn Quốc.[221] Từ EP Hot Issue (2007) của mình, the ca khúc "Fool" "mang ảnh hưởng của shibuya-kei" có "nhịp điệu nhảy mạnh mẽ kết hợp với âm hưởng disco mượt mà."[222] "Haru Haru" từ Stand Up (2008) được ngưỡng mộ vì "khả năng chuyển đổi nhịp điệu một cách liền mạch và tạo ra cảm giác lo lắng cho người nghe thông qua dòng chảy ngầm mạnh mẽ" và được ca ngợi là một "kiệt tác trải nghiệm".[217] Họ cũng hợp tác với ban nhạc rock Hàn Quốc No Brain trong bài hát rock "Oh My Friend".[223] Alive (2012) thể hiện giọng hát mộc mạc hơn của nhóm, khác hẳn với kiểu chỉnh giọng tự động thường thấy, với "một cường độ trưởng thành";[224] Các ca khúc trong album này đã mở rộng hơn nữa danh mục thử nghiệm thể loại đa dạng của nhóm. Ca khúc chủ đạo "Blue" được đánh giá cao nhờ "các mẫu âm thanh điện tử và kỹ thuật sản xuất thú vị hơn",[225] "Bad Boy" được mô tả là một bài hát "hoài cổ"[99] và là "ca khúc pop hoàn hảo vượt qua rào cản ngôn ngữ",[226] và "Monster" được khen ngợi vì giọng hát đầy cảm xúc và âm thanh dàn nhạc tuyệt vời.[216]

Trong album thứ ba "mang tính biểu tượng cho sự nghiệp" của họ[227] Made (2016), Nhóm nhạc này kết hợp nhiều thể loại nhạc điện tử với nhạc rock nhẹ.[228][229] "Loser" Bài hát này được đánh giá cao vì "mang đến một phong cách trưởng thành hơn" cho sự nghiệp âm nhạc của BigBang "mà không làm mất đi hình ảnh mà họ đã xây dựng qua các sản phẩm trước đó", trong khi "Bang Bang Bang" được ghi nhận với âm thanh hiện đại lấy cảm hứng từ EDM.[230][nguồn không đáng tin?] Những "yếu tố đột phá" của "Bae Bae" đã giúp phổ biến thể loại trap trong K-pop.[231][225] "Let's Not Fall in Love" tập trung vào khía cạnh "dịu dàng" ít được biết đến của nhóm với phần sản xuất "phong phú" gợi lên "nhiều cung bậc cảm xúc".[232] "Girlfriend" là một "bản nhạc hip-hop nhẹ nhàng gợi nhớ về những ngày đầu của nhóm".[233]

Vì các thành viên trong ban nhạc cũng đã thử nghiệm rộng rãi với các thể loại khác trong các dự án solo, nên nhóm được mô tả là "giàu tính đa dạng".[218] EP Hot của Taeyang chủ yếu là tuyển tập các bài hát R&B, ca sĩ này coi thể loại này là "trọng tâm chính" của mình.[cần dẫn nguồn] Đĩa đơn kỹ thuật số đầu tiên của Daesung, "Look at Me, GwiSoon", là một bài hát trot, đã gây ra nhiều chỉ trích do hình tượng "nghệ sĩ hip-hop" của BigBang.[234] Trong album đầu tay Heartbreaker của mình, G-Dragon đã kết hợp dance, hip-hop, và R&B.[235] Justin McCurry từ tờ "The Guardian" nhận định: "Mỗi thành viên trong nhóm đều có phong cách riêng biệt, và phạm vi âm nhạc của họ cũng rất đa dạng, bao gồm R&B, hip-hop, house, electro và pop."[236] BigBang được mô tả là "những siêu anh hùng nghệ thuật" nhờ "sự đa tài và thành công trong mọi lĩnh vực họ hoạt động".[237] Việc họ liên tục thử nghiệm với nhiều phong cách âm nhạc đa dạng và cá tính riêng biệt được xem là một trong những lý do chính giúp họ nổi tiếng và duy trì được sự nghiệp lâu dài.[238] The Chosun Ilbo giải thích rằng "vị thế dẫn đầu vững chắc trong số các nhóm nhạc thần tượng" là kết quả của chất lượng âm nhạc, đồng thời nhấn mạnh rằng "mỗi khi BigBang ra mắt bài hát mới, họ đều muốn giới thiệu điều gì đó mới mẻ và kể cho chúng ta những câu chuyện mới."[239] G-Dragon bình luận, "Chúng tôi là người Hàn Quốc, nên hiển nhiên họ gọi nhạc của chúng tôi là K-pop. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ nghĩ nhạc của mình là K-pop. Nhạc của chúng tôi chỉ là nhạc của chúng tôi thôi." T.O.P cũng không đồng ý với nhãn hiệu "K-pop", cho rằng "[bạn] không chia nhạc pop dựa trên người làm ra nó. Ví dụ, chúng ta không nói 'nhạc pop da trắng' khi người da trắng làm nhạc."[237]

Sáng tác bài hát và chủ đề lời nhạc

BigBang nổi tiếng với việc kiểm soát chặt chẽ âm nhạc của họ,[11] Khác với nhiều nhóm nhạc thần tượng Hàn Quốc khác, họ tích cực tham gia vào việc sáng tác và sản xuất âm nhạc ngay từ khi ra mắt.[240] AVới vai trò trưởng nhóm, G-Dragon đóng vai trò trung tâm trong việc sản xuất gần như toàn bộ các sản phẩm âm nhạc trong suốt mười năm và được ghi nhận là nhạc sĩ chính cho các bản hit đầu tiên của nhóm như "Lies", "Last Farewell", và "Haru Haru".[40] Ca khúc "Last Dance" được viết chung bởi G-Dragon, T.O.P và Taeyang, đồng thời do G-Dragon đồng sản xuất.[162]

Chủ đề tình yêu và các mối quan hệ là những chủ đề lặp đi lặp lại trong lời bài hát của BigBang. Trong "Bingle Bingle", nhân vật chính cầu xin người yêu tiến thêm một bước trong mối quan hệ của họ. Ngược lại, "Let's Not Fall in Love" lại kìm hãm sự phát triển của một mối quan hệ mới, thể hiện sự do dự khi mở lòng với ai đó.[241] Các bài hát của BigBang cũng đề cập đến nhiều chủ đề khác nhau, từ những vấn đề trưởng thành đến những vấn đề cá nhân. "Fantastic Baby" và "Bang Bang Bang" thường được xếp vào thể loại nhạc dance do nội dung lời bài hát, bài đầu tiên được mô tả là có chủ đề "vô chính phủ", còn bài thứ hai được mệnh danh là "bài hát tiệc tùng của năm 2015".[230] Việc sử dụng từ ngữ tục tĩu trong "Fxxk It" được xem là bằng chứng cho sự trưởng thành của các thành viên,[227] và lời bài hát "Bae Bae" cũng được chú ý vì chứa đựng nhiều ẩn dụ về tình dục.[242][nguồn không đáng tin?][243] Mặt khác, bài hát "Loser" của họ lại cố gắng "nhân văn hóa nhóm" bằng cách đề cập đến những khuyết điểm của họ.[244] "Sober" nói về việc theo đuổi ước mơ,[245] và "Last Dance" là một bài ca ngợi quãng thời gian ban nhạc hoạt động cùng nhau.[233]

Những đóng góp của G-Dragon vào sản phẩm âm nhạc của nhóm đã được tờ The Korea Times khen ngợi, mô tả anh là một "nhạc sĩ kiêm ca sĩ thiên tài".[246] Chính rapper này mô tả BigBang là "một nhóm nhạc thần tượng không phải sinh ra từ tài năng mà từ nỗ lực."[247] Một cây viết của Yahoo! Japan đã khen ngợi nhóm vì sự tận tâm của họ trong chính công việc của mình, cho rằng "có lẽ bằng cách đóng góp vào các sản phẩm của chính mình, họ không chỉ trở nên ăn ý với nhau mà cá tính của mỗi người cũng được bộc lộ."[218]

Sân khấu và thẩm mỹ

Tập tin:BIGBANG Concert 0.TO.10 in Seoul - 5.jpg
Buổi hòa nhạc 0.TO.10 của BigBang tại Seoul năm 2016

BigBang được khen ngợi về các màn trình diễn trực tiếp, phong thái sân khấu và vũ đạo. Ngay từ những ngày đầu sự nghiệp, nhóm được biên đạo múa bởi Seungri[248] và cộng tác viên thường xuyên Shaun Evaristo.[249] Mặc dù trước đây họ chủ yếu dựa vào vũ điệu đường phố cho các động tác của mình, nhưng sau đó họ đã sử dụng các phong cách vũ đạo khác. Một trong những động tác từ đĩa đơn đầu tay "La La La" của họ, trong đó nhóm vén áo lên để lộ bụng, đã nhanh chóng trở nên phổ biến trên mạng và trở thành một trong những từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên internet.[250] Phần vũ đạo của "Last Farewell", trong đó có một động tác mô phỏng "nhảy dây", cũng thu hút sự chú ý rộng rãi trong nước.[248] Điệu nhảy cho bài "Bang Bang Bang" của Parris Goebel là một trong những điệu nhảy nổi tiếng nhất năm 2015.[251] Nhóm sử dụng đạo cụ trong các buổi biểu diễn—bao gồm "rất nhiều pháo hoa, dây ruy băng, giấy vụn",[252][nguồn không đáng tin?] đèn LED,[253] sương mù,[254] cũng như "những con rồng phun lửa" được số hóa và một chiếc trực thăng quay tròn[255]—đã được giới phê bình đón nhận nồng nhiệt.[256][257]

Trong bài đánh giá về chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới của họ, The Muse đã ca ngợi nhóm nhạc vì đã trình diễn mỗi bài hát như thể đó là bài hát cuối cùng và vì sự chính xác trong cách trình diễn cũng như thế mạnh riêng của từng thành viên.[254] Vào thời điểm đỉnh cao sự nổi tiếng của "Gangnam Style" của Psy, nhà báo Jon Caramanica của tờ The New York Times đã nhận xét rằng buổi hòa nhạc của BigBang ở New Jersey mới là "trái tim hoang dã thực sự của K-pop", trái ngược với Psy, nhấn mạnh vào trang phục rực rỡ sắc màu, vũ đạo và phong thái trình diễn trên sân khấu của họ.[258] Năm 2012, họ đứng đầu trong Top 3 buổi hòa nhạc tại Mall of Asia ArenaPhilippines,[259][nguồn không đáng tin?] và buổi hòa nhạc của họ ở Lima đã được vinh danh là buổi hòa nhạc hay nhất ở Nam Mỹ trong năm đó.[260] Khi so sánh với các nghệ sĩ phương Tây như Justin BieberOne Direction, các màn trình diễn của BigBang được đánh giá là có "sắc nét hơn, âm thanh lớn hơn, vũ đạo mạnh mẽ hơn".[261] Buổi biểu diễn trong khuôn khổ Alive Tour của họ tại Prudential Center ở Newark, New Jersey đã được xếp hạng thứ hai trong danh sách các buổi hòa nhạc hay nhất năm 2012 của tờ The New York Times.[262] Vào tháng 3 năm 2012, Krista Mahr từ tạp chí Time Đã hết lời ca ngợi buổi concert của nhóm tại Nhà thi đấu Thể dục dụng cụ Olympic ở Seoul, mô tả họ là "những vị thần K-pop" nhờ phong thái trình diễn trên sân khấu.[103] Chuyến lưu diễn Made World Tour của BigBang năm 2015 cũng là một thành công lớn về mặt phê bình và thương mại, tờ Los Angeles Times gọi buổi biểu diễn của họ ở Anaheim là "một khoảnh khắc vô cùng quan trọng đối với K-Pop", ca ngợi sự đa dạng trong các bài hát và màn trình diễn của họ và nhận xét rằng buổi hòa nhạc đã "nâng tầm nghệ thuật biểu diễn trực tiếp K-Pop — điều đôi khi không đáp ứng được sự nhiệt tình quá mức của người hâm mộ — thành một loại hình trình diễn hoành tráng, táo bạo và ấn tượng hơn."[10] Lần thứ hai đưa nhóm nhạc này vào danh sách những buổi hòa nhạc hay nhất năm, tờ The New York Times nhận xét rằng "buổi hòa nhạc sôi động, mượt mà và cực kỳ náo nhiệt của một trong những nhóm nhạc K-pop quan trọng nhất Hàn Quốc đã khiến ngay cả những nhóm nhạc lớn nhất của Mỹ cũng trông như những kẻ nghiệp dư hạng bét."[263]

Hình ảnh công chúng

Tập tin:BIGBANG on Gaon Chart Music Awards 2016.png
BigBang nhận một giải thưởng năm 2016

Ảnh hưởng của BigBang không chỉ giới hạn trong ngành công nghiệp âm nhạc mà còn định hình nhiều xu hướng thời trang quốc tế quan trọng.[264][265] Được mệnh danh là "thời trang Big Bang", phong cách của họ đã được học hỏi rộng rãi khắp châu Á[24] và biến chúng thành một hiện tượng văn hóa ở Hàn Quốc.[239] Những bộ quần áo mà các thành viên mặc trên sân khấu thường được sao chép và bán tại chợ Dongdaemun.[52] Năm 2011, BigBang hợp tác với nhà bán lẻ quần áo Nhật Bản Uniqlo để tạo ra một dòng áo phông và sản phẩm này nhanh chóng bán hết sạch.[266] The Chicago Sun-Times gọi các thành viên là "những người ăn mặc táo bạo và lịch lãm nhất thế giới" và ca ngợi phong cách của họ là "táo bạo, sáng tạo và dẫn đầu xu hướng".[267] Ảnh hưởng của họ lên công nghiệp thời trang Hàn Quốc được nhấn mạnh tại triển lãm của Vogue Korea tại Seoul.[268]

Phong cách thời trang và kiểu tóc độc đáo của họ cũng được nhấn mạnh. Kênh truyền hình Fuse nhận xét rằng "trang phục của họ gần như thú vị không kém gì màn trình diễn."[269] Ban đầu, nhóm nhạc này theo đuổi concept "hip-hop" cho album đầu tay. Tuy nhiên, việc phát hành "Always" vào năm 2007 đánh dấu sự thay đổi về hình ảnh, khi nhóm hướng đến phong cách preppy-punk hơn. Quần skinny và giày Converse của họ trở thành xu hướng phổ biến ở Hàn Quốc, và Taeyang thu hút sự chú ý khi thay đổi kiểu tóc tết bím của mình thành kiểu tóc giả mohawk.[270] BigBang cũng mặc những chiếc áo hoodie in họa tiết riêng trong nhiều buổi biểu diễn và video âm nhạc của họ, và đã được nhìn thấy trong các thương hiệu như Bape, 10 Deep, Louis Vuitton, Jeremy Scott và Phenomenon.[24] Nhóm này cũng được ghi nhận là đã đưa phong cách thời trang "cổ điển" trở lại xu hướng chính, phổ biến những đôi giày thể thao cổ cao từ các thương hiệu như NikeReebok.[271] Được miêu tả là người "thời trang nhất" trong nhóm.,[272] G-Dragon nổi tiếng với việc đeo những chiếc khăn hình tam giác, sau này được đặt biệt danh là "khăn BigBang", trong thời gian quảng bá cho đĩa đơn "Lies".[24] T.O.P cũng được biết đến với việc đeo kính râm trong các buổi biểu diễn.[24]

Ảnh hưởng văn hóa và di sản

"Chỉ riêng cái tên Big Bang thôi đã mang một sức ảnh hưởng đáng kể trong làng K-pop. Phải mất khoảng một thập kỷ để Big Bang phát triển từ một nhóm nhạc thần tượng trẻ tuổi thành một nhóm nhạc năm thành viên với những biểu tượng văn hóa. [...] Những nghệ sĩ sành điệu, đam mê ca hát và nhảy múa này đã trở thành những người tạo xu hướng, sản xuất nhiều bản nhạc hip-hop đa dạng. Từ trang phục đến kiểu tóc của họ đều ngay lập tức trở thành chuẩn mực. Điều này không chỉ giới hạn ở Hàn Quốc. Big Bang đã vươn ra ngoài châu Á, và các thành viên đã trở thành những ngôi sao toàn cầu thực thụ. [...] 10 năm đầu sự nghiệp của Big Bang thật sự ấn tượng và để lại dấu ấn không thể xóa nhòa trong lịch sử nhạc pop Hàn Quốc. — Tạp chí Beyond[273]

Từ năm 2014 đến năm 2017, trước khi nhóm tạm ngừng hoạt động để nhập ngũ, BigBang chịu trách nhiệm cho hơn một nửa tổng số album bán ra của công ty tại Hàn Quốc.[274] Họ là những thần tượng nhạc hip hop chính thống đầu tiên của Hàn Quốc, được ghi nhận là những người đã giúp phổ biến thể loại này khắp châu Á, là một trong những động lực chính đằng sau làn sóng Hallyu.[275] The Korea Times đã gọi BigBang là "Những biểu tượng của nhạc pop Hàn Quốc"[246] và khẳng định rằng sự vươn lên của G-Dragon trở thành một trong những nhạc sĩ tài năng nhất trong K-pop "đã truyền cảm hứng cho nhiều bạn trẻ muốn trở thành thần tượng và trở thành ca sĩ kiêm nhạc sĩ."[276] Yonhap News Agency lưu ý rằng nhóm đã giúp "lan tỏa K-pop như một thương hiệu văn hóa trên khắp Hoa Kỳ, châu Âu, Mỹ Latinh và Trung Đông."[277] Năm 2011, BBC tuyên bố rằng "các nhóm nhạc K-pop, bao gồm cả Big Bang, đang tạo dấu ấn trên toàn thế giới", đặc biệt nhấn mạnh đến đóng góp của nhóm vào sự tăng trưởng kinh tế của YG Entertainment.[278]

Sau khi nhóm giành chiến thắng giải thưởng âm nhạc châu Âu MTV 2011 cho Nghệ sĩ toàn cầu xuất sắc nhất,[279] Google đã thông báo rằng công ty con YouTube của họ sẽ ra mắt kênh riêng dành cho nhạc K-pop để ghi nhận sự phổ biến và thành công của thể loại này.[280] Tờ báo Anh The Guardian cũng đã bàn luận về việc chiến thắng này đã "làm sáng tỏ sự trỗi dậy của âm nhạc Hàn Quốc trên khắp châu Âu".[281] Jacques Peterson từ The Sydney Morning Herald Họ cho rằng thành công của BigBang đến từ việc mang đến một "phong cách độc đáo" cho các thể loại nhạc, phá vỡ khuôn mẫu của công thức nhóm nhạc thần tượng Hàn Quốc.[282] Suk Park, chủ tịch của DramaFever, đã ca ngợi họ là đội tiên phong của K-pop.[11] Nhà báo chuyên về giải trí Mark James Russell, hiện đang sống tại Seoul, đã ca ngợi nhóm nhạc này vì đã vượt qua mọi khuôn khổ, nhận định rằng "[trong số tất cả các nhóm nhạc chính thống, họ là những người nỗ lực nhất để phá vỡ ranh giới của những gì được coi là K-pop]."[237] Anna Fifield từ The Washington Post tuyên bố rằng họ "đã định hình và định nghĩa lại nhạc pop Hàn Quốc. Họ đã bác bỏ quan niệm rằng cái gọi là K-Pop luôn luôn ngọt ngào và được sản xuất hàng loạt, và rằng các nhóm nhạc nam chỉ toàn là những gương mặt đẹp trai và hát nhép."[237] Los Angeles Times ca ngợi sự đổi mới không ngừng về âm thanh và hình ảnh của BigBang, gọi nhóm là "một trong những nhóm nhạc sáng tạo và có tầm nhìn thẩm mỹ nhất trong thể loại của họ."[10] Trong một bài báo kỷ niệm 10 năm thành lập BigBang, Billboard tuyên bố rằng "không có nhóm nhạc nào làm say mê giới âm nhạc Hàn Quốc trong thập kỷ qua như BigBang".[217] và sau đó nói thêm rằng họ đã "định hình ngành công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc" và có thể "vượt qua ranh giới quốc tế và né tránh những hạn chế của ngành công nghiệp K-pop vốn chỉ tập trung vào giới trẻ."[233]

Nhờ sự nổi tiếng toàn cầu, BigBang là gương mặt đại diện nổi bật cho ngành du lịch Hàn Quốc.[283] Các buổi hòa nhạc Big Show của họ đã được Ủy ban Du lịch Hàn Quốc (Visit Korea Committee) thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quảng bá từ năm 2010 đến năm 2012 do "tác động kinh tế lớn của nhóm đối với đất nước".[284] Năm 2014, Korea Post vinh danh BigBang bằng cách phát hành tem bưu chính chính thức có hình ảnh của nhóm.[285] Năm 2016, họ được chọn làm đại sứ cho chiến dịch du lịch "Hàn Quốc Sáng tạo" của đất nước[286] và xếp thứ hai trong cuộc bình chọn của độc giả tạp chí Time về Những người có ảnh hưởng nhất thế giới, chỉ sau chính trị gia người Mỹ Bernie Sanders.[287] Trong cùng năm, Forbes Nhóm nhạc này được xếp hạng thứ 54 trong danh sách Celebrity 100 hàng năm, với thu nhập 44 triệu đô la từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016 và trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên xuất hiện trong danh sách này; nhóm có thu nhập hàng năm cao thứ ba từ trước đến nay đối với một nhóm nhạc nam, chỉ sau One DirectionBackstreet Boys.[288][21] BigBang được tờ "The Korea Herald" vinh danh là một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất của làn sóng Hallyu và là một trong những nhóm nhạc tiêu biểu nhất cho K-pop,[289] cũng như "Nhóm nhạc nam thần tượng hàng đầu trong 20 năm qua" trong cuộc khảo sát của báo Dong-A Ilbo đối với cả công chúng Hàn Quốc và giới phê bình âm nhạc.[290] Ngoài ra, BigBang là nhóm nhạc có thứ hạng cao nhất trong danh sách "Những nhân vật quyền lực nhất làng giải trí Hàn Quốc" của báo JoongAng Ilbo, đứng thứ tư.[291] Năm 2017, Họ trở thành những nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên được góp mặt trong danh sách Forbes 30 Under 30.[22] Những đĩa đơn do nhóm phát hành như "Lies" và "Fantastic Baby" thường được coi là một trong những bản hit lớn nhất và những bài hát mang tính biểu tượng nhất của K-pop.[292][293] Trong danh sách "21 bài hát K-Pop hay nhất mọi thời đại", tạp chí Spin Bài hát "Bad Boy" được xếp hạng thứ mười ba và "High High" của bộ đôi GD & TOP được xếp hạng thứ bảy.[294] "Fantastic Baby" xếp thứ 22 trong danh sách "50 bài hát hay nhất mọi thời đại của các nhóm nhạc nam" do tạp chí Rolling Stone bình chọn.[295] Nó đứng thứ hai trong danh sách "Những video K-pop hay nhất" của Stereogum, còn "Love Song" đứng thứ mười ba.[296] "Lies" cũng được chọn là "Bài hát của thập kỷ" bởi chương trình M! Countdown của Mnet vào năm 2014.[297] và được bình chọn là "Bài hát thần tượng nam hay nhất trong 20 năm qua" trong một cuộc khảo sát của báo "Dong-a Ilbo", trong đó các bài hát "Bae Bae", "Fantastic Baby" và "Haru Haru" cũng được xếp hạng thứ tư, thứ năm và thứ sáu.[290] "Fantastic Baby" đã được tạp chí Billboard đưa vào danh sách "100 video âm nhạc hay nhất thập niên 2010", đánh giá đây là một trong những video âm nhạc có sức ảnh hưởng nhất mọi thời đại của K-pop.[298] "Bad Boy", "Bae Bae" và "Fantastic Baby" Lần lượt xếp thứ 8, 40 và 65 trong danh sách "100 bài hát K-Pop hay nhất thập niên 2010" của Billboard.[231]

Âm nhạc của BigBang đã ảnh hưởng đến rất nhiều nghệ sĩ, bao gồm BTS,[299] Pixie Lott,[300] A*M*E,[301] Cho PD,[302][303] Got7,[304] Astro,[305] Teen Top,[306][nguồn không đáng tin?] Monsta X,[307] Chang Kiha,[308] SF9,[309] Victon,[310] Dynamic Duo,[311] Zion.T,[312] Sonamoo,[313] Topp Dogg,[314] Nu'est,[315][nguồn không đáng tin?] Hwasa của Mamamoo,[316] Vivi của Loona,[317] Jinny của Secret Number,[318] U-Kwon của Block B,[319][nguồn không đáng tin?] iKon,[320] Blackpink,[321] Sơn Tùng M-TP[322]Grimes.[323][324] Nhóm nhạc nam Trung Quốc OkBang được tạo hình dựa trên BigBang và được mô tả là có "nhiều điểm tương đồng với Big Bang về phong cách âm nhạc, trang phục và kiểu tóc."[325] Ca sĩ-diễn viên người Philippines Glaiza de Castro cũng lấy cảm hứng từ BigBang và sự hiện diện trên sân khấu của họ.[326] Rapper BewhY, quán quân của Show Me the Money 5, tiết lộ rằng anh bắt đầu rap sau khi nghe nhạc của BigBang,[327] trong khi IU bắt đầu nổi tiếng trong nước sau khi cover các bài hát của nhóm.[328]

Giải thưởng và thành tựu

BigBang là một trong những nhóm nhạc nam bán chạy nhất mọi thời đại, bán được 150 triệu đĩa và vẫn đang tiếp tục tăng.[329] Nhóm đã phát hành nhiều bài hát ăn khách, Gaon Chart báo cáo rằng người tiêu dùng âm nhạc đã học cách tin tưởng vào chất lượng của nhóm và gọi họ là một "hiện tượng" vì sản phẩm của họ được "tiêu thụ đồng đều bởi nhiều nhóm tuổi khác nhau."[330] BigBang đã giành được một số giải thưởng Bài hát của năm tại nhiều lễ trao giải, bao gồm tại Korean Music Awards lần thứ 13 cho "Bae Bae"[131] và tại Golden Disc Awards lần thứ 30 cho "Loser".[130] Họ đã được trao vương miện Nghệ sĩ của năm tại Seoul Music Awards lần thứ 17 năm 2008[331] và tại Melon Music Awards lần thứ 7 năm 2015[332] và trở thành nghệ sĩ đầu tiên giành được nhiều hơn một giải thưởng Nghệ sĩ của năm tại Mnet Asian Music Awards (2008, 2012, và 2015).[134] Nhóm cũng đã giành được nhiều giải thưởng Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất trong những ngày đầu sự nghiệp tại Nhật Bản.[74][80][82] Họ trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên và duy nhất giành chiến thắng tại MTV Italian Music Awards, khi họ mang về giải Nghệ sĩ xuất sắc nhất thế giới vào năm 2016.[333] Nhóm đã được vinh danh là Nhóm nhạc có ảnh hưởng nhất châu Á tại Gaon Chart K-Pop Awards lần thứ 5[334] và với giải thưởng Thành tựu đặc biệt tại Japan Record Awards lần thứ 58.[335]

Các album Hot Issue (2007), Stand Up (2008), Remember (2008), Tonight (2011) và Alive (2012) của nhóm cũng được coi là một số album kỹ thuật số thành công nhất trong lịch sử.[336] Năm 2014, nhân kỷ niệm 10 năm ngày ra mắt thị trường nhạc số tại Hàn Quốc, BigBang được tiết lộ là nhóm nhạc có số lượng bài hát đứng đầu bảng xếp hạng nhạc số nhiều thứ hai trong lịch sử.[337] Với các đĩa đơn của Made năm 2015, họ đã trở thành nhóm đầu tiên.[338] Bài hát đột phá của họ là "Lies" năm 2007, bài hát đầu tiên trụ hơn 50 tuần trên bảng xếp hạng Melon, bao gồm 22 tuần trong Top 10; nó vẫn nằm trong top 100 trong hơn 54 tuần.[339][340] Đĩa đơn tiếp theo của họ "Last Farewell" đã san bằng kỷ lục mọi thời đại về số tuần đứng đầu bảng xếp hạng Melon, đứng đầu bảng xếp hạng trong tám tuần liên tiếp.[41] Năm 2011, BigBang đạt vị trí đầu bảng trong Đại sảnh Danh vọng của Cyworld, trở thành nghệ sĩ bán chạy nhất mọi thời đại trên bảng xếp hạng này.[341] Tonight trở thành album K-pop đầu tiên lọt vào Top 10 trên bảng xếp hạng iTunes Hoa Kỳ.[342] Năm 2015, họ trở thành nhóm nhạc đầu tiên có ba bài hát trong top 5 của Gaon Digital Year End Chart, cũng như nhóm nhạc đầu tiên đồng thời giữ vị trí thứ nhất và thứ hai trong cùng một năm.[343] Họ cũng trở thành nhóm nhạc đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng Gaon Digital Chart trong bốn tháng liên tiếp..[344] Album phòng thu thứ ba của họ, Made (2016), đã được chứng nhận Kim cương bởi dịch vụ âm nhạc QQ Music của Trung Quốc[345] và trở thành một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại tại Trung Quốc. Năm 2016, "Lies" và "Haru Haru" lần lượt là những bài hát được tải xuống nhiều thứ hai và thứ năm tại Hàn Quốc kể từ năm 2006.[346] Họ cũng trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên có chín video âm nhạc vượt quá 100 triệu lượt xem trên YouTube,[347] và video âm nhạc cho "Fantastic Baby" trở thành video đầu tiên của một nhóm nhạc K-pop vượt qua 300 triệu lượt xem trên YouTube.[348]

Chuyến lưu diễn thế giới đầu tiên của họ đã lập kỷ lục về doanh thu bán vé cao nhất tại Đài Loan,[349] trong khi các buổi biểu diễn ở London của họ đã thu hút đám đông lớn nhất cho một buổi hòa nhạc K-pop được tổ chức tại Vương quốc Anh.[350] Japan Dome Tour năm 2013 của họ là chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất của một nghệ sĩ nước ngoài tại Nhật Bản.[351] Ngoài ra, Made World Tour của họ, chuyến lưu diễn có số lượng khán giả tham dự cao nhất do một nghệ sĩ Hàn Quốc dẫn đầu trong lịch sử,[352] đã phá vỡ một số kỷ lục vào thời điểm đó, bao gồm buổi hòa nhạc K-pop được xem trực tuyến nhiều nhất trong lịch sử,[353] nghệ sĩ nước ngoài đầu tiên tổ chức chuyến lưu diễn tại các sân vận động mái vòm tại Nhật Bản trong ba năm liên tiếp,[354] nghệ sĩ nước ngoài duy nhất tổ chức ba buổi hòa nhạc liên tiếp tại Shanghai Arena,[355] nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên tổ chức buổi hòa nhạc kéo dài hai ngày tại Kuala Lumpur,[356][nguồn không đáng tin?] chuyến lưu diễn sân vận động K-pop lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ,[357] nhóm nhạc nước ngoài đầu tiên bán hết vé ba buổi hòa nhạc ở Hồng Kông trong hai dịp riêng biệt,[358] một trong những buổi hòa nhạc đắt nhất trong lịch sử Malaysia,[359][nguồn không đáng tin?] chuyến lưu diễn lớn nhất tại Trung Quốc của bất kỳ nhóm nhạc Hàn Quốc nào,[360] và buổi hòa nhạc K-pop lớn nhất được tổ chức tại Canada.[361] Cảnh hậu trường từ chuyến lưu diễn đã được ghi lại trong bộ phim đầu tiên của họ, Big Bang Made, bộ phim đã trở thành phim tài liệu âm nhạc được xem nhiều nhất ở Hàn Quốc.[362] Buổi hòa nhạc kỷ niệm 10 năm của họ tại Sân vận động World Cup Seoul đã thu hút 65.000 người tham dự, lượng khán giả lớn nhất từ ​​trước đến nay cho một nghệ sĩ chính duy nhất trong nước.[363][364] Với Last Dance Tour năm 2017, BigBang đã trở thành nhóm nhạc nước ngoài đầu tiên tổ chức chuyến lưu diễn tại các sân vận động mái vòm ở Nhật Bản trong 5 năm liên tiếp.[172]

Thành viên

In đậm là nhóm trưởng

Danh sách thành viên của BIGBANG
Nghệ danh Tên khai sinh Vị trí Ngày sinh Nơi sinh Quốc tịch
Latinh Hangul Kana Nghệ danh tại Nhật Bản Latinh Hangul Kana Hanja Hán-Việt
Thành viên hiện tại
G-Dragon 지드래곤 トップ G-Dragon Kwon Ji-yong 권지용 クォン・ジヨン 權志龍 Quyền Chí Long Leader, Main Rapper, Lead Dancer, Sub Vocalist 18 tháng 8, 1988 (37 tuổi) Yongsan, Seoul,   Hàn Quốc   Hàn Quốc
Taeyang 태양 ソル SOL Dong Young-bae 동영배 トン・ヨンベ 董詠培 Đổng Vịnh Bồi Main Vocalist, Main Dancer 18 tháng 5, 1988 (38 tuổi) Uijeongbu, Gyeonggi,   Hàn Quốc   Hàn Quốc
Daesung 대성 ディ・ライト D-Lite Kang Dae-sung 강대성 カン・デソン 姜大聲 Khương Đại Thanh Lead Vocalist 26 tháng 4, 1989 (37 tuổi) Itaewon, Seoul,   Hàn Quốc   Hàn Quốc
Cựu thành viên
T.O.P トップ T.O.P Choi Seung-hyun 최승현 チェ・スンヒョン 崔勝鉉 Thôi Thắng Huyền Lead Rapper, Sub Vocalist, Visual 4 tháng 11, 1987 (38 tuổi) Gangnam, Seoul,   Hàn Quốc   Hàn Quốc
Seungri 승리 ヴィ・アイ V.I Lee Seung-hyun 이승현 カン・デソン 李昇炫 Lý Thăng Huyễn Lead Dancer, Sub Vocalist, Maknae 12 tháng 12, 1990 (35 tuổi) Gwangsan, Gwangju,   Hàn Quốc   Hàn Quốc

Danh sách đĩa nhạc

Danh sách phim

Tự truyện

Các chuyến lưu diễn và buổi hòa nhạc

Lễ hội âm nhạc

Danh sách các buổi biểu diễn, ngày diễn, địa điểm và thông tin liên quan
Sự kiện Ngày Địa điểm Thành phố Quốc gia Các bài hát Tham khảo
Lễ hội âm nhạc và nghệ thuật Thung lũng Coachella 12 tháng 4, 2026 – 19 tháng 4, 2026 Empire Polo Club Indio Hoa Kỳ TBA [5]

Các lễ trao giải

Danh sách các buổi biểu diễn, ngày diễn, địa điểm và thông tin liên quan
Sự kiện Ngày Địa điểm Thành phố Quốc gia Các bài hát Tham khảo
Lễ trao giải MAMA 2024 23 tháng 11, 2024 Kyocera Dome Osaka Osaka Nhật Bản
  • "Bang Bang Bang"
  • "Fantastic Baby"
[7]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Fujimori, Sachi (ngày 8 tháng 11 năm 2012). "Leading up to its Newark shows, is Big Bang ready to bring K-pop to the U.S.?". NorthJersey. The Record. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012.
  2. ^ a b Lee, Ho-ki (ngày 13 tháng 3 năm 2019). "YG 측 "승리 요청에 계약 종료, 대대적 체질 개선 필요성 절감"" [YG's side: "Contract termination on Seungri request, reduces need for major constitution improvements"]. Naver (bằng tiếng Hàn). Naver TV Entertainment. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2019.
  3. ^ a b Zwei, Puah (ngày 31 tháng 5 năm 2023). "T.O.P says he has "already withdrawn" from Big Bang". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2023.
  4. ^ "Bigbang is going on tour: Get to know the kings of K-pop". The Straits Times. ngày 2 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2017.
  5. ^ a b "BIGBANG confirmed for 2026 Coachella, 20th anniversary". The Chosun Ilbo. ngày 16 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  6. ^ Maria, Sherman (ngày 12 tháng 10 năm 2015). "K-Pop Kings Bigbang Fly Seoul's Soul to NYC". The Village Voice. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2017.
  7. ^ a b Yoon, So-Yeon (ngày 24 tháng 11 năm 2024). "Wow, Fantastic Baby: 2024 MAMA Awards end with a Big Bang". Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  8. ^ Bui, Hoai-Tran (ngày 21 tháng 4 năm 2016). "BIGBANG: The biggest boy band in the world you probably haven't heard of". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2018. BIGBANG – unofficially called the "kings of K-pop" – are old pros in the increasingly youthful K-pop industry, still beating out newbie boybands and girl groups every year in both awards and album sales.
  9. ^ Liu, Marian (ngày 18 tháng 2 năm 2017). "K-pop's growing pains: Why Asia's biggest bands are splitting up". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2017. In January, 'Kings of K-pop' Big Bang played their last concert before going on hiatus – after dominating the charts for 10 years.
  10. ^ a b c Brown, August (ngày 5 tháng 10 năm 2015). "Review BigBang explodes K-Pop convention at the Honda Center". tronc. Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2015.
  11. ^ a b c Sun, Rebecca (ngày 1 tháng 11 năm 2015). "Big Bang's Global Influence: How to Build a Boy Band That Lasts". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2015.
  12. ^ Frost, Caroline (ngày 11 tháng 7 năm 2011). "MTV EMA Awards: Britney Spears Loses Out To Bigbang, Lady Gaga, Justin Bieber, Bruno Mars, Eminem All Winners". The Huffington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2012.
  13. ^ a b Kim, Jae-heun (ngày 7 tháng 3 năm 2016). "Big Bang's Seoul concert had it all". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2016.
  14. ^ a b "Bigbang is always different… World tour that has drawn 1.5 million fans ended in great success". YG Life. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2016.
  15. ^ "The Korean wave hits New York | Manhattan, New York, NY | Local News". ngày 11 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  16. ^ Spangler, Todd (ngày 26 tháng 4 năm 2017). "K-Pop Superstars BigBang Go Camping in YouTube Red's First Korean Show". Variety.com. Penske Media Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2017.
  17. ^ Tartaglione, Nancy (ngày 27 tháng 4 năm 2017). "'Good Fight' Heads To India, Nordics; Alexia Edwards Joins Expectation – Global Briefs". Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  18. ^ Tan, Lincoln (ngày 19 tháng 7 năm 2017). "Kiwi birthday surprise for K-pop megastar G-Dragon". New Zealand Herald. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2017.
  19. ^ Wilson, Kate (ngày 7 tháng 6 năm 2017). "Rapper T.O.P from K-pop group Big Bang found unconscious after drug overdose". The Georgia Straight Vancouver's News & Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2017. One fifth of popular group Big Bang—whose 140 million worldwide record sales make it one of the biggest selling boy bands in the world—rapper T.O.P was hospitalized yesterday for an alleged overdose.
  20. ^ Bruner, Raisa (ngày 13 tháng 3 năm 2019). "What to Know About the K-Pop Superstar Facing Charges in a Prostitution Case". Time. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2026.
  21. ^ a b Greenburg, Zack O'Malley (ngày 26 tháng 7 năm 2016). "Bigbang Theory: How K-Pop's Top Act Earned $44 Million In A Year". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2016.
  22. ^ a b Greenburg, Zack O'Malley (ngày 3 tháng 1 năm 2017). "30 Under 30 Music: Gallant, Bigbang, Daya, Logic And The Class Of 2017". Forbes Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2017.
  23. ^ Park, So-yeon (ngày 2 tháng 2 năm 2010). "[新스타고백]지드래곤⑤아이돌그룹 활동, 망설였다 – 아시아경제" ["New Star Confession: G-Dragon⑤Idol Group Activities, Hesitant-Asian Economy]. The Asia Business Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012.
  24. ^ a b c d e Sablan, Niño Mark (ngày 24 tháng 7 năm 2009). "Crazy for K-Pop". Philippine Daily Inquirer. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  25. ^ "Bigbang Top (Tempo) & NBK gray – buckwild". YouTube. ngày 13 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012.
  26. ^ Ahn, Woorim (ngày 2 tháng 12 năm 2014). "[Past And Present] The Youngest But A Strong Baby, Seungri". BNTNews UK. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2016.
  27. ^ "Biography of Big Bang :: Korean Boyband". www.ib-article.com. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016.
  28. ^ a b "Big Bang Profile". KBS World. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010.
  29. ^ Kim, So-Ra (ngày 7 tháng 7 năm 2006). '준비된 그룹' 빅뱅, 대폭발 예고 [Ready group Big Bang announces big explosion] (bằng tiếng Hàn). Sports Chosun. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010.
  30. ^ Kang, Seung-hoon (ngày 4 tháng 8 năm 2006). 빅뱅, 다큐 곰TV 조회 1백만건 넘어 '역시! 빅뱅' [Big Bang's Gom tv documentary over 1 million views. 'A Big Bang!']. MyDaily. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  31. ^ Jung, Hyuk Lee (ngày 21 tháng 8 năm 2006). 올 최고 기대주 빅뱅, 9월 중순부터 본격 활동 개시 [Big Bang in the best anticipation of the year. Full-scale activity starts from the middle of september] (bằng tiếng Hàn). Sports Chosun. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010.
  32. ^ "Big Bang Profile". KBS World. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010.
  33. ^ a b c "2007. 가요음반 판매량" [February 2007 – Music Album Sales] (bằng tiếng Hàn). Music Industry Association of Korea. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008.
  34. ^ a b Kim, Won-kyoung (ngày 8 tháng 10 năm 2010). 빅뱅 '거짓말', 싸이월드 최초 2회연속 '이달의 노래' [Big Bang's "Lies", first song to win two consecutives Cyworld's Song of the Month awards]. Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  35. ^ Park, Mi-ae (ngày 2 tháng 3 năm 2007). 빅뱅 1st 콘서트, MTV 통해 독점 공개 [Big Bang 1st concert, exclusive release through MTV]. Naver. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2017.
  36. ^ "2007. 10 월 – 가요음반 판매량" [October 2007 – Music Album Sales] (bằng tiếng Hàn). Music Industry Association of Korea. ngày 18 tháng 5 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2017.
  37. ^ "2007.총결산 판매량" [2007 Year-end Album Sales] (bằng tiếng Hàn). Music Industry Association of Korea. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2008.
  38. ^ a b Shamdasani, Pavan (ngày 9 tháng 11 năm 2009). "How to Crack Japan: The Big Bang Theory". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.
  39. ^ a b Kim, Mi-youngshin (ngày 17 tháng 8 năm 2007). 빅뱅, 'Always' 선주문 3만장 괴력 [Big Bang's 'Always' with pre-order of 30,000] (bằng tiếng Hàn). The Korea Economic Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2010.
  40. ^ a b "Big Bang's Showcase & First Fan Meeting". Arirang. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2008.
  41. ^ a b c d Park, Jung Sun (ngày 7 tháng 5 năm 2014). "[M+기획…'보이그룹 통계'②] 최장·최다 음원 1위 빅뱅, 견줄 그룹 없다". MBN Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  42. ^ Kim, Myung Shin (ngày 22 tháng 11 năm 2007). 빅뱅, '거짓말' 이어 신곡 '마지막 인사'로 인기 쾌속! [Big Bang's 'Lies' is being followed by the new fast and popular song 'Last Farewell'!]. The Korea Economic Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  43. ^ 빅뱅, 싸이월드 '이달의노래' 3관왕 [Big Bang, Cyworld's song of the month with 3 crowns]. Star News. ngày 8 tháng 1 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2017.
  44. ^ 빅뱅, 태국서 가는 곳마다 '인산인해'. Star News. ngày 13 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2017.
  45. ^ "Big Bang 1st and 2nd in Hanteo's Annual Album Sales Chart". Asianpopcorn. ngày 13 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011.
  46. ^ Kim, Ji-yeon (ngày 20 tháng 11 năm 2007). 빅뱅, 단독콘서트 티켓 또 10분만에 매진 [Big Bang's concert tickets sold out in another 10 minutes] (bằng tiếng Hàn). Star News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008.
  47. ^ Kim, Hyung Woo (ngày 20 tháng 11 năm 2007). 빅뱅 단독콘서트 티켓 5천석 10분 만에 매진 [Big Bang's concert tickets with 5,000 seats sold out in 10 minutes] (bằng tiếng Hàn). Newsen. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008.
  48. ^ Kim, Wong Young (ngày 31 tháng 12 năm 2007). 빅뱅, 멤버들 줄부상에 일시 활동중단 [Big Bang, String of Member Injuries Cause Break in Schedule] (bằng tiếng Hàn). Star News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2008.
  49. ^ "Big Bang's Albums in Short Supply". KBS World. ngày 26 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008.
  50. ^ Kang, Jihoon (ngày 26 tháng 12 năm 2007). 빅뱅 '올해의 노래'-슈주 '올해의 가수'...MKMF '아이돌 천하'(종합) ["Big Bang 'Song of the Year', Super Junior 'Artist of the Year'...MKMF: 'Idol Reign' (Updated)")] (bằng tiếng Hàn). Nate. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2007.
  51. ^ "Big Bang Wins Pop Music Award". KBS Global. ngày 21 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008.
  52. ^ a b c 빅뱅 올 360억원 대박 쳤다 (bằng tiếng Hàn). Nate. ngày 11 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2010.
  53. ^ Kim, Hyung Woo (ngày 5 tháng 2 năm 2008). 빅뱅 일본진출 멤버 이름 바꿔 활동 (bằng tiếng Hàn). IS Plus. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2010.
  54. ^ Kim, Sung Win (ngày 14 tháng 2 năm 2008). 빅뱅, '오리콘 차트' 이름 올리다 [Big Bang, putting their name up on 'Oricon Chart'] (bằng tiếng Hàn). Hankooki. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008.
  55. ^ 2008년 9월 가요순위건 [September 2008 – Music sales ranking] (bằng tiếng Hàn). Music Industry Association of Korea. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
  56. ^ "Big Bang Signs Modeling Contract with FILA Korea". KBS Global. ngày 8 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  57. ^ a b Park, Seoyoung (ngày 4 tháng 11 năm 2008). 빅뱅 정규2집 '리멤버' 선주문 20만장 넘었다! 8일 본격 활동개시 (bằng tiếng Hàn). Newsen. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010.
  58. ^ 이문세, "빅뱅 '붉은 노을' 가장 좋아" 극찬. Chsoun.com (bằng tiếng Hàn). ngày 8 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  59. ^ "2008 Mnet KM Music Festival" (bằng tiếng Hàn). MKMF. ngày 8 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010.
  60. ^ Cho, Jihyun (ngày 15 tháng 12 năm 2009). "2NE1 Picked Artist of the Year by Mnet". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2010.
  61. ^ Kim, Hyung Woo (ngày 28 tháng 4 năm 2009). 빅뱅-2NE1 '롤리팝' 엠넷차트 4주연속 1위 기염 [Big Bang-2NE1 'Lollipop' ranked #1 for 4 consecutive weeks by Mnet Chart] (bằng tiếng Hàn). Newsen. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2009.
  62. ^ "Big Bang's Third Single" (bằng tiếng Nhật). The Chosun Ilbo & Chosunonline. ngày 4 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2009.
  63. ^ Sekiguti, Ken (ngày 6 tháng 11 năm 2009). "「おひとりさま」主題歌など人気急上昇 Bigbang の魅力をたっぷりと" [Ohitorisama: Plenty of the charm of BIGBANG, whose theme song is rising rapidly] (bằng tiếng Nhật). RBB Today. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009.
  64. ^ "Big Bang Releases – Oricon Style Music" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009.
  65. ^ a b "Big Bang Releases – Oricon Style Music2" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2009.
  66. ^ Han, Sang-hee (ngày 16 tháng 12 năm 2009). "Big Bang to Hold Big Show in January". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010.
  67. ^ Han, Sang-hee (ngày 5 tháng 1 năm 2009). "Idol Group Big Bang to Offer 'Big Show". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010.
  68. ^ 日언론 "'2관왕' 빅뱅, 동방신기 따라잡을 기세" (bằng tiếng Hàn). Newsen. ngày 30 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010.
  69. ^ Kim, Hyung Woo (ngày 25 tháng 8 năm 2010). 빅뱅 25일 日 5번째 싱글 발표 '韓 아이돌 열풍 이끄나' (bằng tiếng Hàn). Newsen. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2010.
  70. ^ "BIGBANGが初の日本ドラマ曲" [BIGBANG in the first Japanese drama song]. Tokyo Graph. ngày 15 tháng 10 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2009.
  71. ^ Han, Sang-hee (ngày 16 tháng 10 năm 2009). "Big Bang Will Sing Opening Theme for Japanese Drama". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010.
  72. ^ Nam, Anwoo (ngày 16 tháng 10 năm 2009). 빅뱅, 데뷔 첫 일본 드라마 OST 참여 (bằng tiếng Hàn). MyDaily. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010.
  73. ^ a b 유인나, 한솥밥 YG 빅뱅 뮤비 '텔미 굿바이' 출연. Newsen (bằng tiếng Hàn). Joins.com. ngày 20 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2010.
  74. ^ a b Hong, Lucia (ngày 22 tháng 11 năm 2010). "Big Bang to receive honor at Japan Record Awards". 10asiae. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011.
  75. ^ Kappatou, Dorina (ngày 11 tháng 8 năm 2011). "Ποιοι είναι οι Big Bang που έκαναν την έκπληξη στα EMA Awards του MTV! | MusicCorner.gr" [Who are the Big Bang that made the surprise at the MTV EMA Awards! | MusicCorner.gr]. Music Corner (bằng tiếng Hy Lạp). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  76. ^ Hou, Jingjia (ngày 18 tháng 2 năm 2010). 빅뱅 신곡 '롤리팝Pt.2' 공개해보니··· (bằng tiếng Hàn). KW News. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010.
  77. ^ Cho, Sangwon (ngày 16 tháng 5 năm 2010). 빅뱅-김연아-트랜스픽션 월드컵 응원가 '승리의 함성' 공개 (bằng tiếng Hàn). KW News. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2010.
  78. ^ Kim, Hyung Woo (ngày 21 tháng 1 năm 2010). 탑, 빅뱅 단독공연서 솔로곡 깜짝 발표. Star News (bằng tiếng Hàn). Star News. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  79. ^ "G-Dragon and Top to Release Duet Album in December". KBS World. ngày 30 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  80. ^ a b "The Japan Gold Disc Award 2010 – Past Award". RIAJ (bằng tiếng Nhật). Japan Gold Disc Award. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010.
  81. ^ "Korean boom hits the Japan Record Awards with Big Bang". Japan Today. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011.
  82. ^ a b 빅뱅'MTV 뮤직 어워드 재팬'3관왕 (bằng tiếng Hàn). iTimes. ngày 30 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2010.
  83. ^ Kim, Sunny (ngày 6 tháng 12 năm 2010). "Big Bang's Concert 2011 Big Show To Be Held In February!". MTV Korea. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010.
  84. ^ Lee, Soo-yeon (ngày 26 tháng 2 năm 2011). 컴백 빅뱅, 엠넷 '빅뱅TV 라이브' 전격 방송 '6곡 최초 공개'. Newsen. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  85. ^ Kim, Sung (ngày 22 tháng 2 năm 2011). 빅뱅, 예약 판매 서태지 넘었다 [Big Bang sells 10,000 albums in pre-sales, doubles Seo Taiji and TVXQ's records] (bằng tiếng Hàn). Nate. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2011.
  86. ^ Cho, Euna-young (ngày 1 tháng 3 năm 2011). 빅뱅, 오늘 음반판매 10만장 돌파..음원도 돌풍 [Big Bang surpasses 100,000 records sales today. Sound source blast]. OSEN (bằng tiếng Hàn). The Chosun Ilbo. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2011.
  87. ^ Choi, Jun (ngày 28 tháng 2 năm 2011). '더빅뱅쇼' 빅뱅, 2년 3개월만에 공중파 첫 선··'강렬+파격' (bằng tiếng Hàn). 10asiae. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  88. ^ Kil, Hyeseung (ngày 2 tháng 3 năm 2011). '첫방도 안한' 빅뱅, 컴백 6일만에 매출 '70억' (Big Bang totals 7 billion won in sales prior to official promotions) (bằng tiếng Hàn). Star News. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2011.
  89. ^ 2011년 11주차 Digital Chart. Korea Music Content Industry Association. ngày 4 tháng 3 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  90. ^ 2011년 17주차 Digital Chart. Gaon Digital Chart. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  91. ^ "Bigbang presents Love&Hope (Bigbang 'Love&Hope' tour to mobilize over 90,000 fans)" (bằng tiếng Hàn). YG Entertainment. ngày 2 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011.
  92. ^ Gye, Hye Sung (ngày 20 tháng 5 năm 2011). 빅뱅, 日투어 10만팬 몰렸다… 오늘 귀국. Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2017.
  93. ^ Mukasa, Edwina (ngày 15 tháng 12 năm 2011). "Bored by Cowell pop? Try K-pop". Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2012.
  94. ^ Cha, Frances (ngày 5 tháng 12 năm 2011). "Gallery: YG Family 15th Anniversary Concert". CNN Travel. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  95. ^ Kim, Mi-Jung (ngày 10 tháng 2 năm 2012). 빅뱅 하루 수입 2억 원? '걸어다니는 기업 수준' [Big Bang's income of 200 million won a day? 'Walking company level']. TV Report (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  96. ^ Kim, Won-kyoung (ngày 27 tháng 2 năm 2012). 빅뱅 새앨범 선주문 26만장 (bằng tiếng Hàn). Nate. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2016.
  97. ^ Park, Young-woong (ngày 22 tháng 2 năm 2012). "Big Bang jumps to top on music charts with its new song Blue". Star News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012.
  98. ^ "Gaon Digital Chart". Gaon Chart. ngày 29 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015.
  99. ^ a b Xu, Tina (ngày 24 tháng 12 năm 2012). "The 40 Best Songs of 2012: Fuse Staff Picks". FUSE. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2013.
  100. ^ "2012 Digital Chart Week 11". Gaon Chart. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2016.
  101. ^ "BIGBANG – FANTASTIC BABY M/V". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2017 – qua www.youtube.com.
  102. ^ "K-Pop Hot 100: Bigbang Is Unstoppable". Billboard. ngày 13 tháng 3 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2017.
  103. ^ a b Mahr, Krista (ngày 7 tháng 3 năm 2012). "South Korea's Greatest Export: How K-Pop's Rocking the World". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012.
  104. ^ "K-Pop Explosion". Grammy. ngày 28 tháng 9 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2012.
  105. ^ Lo, Ricky (ngày 24 tháng 9 năm 2012). "Ready for Bigbang?". The Philippine Star. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2017.
  106. ^ "YG Entertainment and Live Nation proudly announce the Bigbang Alive Tour 2012!". Bigbang's Facebook. ngày 29 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2017.
  107. ^ Mahlmeister, Chrissy (ngày 14 tháng 3 năm 2012). "Big Bang Pairs Up With Laurieann Gibson". MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2017.
  108. ^ Bae, Soo-min (ngày 23 tháng 1 năm 2013). "Big Bang to release 'Alive Tour in Seoul' DVD". The Korea Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  109. ^ "Big Bang headed for MTV program". Korea JoongAng Daily. ngày 19 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  110. ^ "Bigbang Alive Galaxy Tour 2012 Comes To U.S. With Two Confirmed Arena Dates". PR Newswire. ngày 17 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2017.
  111. ^ Ho, Stewart (ngày 4 tháng 10 năm 2012). "Big Bang Adds 2 More Concert Dates in America Due to Heavy Demand". Yahoo! Philippines. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2017.
  112. ^ a b Gye, Hye Sung (ngày 13 tháng 12 năm 2012). '월드투어' 빅뱅, 英웸블리아레나 추가공연 매진. Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2017.
  113. ^ Ho, Stewart (ngày 10 tháng 9 năm 2012). "Big Bang Becomes First 3-Dome Concert Performing K-Pop Artist". Mwave. CJ DigitalMusic. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  114. ^ "Bigbang is Back!全世界待望、2012年完全復活のニュー・アルバム3月28日リリース!!" (bằng tiếng Nhật). YGEX. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012.
  115. ^ a b "Big Bang's "Alive" Japan Version Gets RIAJ Gold Certification – Over 100,000 Copies Sold". Recording Industry Association of Japan (RIAJ). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015.
  116. ^ a b Ho, Stewart (ngày 15 tháng 7 năm 2012). "Big Bang is King of Album Sales in Korea for the First Half of 2012". M! Wave. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  117. ^ "Springroove 2012 – Lineup". Creativeman Productions. ngày 22 tháng 11 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2012.
  118. ^ Gruger, William (ngày 7 tháng 6 năm 2012). "Big Bang's 'Alive' and Well on Billboard's Social 50 Chart". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015.
  119. ^ "Winners from the '2012 Mnet Asian Music Awards'". Mnet. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012.
  120. ^ "Big Bang Wins 'Best Fan' MTV TRL Award In Italy". MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012.
  121. ^ Jin, Eun-soo (ngày 15 tháng 1 năm 2014). "Big Bang breaks records with Japan tour". Korea JoongAng Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  122. ^ "Big Bang Japan Dome Tour gathered 770,000 Fans". KBS World. ngày 14 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  123. ^ Oinam, Jayanta (ngày 4 tháng 10 năm 2014). "Incheon Asian Games: Closing Ceremony – As it happened". Zee News. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  124. ^ Kim, Boram; Yoo, Jee-ho (ngày 4 tháng 10 năm 2014). "(Lead) (Asiad) Incheon bids farewell to Asia as curtain falls after 16 days". Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  125. ^ "Korean group Big Bang finish 5-dome tour, drawing 740,000 fans". Japan Today. ngày 20 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  126. ^ Lee, Jin-ho (ngày 7 tháng 11 năm 2014). "Big Bang revealed as Korean artist that attracted most concert spectators in Japan in 2014". CJ E&M enewsWorld. Yahoo! Singapore. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  127. ^ Kim, Young-jin (ngày 5 tháng 5 năm 2015). [인터뷰] 빅뱅 "슬럼프 있었지만…해결책은 '빅뱅'이었다". Asia Today (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2018.
  128. ^ Hong, Grace Danbi (ngày 24 tháng 4 năm 2015). "Big Bang Unveils Plan of ′Made′ Series for Upcoming Album". MWAVE. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015.
  129. ^ Benjamin, Jeff (ngày 8 tháng 5 năm 2015). "Bigbang Occupy Top Two Slots on World Digital Songs Chart". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2015.
  130. ^ a b "[30th골든] 빅뱅, '골든' 음원 대상…박진영·소녀시대·씨스타 등 수상". Joins.com (bằng tiếng Hàn). JoongAng Ilbo. ngày 20 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2017.
  131. ^ a b Dunbar, Jon (tháng 3 năm 2016). "Big Bang's 'Bae Bae' awarded Song of the Year at KMA". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016.
  132. ^ Oak, Jessica; Benjamin, Jeff (ngày 30 tháng 12 năm 2015). "The 20 Best K-Pop Songs of 2015". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016.
  133. ^ Benjamin, Jeff (ngày 11 tháng 6 năm 2015). "Bigbang Own Top Two Slots on World Digital Songs...Again!". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2015.
  134. ^ a b "Most "daesang" ("grand prize") awards won at the Mnet Asian Music Awards". Guinness World Records. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
  135. ^ "2015 Year End Digital Chart". Gaon Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2017.
  136. ^ "World Digital Song Sales : Page 1 | Billboard". Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2016.
  137. ^ 2015년 28주차 Digital Chart. Gaon Chart. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  138. ^ "Bigbang Counts Down for "Zutter" & "Let's Not Fall In Love" With Fans". ngày 2 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017.
  139. ^ "World Digital Songs". Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2015.
  140. ^ 2015년 33주차 Digital Chart. Gaon Chart. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  141. ^ 빅뱅 수익, 앨범 판매+월드 투어 등으로 올해 1500억 벌었다?. The Dong-A Ilbo. ngày 15 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  142. ^ "Bigbang postpones 'Made' Album Release Date; Boy Band Working on Next Album?". International Business Times. ngày 19 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2015.
  143. ^ E., Maolen (ngày 18 tháng 5 năm 2016). "Big Bang to hit 8 more cities in China for '2016 Big Bang Made [V.I.P] Tour'". Yibada. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016.
  144. ^ 演唱会年报(四):韩国歌手活跃度下降,港台老牌歌手仍是市场主角 (bằng tiếng Trung). Weidu8. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2016.
  145. ^ Park, Sojung (ngày 5 tháng 2 năm 2016). "BigBang to launch China tour in March". Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  146. ^ a b c "Bigbang fascinated 280,000 fans in Japan… Japan event tour successfully ended". Yg-Life. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2016.
  147. ^ "Bigbang Fanclub Event ~ Fantastic Babys 2016~". YGEX. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2016.
  148. ^ "Bigbang10". bigbang10.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2016.
  149. ^ Doo, Rumy (ngày 2 tháng 6 năm 2016). "BigBang to release World Tour movie". asiaone. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2016.
  150. ^ Son, Angela (ngày 30 tháng 6 năm 2016). "'BigBang Made' Movie Premieres Today [Watch]". Fashion Style. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  151. ^ "BigBang dazzles 65,000 fans at 10th anniversary concert". Yonhap News Agency. ngày 20 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2016.
  152. ^ "Bigbang is to Hold a Live Stadium Concert in Japan for 110,000 Fans to Celebrate their 10th Anniversary". YG Life. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2016.
  153. ^ "Bigbang will hold 10th anniversary concert 0.TO.10 on August 20… Confirmed". YG Life. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2016.
  154. ^ "Bigbang 、ドームツアー追加公演決定&ツアータイトル発表". Japan Music Network. ngày 7 tháng 9 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2016.
  155. ^ "Bigbang to Hold Dome Tour in Japan for Fourth Consecutive Year". YG Life. ngày 28 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016.
  156. ^ "コンサート動員力 Bigbang が1位、続く嵐、関ジャニ". Nikkei Style. ngày 7 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2016.
  157. ^ Woo, Jae-yeon (ngày 23 tháng 1 năm 2017). "Bigbang finishes global tour in HK, attracting 1.1 mln from 6 cities". Yonhap News Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2017.
  158. ^ "Bigbang hosts an exhibition to celebrate 10th anniversary of their debut… "Shows Bigbang's past, present, and future"". YG Life. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2016.
  159. ^ "Bigbang to Hold Exhibition around the Globe Starting with One in Taiwan". YG Life. YG Entertainment. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2017.
  160. ^ "Bigbang – Made Full Album Teaser". YG Life. ngày 22 tháng 11 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  161. ^ Won, Won (ngày 6 tháng 12 năm 2016). 빅뱅 신곡 제목은 '에라 모르겠다'…GD·탑·테디 공동작업. MyDaily. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  162. ^ a b Lee, Mihyun (ngày 7 tháng 12 năm 2016). "'D-5' 빅뱅, 두 번째 타이틀곡은 '라스트 댄스'…"R&B 슬로우 곡"". JoongAng Ilbo. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  163. ^ "2016 Gaon Digital Chart- Week 51". Gaon Music Chart. ngày 22 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2016.
  164. ^ "2016 Gaon Download Chart- Week 51". Gaon Music Chart. ngày 22 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2016.
  165. ^ a b Benjamin, Jeff (ngày 19 tháng 12 năm 2016). "Bigbang's 'Made' Album Enters Billboard 200, K-Pop Group's 2nd Entry". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016.
  166. ^ "Bigbang Sweeps China by Becoming No. 1 on Four QQ Music Charts". Yg Life. ngày 14 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016.
  167. ^ [안내] 12월 23일 Bigbang Made – The Full Album 발매 안내!. YG Entertainment. ngày 9 tháng 12 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2016.
  168. ^ "2016 Gaon Album Chart – Week 52". Gaon. ngày 29 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2016.
  169. ^ a b "Bigbang will meet fans at Gocheok Dome in Seoul in January next year… "Confirmed to hold concert" (Official)". YG LIFE. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016.
  170. ^ Choi, R. (ngày 10 tháng 2 năm 2017). "T.O.P and Kim Jun-su begin military service". Korea JoongAng Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  171. ^ [단독] 빅뱅 "공백은 없다"…4인체제로 亞투어. The Dong-A Ilbo (bằng tiếng Hàn). ngày 15 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  172. ^ a b Lee, Eun Jung (ngày 8 tháng 8 năm 2017). 빅뱅, 5년 연속 日 돔투어…해외 아티스트 첫 기록. Yonhap News Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2017.
  173. ^ "BIGBANG、『LAST DANCE』ツアー開幕「悲しまないで」". Oricon News. ngày 20 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2017.
  174. ^ "Big Bang to hold year-end concert at Gocheok Sky Dome". Kpop Herald. ngày 19 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2018.
  175. ^ "YG's Variety Contents Contain Various Subjects + Diversified Platforms". YG Life. YG Entertainment. ngày 6 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2018.
  176. ^ "(LEAD) G-Dragon of BIGBANG starts mandatory military service". Yonhap News Agency. ngày 27 tháng 2 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2020.
  177. ^ "BIGBANG's lead singer Taeyang to start military service". The Jakarta Post. ngày 12 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2019.
  178. ^ "(LEAD) Daesung fourth BIGBANG member to enter into military". Yonhap News Agency. msn.com. ngày 13 tháng 3 năm 2018.
  179. ^ [단독] 승리, 25일 육군 현역 입대 "의경 포기". Naver News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2019.
  180. ^ Herman, Tamar (ngày 13 tháng 3 năm 2018). "K-Pop Icons BIGBANG Walk the 'Flower Road' In Final Single Before Hiatus". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2018.
  181. ^ Sung, Ji-eun (ngày 17 tháng 3 năm 2018). "Big Bang's 'Flower Road' tops Chinese charts". Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2019.
  182. ^ "BIGBANG Score Fourth No. 1 on World Digital Song Sales Chart With 'Flower Road'". Billboard. ngày 21 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2018.
  183. ^ 빅뱅, 갓세븐, 워너원, 벚꽃 엔딩 [Big Bang, Got7, Wanna One, Cherry Blossom Ending] (bằng tiếng Hàn). Gaon Chart. ngày 26 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2018.
  184. ^ "Big Bang's Seungri announces retirement amid controversy". ABS-CBN News. ngày 11 tháng 3 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2019.
  185. ^ 빅뱅 탑, 오늘(6일) 근무 후 소집해제…YG 측 "조용히 귀가할 것". Naver TV (bằng tiếng Hàn). ngày 6 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2019.
  186. ^ 지드래곤, 3천팬 응원 속 전역…"군인 아닌 본업으로 돌아가 충실히 임하겠다" [종합]. Xsports News (bằng tiếng Hàn). ngày 26 tháng 10 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2019.
  187. ^ "YG 측 "빅뱅 태양-대성, 돼지열병 관계로 10일 용인서 전역"[공식입장]". Edaily (bằng tiếng Hàn). ngày 10 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2019.
  188. ^ Herman, Tamar (ngày 3 tháng 1 năm 2020). "BIGBANG Set to End Hiatus with Coachella Announcement". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2020.
  189. ^ [단독] 4인 빅뱅, YG와 함께 가나…재계약 '긍정적'. The Korea Economic Daily (bằng tiếng Hàn). Naver News. ngày 3 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2020.
  190. ^ Kim, Ga-young (ngày 10 tháng 3 năm 2020). 빅뱅, YG엔터테인먼트와 세번째 재계약 [공식입장]. Edaily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2020.
  191. ^ "YG "빅뱅, 올봄 신곡 발표 예정…탑 전속계약 종료" [공식]" [YG 'Big Bang to release a new song this spring … T.O.P exclusive contract ends' [Official]]. MyDaily (bằng tiếng Hàn). Naver. ngày 7 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2022.
  192. ^ Feeney, John (ngày 20 tháng 3 năm 2022). "Big Bang announces April release date for comeback single and music video". Lifestyle Asia Hong Kong. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2022.
  193. ^ 빅뱅(BIGBANG), 컴백 타이틀 '봄여름가을겨울' 포스터 공개 [Big Bang unveils comeback title 'Spring Summer Autumn Winter' poster] (bằng tiếng Hàn). Top Star News. ngày 23 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2022.
  194. ^ 빅뱅 '봄여름가을겨울' 가온차트 6관왕…아이브 '러브 다이브'는 앨범차트 1위 [Big Bang's 'Spring Summer Fall Winter' won 6 Gaon Charts]. The Seoul Economy Daily (bằng tiếng Hàn). ngày 14 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2022.
  195. ^ 빅뱅 '봄여름가을겨울', 빌보드 최상위권 진입 [BIGBANG's 'Spring, Summer, Fall, Winter' tops the Billboard charts]. Maeil Business Newspaper (bằng tiếng Hàn). ngày 12 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2022.
  196. ^ "Hong Kong Songs: Week of April 16, 2022". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2022.
  197. ^ "Top 20 Most Streamed International Singles In Malaysia – Week 14". Recording Industry Association of Malaysia. April 1–7, 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2022 – qua Facebook.
  198. ^ "RIAS Top Charts Week 14 (1–7 Apr 2022)". ngày 29 tháng 3 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2022.
  199. ^ "Billboard Vietnam Hot 100". Billboard Việt Nam. ngày 14 tháng 4 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2022.
  200. ^ "Taiwan Songs: Week of April 16, 2022". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2022.
  201. ^ "The ARIA Report: Week Commencing 11 April 2022". The ARIA Report. Số 1675. Australian Recording Industry Association. ngày 11 tháng 4 năm 2022. tr. 23.
  202. ^ "Indonesia Songs: Week of April 16, 2022". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2022.
  203. ^ "NZ Hot Singles Chart". Recorded Music NZ. ngày 11 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2022.
  204. ^ "Dutch Global 40 – Week 16". Dutch Top 40. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2022.
  205. ^ Kim Minji (ngày 27 tháng 12 năm 2022). 탑·태양 이어 대성도 YG와 계약 종료…"빅뱅은 변함 없어" [공식] [After T.O.P and Taeyang, Daesung also terminated the contract with YG… "Big Bang never changes" [Official]]. News (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2022 – qua Naver.
  206. ^ Lee, Yoon-seo (ngày 16 tháng 1 năm 2025). "Drug scene 'embarrassing' for 'Squid Game' actor Choi Seung-hyun, formerly Big Bang's T.O.P". The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2025.
  207. ^ "YG "지드래곤과 전속계약 만료…별도 계약 통해 협력 중" [공식]". Naver. ngày 6 tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2023.
  208. ^ 빅뱅, 물 건너간 완전체?…과감히 프로필 삭제한 YG, 블랙핑크는? [엑's 이슈]. XSports News. ngày 12 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2024.
  209. ^ "Seventeen wins big; BIGBANG reunites for iconic performance at 2024 MAMA Awards". The Korea Times (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2024.
  210. ^ "K-pop boy band BigBang to make Coachella debut in 2026". The Straits Times (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 9 năm 2025. ISSN 0585-3923. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2025.
  211. ^ Daily, The Chosun (ngày 16 tháng 9 năm 2025). "BIGBANG confirmed for 2026 Coachella, 20th anniversary". The Chosun Daily (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2025.
  212. ^ "빅뱅 20주년 글로벌 투어 확정…양현석 "완벽한 공연 만들겠다"" [BIGBANG 20th Anniversary Global Tour Confirmed... Yang Hyun-suk: "We Will Make a Perfect Show"]. Kuki News (bằng tiếng Hàn). ngày 4 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
  213. ^ Lipshutz, Jason (ngày 19 tháng 4 năm 2026). "K-Pop Icons BIGBANG Announce 20th Anniversary World Tour Following Surprise Coachella Return". The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  214. ^ 지, 민경 (ngày 7 tháng 7 năm 2026). "빅뱅, 4년 만의 신곡→20주년 월드투어까지..하반기 신드롬 예고 [Oh!쎈 펀치]". osen.co.kr (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  215. ^ Hancocks, Paula (ngày 31 tháng 8 năm 2017). "Will South Korea's military service derail K-pop mega-group Big Bang?". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2016.
  216. ^ a b Herman, Tamar (ngày 23 tháng 12 năm 2016). "The 10 Best Bigbang Songs: Critics' Picks". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2017.
  217. ^ a b c Herman, Tamar (ngày 19 tháng 8 năm 2016). "Happy 10-Year Anniversary, Bigbang! 10 Must-Listen Songs from the Boy Band". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2016.
  218. ^ a b c "筆頭はあらゆる表現を駆使する Bigbang !" (bằng tiếng Nhật). Yahoo! Japan. ngày 21 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  219. ^ Xu, Tina; Benjamin, Jeff (ngày 19 tháng 8 năm 2016). "11 Bigbang Songs That Deserve More Love – "Ma Girl" (2006)". Fuse. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016.
  220. ^ Xu, Tina; Benjamin, Jeff (ngày 19 tháng 8 năm 2016). "11 Bigbang Songs That Deserve More Love – "Next Day" (2006)". Fuse. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016.
  221. ^ Kim, Wong Young (ngày 28 tháng 2 năm 2008). 빅뱅·BEG·쥬얼리…가요계 대세는 '일렉트로니카' [Big Bang, Brown Eyed Girls, Jewelry... The trend of J-pop 'Electronica'] (bằng tiếng Hàn). Star News. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008.
  222. ^ Xu, Tina; Benjamin, Jeff (ngày 19 tháng 8 năm 2016). "11 Bigbang Songs That Deserve More Love – "Fool" (2007)". Fuse. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016.
  223. ^ Kim, Mi-youngshin (ngày 8 tháng 8 năm 2008). 빅뱅, 3집 컴백과 동시에 타이틀곡 '하루하루'와 M/V 화제!. The Korea Economic Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  224. ^ Rivera, Nicole (ngày 29 tháng 2 năm 2012). "Big Bang – "Alive"". Pop Reviews Now. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015.
  225. ^ a b Miller, Kaitlin (ngày 5 tháng 2 năm 2016). "Big Bang's 10 best songs of the past 10 years". Sun-Times. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  226. ^ Chen, Adrian (ngày 9 tháng 3 năm 2012). "The Real Perfect New Pop Song Is This K-Pop Hit, 'Bad Boy'". Gawker. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  227. ^ a b Benjamin, Jeff (ngày 12 tháng 12 năm 2016). "Bigbang Finally Release 'Made' Album with Career-Exemplifying 'Fxxk It' and 'Last Dance' Videos". fuse. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015.
  228. ^ "BIGBANG – MADE: Album Review". IZM (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2017.
  229. ^ Halon, Joelle (ngày 9 tháng 6 năm 2015). "Album Review Tuesday: Big Bang Made Series 'A'". Kcrush Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2016.
  230. ^ a b Herman, Tamar (ngày 23 tháng 8 năm 2015). "K-Pop Mixtape: 9 Most Definitive Big Bang Songs". KpopStarz. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2016.
  231. ^ a b "The 100 Greatest K-Pop Songs of the 2010s: Staff List". Billboard. ngày 25 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.
  232. ^ Xu, Tina; Benjamin, Jeff (ngày 19 tháng 8 năm 2016). "11 Bigbang Songs That Deserve More Love – "Let's Not Fall in Love" (2015)". Fuse. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016.
  233. ^ a b c Herman, Tamar (ngày 14 tháng 12 năm 2016). "Bigbang Releases 3 New Songs Ahead of T.O.P's South Korean Military Service". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2016.
  234. ^ Han, Sang-hee (ngày 28 tháng 4 năm 2009). "Young Singers Jumping Into Trot Genre". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  235. ^ 新스타고백 지드래곤⑫"솔로앨범, 저한테는 도박이었죠". 10asiae (bằng tiếng Hàn). ngày 11 tháng 2 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  236. ^ Mccurry, Justin (ngày 28 tháng 9 năm 2012). "K-pop stars: the lowdown on South Korean pop". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012.
  237. ^ a b c d Fifield, Anna (ngày 3 tháng 3 năm 2016). "They're the biggest band in Asia, but Big Bang's days may be numbered". The Washington Post (bằng tiếng Anh). ISSN 0190-8286. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016.
  238. ^ "The Rise of South Korea's Big Bang". Sessions X (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2015.
  239. ^ a b Lee, Jong Min (ngày 14 tháng 3 năm 2011). 왜 다시 빅뱅인가 – 새 음반 판매 1주일 만에 10만장 돌파 2년3개월 공백 무색 아이돌 그룹 새 모델 개척. Chosun Weekly (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  240. ^ Kim, Eun-ae (ngày 11 tháng 3 năm 2020). 빅뱅, 코첼라・YG 재계약..새 음악 자체에 거는 기대(종합) [Big Bang contract renewal with YG, Coachella.. Expectations on new music itself (General)] (bằng tiếng Hàn). OSEN. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2020.
  241. ^ Herman, Tamar; Benjamin, Jeff. "25 K-Pop Love Songs for Valentine's Day". Billboard K-Town. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2017.
  242. ^ "Big Bang Takes a Sex Trip in "Bae Bae"". seoulbeats (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2016.
  243. ^ Benjamin, Jeff (ngày 1 tháng 5 năm 2015). "8 Reasons You Need to Pay Attention to Bigbang Right Now". Fuse. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2016.
  244. ^ "[Interview] Bigbang, "Our Favorite Song is 'the Next Song'"". YG Life. ngày 14 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  245. ^ "Big Bang's MV 'Sober' Imply Meaningful Message". Kpop Chart – English. ngày 3 tháng 7 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2016.
  246. ^ a b Lee, Sung-moo (ngày 28 tháng 10 năm 2009). "Is Plagiarism a New Genre?". The Korea Times (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2009.
  247. ^ Chung, Ah-young (ngày 13 tháng 2 năm 2009). "Big Bang Reveals Self-Fulfilment Strategies". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  248. ^ a b Kim, Wong Young (ngày 8 tháng 12 năm 2007). 빅뱅, '줄넘기춤'으로 국민댄스 도전 [Big Bang challenges national dance with 'Jump Jump Dance'] (bằng tiếng Hàn). Star News. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  249. ^ Chung, Ah-young (ngày 29 tháng 5 năm 2008). 오마리온 안무가 "빅뱅 태양, 엄청난 재능의 댄서" (bằng tiếng Hàn). Joy News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  250. ^ 탑 복근, 빅뱅 멤버 복근 중 제일 보기 힘들다? (bằng tiếng Hàn). JK News. ngày 3 tháng 1 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  251. ^ Kim, Sa-ra (ngày 17 tháng 6 năm 2015). 패리스 고블 "빅뱅, 대단한 사람들..작업 즐거웠다" [Parris Goebel: "Big Bang are great people.. I enjoyed working with them"]. OSEN (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016.
  252. ^ "Big Bang's 'Made' is Another Amazing Concert". Seoul Beats (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017.
  253. ^ Benjamin, Jeff; Oak, Jessica (ngày 21 tháng 2 năm 2013). "BIGBANG Reflect on Their World Tour in Exclusive Q&A". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017.
  254. ^ a b Shepherd, Julianne Escobedo (ngày 12 tháng 10 năm 2015). "Pyro, Confetti and Deep Lust with Bigbang, South Korea's Greatest Boy Band". The Muse. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017.
  255. ^ Fan, Jiayang (ngày 16 tháng 11 năm 2012). "K-Pop Escape". The New Yorker. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017.
  256. ^ Aiyar, Shreya (ngày 6 tháng 10 năm 2015). "K-pop group Big Bang leaves crowd starstruck at its Anaheim concert". Daily Bruin. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017.
  257. ^ Zimmer, Cindy (ngày 15 tháng 11 năm 2012). "Review: Big Bang Concert in New Jersey". ATK Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017.
  258. ^ Caramanica, Jon (ngày 9 tháng 11 năm 2012). "BigBang Performs at the Prudential Center". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012.
  259. ^ "#MCSAwards 2012 Results". Manila Concert. ngày 3 tháng 1 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015.
  260. ^ "Concierto de Big Bang en Lima elegido el mejor en Sudamérica en 2012" (bằng tiếng Tây Ban Nha). RPP Noticias. ngày 31 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  261. ^ Sullivan, Caroline (ngày 16 tháng 12 năm 2012). "Big Bang – review". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015.
  262. ^ Pareles, Jon (ngày 26 tháng 12 năm 2012). "Pop's Big Nights: The Best Concerts of 2012, as Seen by Times Critics". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015.
  263. ^ Caramanica, Jon (ngày 30 tháng 12 năm 2015). "All the Best Shows of what the Critics have seen". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2016.
  264. ^ Han, Sang-hee (ngày 3 tháng 1 năm 2008). "Big Bang Will Knock on Japan". The Korea Times. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  265. ^ "The 10 Most Stylish Boy Bands". H&M Magazine. ngày 20 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2016.
  266. ^ Pang, Lauren (ngày 10 tháng 2 năm 2010). "Big Bang shirts sell out, set Uniqlo sales record". Asia Pacific Arts. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  267. ^ Miller, Kaitlin (ngày 4 tháng 12 năm 2015). "Big Bang's 27 best fashion moments of 2015". Sun-Times. Sun-Times Media Group. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  268. ^ Kim, Jae-heun (ngày 4 tháng 9 năm 2016). "Exhibition marks 100 years of Korean fashion". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  269. ^ Benjamin, Jeff (ngày 1 tháng 6 năm 2015). "15 Fantastic Bigbang Fashion Moments". Fuse. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  270. ^ Jang, Woo Cheol (ngày 24 tháng 7 năm 2009). "Taeyang Interview". IB Times (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  271. ^ Park, Sang Suk (ngày 10 tháng 3 năm 2008). "Hot item of the trendiest Korean men" (bằng tiếng Hàn). Seoul News. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  272. ^ Kang, Jiyong (ngày 27 tháng 11 năm 2007). 빅뱅 G드래곤 "의상 전공에 욕심있다" [Big Bang's G-Dragon: I'm interested in majoring in fashion] (bằng tiếng Hàn). SSTV. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2008.
  273. ^ "Music — Made by 빅뱅 Big Bang". Beyond In-flight Magazine (ấn bản thứ 12). Korean Air. tháng 5 năm 2017. tr. 64. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2017.
  274. ^ Park, Ga-young (ngày 30 tháng 5 năm 2018). "YG Entertainment, fly or fail?". The Investor. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2018.
  275. ^ Lee, Kyunghee (ngày 10 tháng 10 năm 2013). 한국 힙합의 역사 [History of Korean Hip Hop]. Joins.com (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2016.
  276. ^ Kim, Jae-heun (ngày 10 tháng 11 năm 2016). "More K-pop idols active in producing music". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2016.
  277. ^ Lee, Eun-jung; Chung, Joo-won (ngày 22 tháng 8 năm 2016). "BigBang making highest waves of global K-Pop". Yonhap News Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  278. ^ "Korean pop firm YG Entertainment rallies on trade debut". BBC. ngày 23 tháng 11 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012.
  279. ^ Frost, Caroline (ngày 7 tháng 1 năm 2012). "MTV EMA Awards: Britney Spears Loses Out To Bigbang, Lady Gaga, Justin Bieber, Bruno Mars, Eminem All Winners". Huffington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012.
  280. ^ "YouTube to Launch Exclusive K-Pop Channel". The Chosun Ilbo. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012.
  281. ^ Mukasa, Edwina (ngày 15 tháng 12 năm 2011). "Bored by Cowell pop? Try K-pop". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014.
  282. ^ Peterson, Jacques (ngày 16 tháng 10 năm 2015). "On the edge of K-pop: boy band Big Bang's unique appeal". The Sydney Morning Herald. Fairfax Media. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  283. ^ "K-Pop". VisitKorea.or.kr. Korea Tourism Organization. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014.
  284. ^ Lee, Hyun-joo (ngày 27 tháng 1 năm 2010). 빅뱅 빅쇼, 한국관광산업 살찌운다 [Big Bang's "Big Show" Concert will improve Korea's Tourism]. Newsis (bằng tiếng Hàn). Naver. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  285. ^ "Stamps featuring BigBang to be issued in Korea, China, Japan". The Korea Herald. ngày 22 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2017.
  286. ^ Lee, Hana (ngày 3 tháng 8 năm 2016). "Big Bang appointed national 'Creative Icon'". Korea.net. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  287. ^ Feeney, Nolan (ngày 30 tháng 3 năm 2016). "K-This K-Pop Group Is Blowing Up the Time 100 Poll". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  288. ^ "Bigbang". Forbes Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2016.
  289. ^ Jackson, Julie (ngày 20 tháng 10 năm 2015). "The best of hallyu in 2 decades". The Korea Herald Business. Herald Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  290. ^ a b Lee, Ji-hoon; Lee, Hee-yoon; Jung, Yang-hwan (ngày 2 tháng 9 năm 2016). '반짝반짝 눈이 부셔'… 빅뱅-소녀시대 역대 최고 아이돌. The Dong-A Ilbo (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2017.
  291. ^ Kim, Yeonji; Kim, Jinseok; Hwang, Mihyeon (ngày 25 tháng 9 năm 2015). "[③엔터 파워피플30] 가수·배우 1위 "역시 빅뱅·전지현"". JTBC. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  292. ^ Yoon, Sung-hee (ngày 15 tháng 9 năm 2014). 대중음악계 10년史..최고 히트곡 톱10·연도별 190選. Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  293. ^ Jeff Benjamin (ngày 16 tháng 4 năm 2015). "New 'Pitch Perfect 2' Trailer Features BIGBANG's K-Pop Hit 'Fantastic Baby'". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  294. ^ Eddy, Chuck; Bevan, David (ngày 1 tháng 6 năm 2012). "The 21 Greatest K-Pop Songs of All Time | Spin – Page 2". Spin. Eldridge Industries. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2016.
  295. ^ Walters, Barry; Stevens, Kat; Johnston, Maura; Benjamin, Jeff; Murray, Nick; Spanos, Brittany (ngày 24 tháng 9 năm 2015). "50 Greatest Boy Band Songs of All Time". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017.
  296. ^ Breihan, Tom (ngày 22 tháng 3 năm 2012). "The 20 Best K-Pop Videos". Stereogum. Eldridge Industries. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2016.
  297. ^ [엠카운트다운] 10주년 특집! 최고의 순간은 계속된다 (bằng tiếng Hàn). Mnet. ngày 29 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  298. ^ "The 100 Greatest Music Videos of the 2010s: Staff Picks". Billboard. ngày 26 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.
  299. ^ Baek, Jong-mo (ngày 12 tháng 6 năm 2013). 방탄소년단 "힙합 아이돌로 성공한 빅뱅이 롤모델". Xsports News. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2013.
  300. ^ Rasul, Juliana June (ngày 26 tháng 4 năm 2012). "Pixie Lott is a K-pop fan". Asia One. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. Plotting a K-pop collaboration, she settled on working with the Big Bang boys, who were just as keen on partnering up with her. 'I became such a big fan of theirs, and when I heard that they wanted to collaborate as well, I was so excited,' said Lott.
  301. ^ James Walsh and Joseph 'JP' Patterson. "Sierra Leone's A*M*E Reps K-Pop to the Fullest". MTV Iggy. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2013. I first heard K-pop in about 2006, around three years after I moved to London. My older sister came across this group on YouTube called Big Bang, and introduced me to them. She told me to listen to it with an open mind, as they weren't singing in English. I absolutely loved it from the first moment. I was fascinated by the fact they weren't singing in a language I knew, yet I still felt as if I could understand and relate to it.
  302. ^ Gye, Hyeong-seong (ngày 16 tháng 3 năm 2011). 조PD, '디스'했던 GD 인정.."뮤지션역량 갖췄다" [Cho PD Praised Big Bang and G-Dragon Surprised the Public]. Kakao Corp. Daum. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  303. ^ Won, Won (ngày 16 tháng 3 năm 2011). 조PD "아이돌 가수도 빅뱅처럼 역량 갖춰야" 쓴소리. Kakao. Daum. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  304. ^ 갓세븐 '빅뱅 같은 국민그룹 되고 싶다'. Edaily. ngày 13 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2017.
  305. ^ Min, Kyung-hoon (ngày 18 tháng 8 năm 2015). '투비컨티뉴드' 아스트로 진진 "롤모델은 빅뱅, 개성 강하면서 시너지". Joins.com (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2017.
  306. ^ "Teen Top's Changjo & Ricky talks about Bigbang in Elle Girl Magazine". ngày 24 tháng 8 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017. If you asked us to pick a senior artist that we really admire, most of us would pick Big Bang. Before we shoot a music video, we try to imitate the gestures and expressions that they do. The angles that Taeyang sunbae-nim makes while dancing, and even the way he moves his mouth while wearing sunglasses.
  307. ^ Benjamin, Jeff (ngày 2 tháng 9 năm 2015). "Monsta X on Rookie Rivals & Why They're 'The Avengers' of K-Pop at KCON 2015 L.A.: Exclusive". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017. As group, it (who inspires Monsta X as a whole) would have to be Bigbang.
  308. ^ Hwang, Yuyoung (ngày 22 tháng 10 năm 2012). '인디계 서태지' 장기하 "롤모델 빅뱅, 메이저 가수 되고싶어". Newsen (bằng tiếng Hàn). JoongAng Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2017.
  309. ^ "SF9 "빅뱅 선배님 존경하고 사랑"..GD 모창까지". Star News. ngày 2 tháng 2 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2017.
  310. ^ [팝인터뷰②]빅톤 "롤모델이요? 빅뱅·비스트·방탄 선배님 존경합니다". Herald Pop. ngày 29 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2017.
  311. ^ Kim, Seongjin (ngày 17 tháng 11 năm 2015). '컴백' 다이나믹듀오, "빅뱅 패러디? 리스펙트하기 때문". MyDaily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  312. ^ Hwang, Jiyoung (ngày 1 tháng 2 năm 2017). [인터뷰①] 자이언티 "지드래곤 형 맞는데…". JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  313. ^ Hong, Grace Danbi (ngày 29 tháng 12 năm 2014). "Kpop News – Sonamoo Chooses Big Bang as Its Role Model | Mwave". mwave.interest.me. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016.
  314. ^ "Exclusive Interview with Topp Dogg". MCM Expo Group. MCM Buzz. ngày 23 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2016. We are inspired by Big Bang. We want to look up to their musical spectrum and performances, as well as their group and solo activities.
  315. ^ Ayuni, Sri (ngày 24 tháng 7 năm 2013). "Nu'est Concludes Successful Concert In Singapore, 'Even the Haze Couldn't Stop Them'". KpopStarz. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2016. I admire Big Bang because of their powerful performances on stage.
  316. ^ Interview with Mamamoo. Rainbowbridge World & Polish Kpop World. ngày 18 tháng 7 năm 2015. Sự kiện xảy ra vào lúc 3:20. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2016. I have respected Big Bang from since I was 14. In their music and fashion. I've learn a lot of things from them.
  317. ^ Kim, Eun-goo (ngày 12 tháng 3 năm 2017). '이달의 소녀 1/3' 비비 "홍콩서 빅뱅 뮤비 보고 가진 K팝 꿈" ['Loona 1/3' Vivi 'I had a K-pop dream in Hong Kong watching the MV of Big Bang']. Edaily (bằng tiếng Hàn). When I first saw the music videos of Big Bang and 2NE1 when I was in middle school, my dream was decided.
  318. ^ Jang, Yoon-jung (ngày 19 tháng 5 năm 2020). [종합] 시크릿넘버, 글로벌 겨냥한 다국적 완성형 걸그룹의 출발 [[General] Secret Number, the launch of a multinational, complete girl group targeting the global market]. Aju Economy. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2021.
  319. ^ B., Elsa (ngày 11 tháng 12 năm 2014). "Block B's U-Kwon Chooses Big Bang's Taeyang As His Role Model In Star1 Interview". KpopStarz. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016. From debut until now I've been his fan. Since seeing his constantly growing and developing appearance, it seems really impressive. I want to try making music that coolly incorporates elements of R&B like Taeyang sunbaenim does.
  320. ^ Sung, Yeol-yoon (ngày 19 tháng 2 năm 2016). [단독]아이콘 "빅뱅 선배들 좋은 본보기..최고가 되겠다"(직격인터뷰) [Exclusive: iKON says "BIGBANG is a good example for us… Will be the best" – Interview] (bằng tiếng Hàn). Star News. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016.
  321. ^ [인터뷰④] 블랙핑크 "YG·4인조 2NE1과 비교, 언제나 숙제". Star Today (bằng tiếng Hàn). ngày 22 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017.
  322. ^ Sơn Tùng M-TP (ngày 29 tháng 11 năm 2015). "Tập 1: Giấc mơ Underground" [Part 1: The Underground Dream]. Lần đầu tôi kể (Phỏng vấn). Phỏng vấn viên Bờ Vai. HTV2. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2021.
  323. ^ Hadfield, James (ngày 20 tháng 8 năm 2012). "Summer Sonic: Grimes interview". Time Out Tokyo. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  324. ^ Mukasa, Edwina (ngày 1 tháng 2 năm 2013). "G-Dragon – K-pop's golden boy". Dazed & Confused. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2013. Musically, Grimes provided one of her more fangirl moments on Twitter, writing "G Dragon i love you" and "G-Dragon is definitely the pinnacle of pop for me".
  325. ^ "Copycat of Big Bang Surfaces in China". The Korea Times. ngày 20 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2008.
  326. ^ Frances, Lai (ngày 23 tháng 2 năm 2016). "Filipino Singer-Actress Glaiza De Castro Finds Musical Inspiration Through Big Bang [Exclusive]". Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2016.
  327. ^ Yoon, Hye-kyung (ngày 27 tháng 8 năm 2016). 비와이, 빅뱅 '거짓말' 듣고 랩 하게 됐다. Insight. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  328. ^ [동영상] 소녀디바 아이유, 빅뱅의 '거짓말' 어쿠스틱버전 불러 화제!. The Chosum Ilbo (bằng tiếng Hàn). ngày 13 tháng 7 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017.
  329. ^ "The Korean wave hits New York | Manhattan, New York, NY | Local News". ngày 11 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  330. ^ Kim, Jin-woo (ngày 22 tháng 12 năm 2016). 동향_ 빅뱅 컴백과 시즌송 시장 부진. Gaon Chat (bằng tiếng Hàn). Korean Music Industry Association. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  331. ^ "Big Bang Wins Pop Music Award". KBS Global. ngày 21 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2008.
  332. ^ Kim, Han Jun (ngày 7 tháng 11 năm 2015). 빅뱅, '2015 MMA' 4관왕 영예…올해는 빅뱅의 해(종합). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  333. ^ Castillo, Justin (ngày 21 tháng 6 năm 2016). "Kpop News: Bigbang Grabs A Major Award From Italian MTV Award". Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2016.
  334. ^ Kim, Mi-Hwa; Yoon, Sung-Yeol; Mun, Wan-Sik; Gyu, Hye Sung (ngày 17 tháng 2 năm 2016). 제5회 가온K팝어워드, YG 음원-SM 음반 '초강세'..빅뱅·엑소 5관왕(종합). Star News. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  335. ^ "58th Japan Record Awards" (bằng tiếng Nhật). ngày 17 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2016.
  336. ^ Kim, Kwan-Myung (ngày 15 tháng 1 năm 2014). [디지털음원 10년, 톱 976곡]④최고히트 앨범은?. Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  337. ^ Kim, Kwan-myung (ngày 8 tháng 1 năm 2014). [디지털음원 10년, 톱 976곡]①최다히트 가수는?. Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  338. ^ "2015 Yearly Chart". Melon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2017.
  339. ^ "Another record bites the dust: BTS hit new milestone on the Melon charts". SBS. SBS PopAsia. ngày 5 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018.
  340. ^ "Melon Weekly Chart Archive". Melon. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2018.
  341. ^ "Hall of Fame". Cyworld Music. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2015.
  342. ^ Mrkic, Mike (ngày 26 tháng 2 năm 2011). "Korean pop the next big thing?". Star Observer. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  343. ^ Kim, Jin-woo (ngày 21 tháng 1 năm 2016). 2015년 음악시장 결산. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korean Music Industry Association. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  344. ^ Kim, Jin-woo (ngày 10 tháng 9 năm 2015). 8월 리뷰, 상위 10개 제작사 매출비중 73%. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korean Music Industry Association. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  345. ^ Yin, April (ngày 13 tháng 12 năm 2016). "入伍前最后一张合体专辑 Bigbang 《Made》 刷惊人销量" [Big Bang's "Made" is final album before joining the army]. QQ News (bằng tiếng Trung). Tencent. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2017.
  346. ^ Kwon, Ji-il (ngày 8 tháng 3 năm 2016). 한국 사람들이 9년동안 가장 많이 다운 받은 음원은? [What was the most downloaded sound from Koreans over the past nine years?]. Insight (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  347. ^ [문화광장] 빅뱅, MV 9번째 1억 뷰 돌파…"韓 최다 기록". KBS News (bằng tiếng Hàn). ngày 3 tháng 7 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2017.
  348. ^ Kwak, Hyun-soo (ngày 23 tháng 6 năm 2017). 빅뱅 '판타스틱 베이비' 유튜브 3억뷰 돌파...특별 포스터 공개 [Big Bang 'Fantastic Baby' exceeds 300 million views on Youtube... Special poster released]. Dong-a Sports (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017.
  349. ^ "Big Bang Breaks Record for Highest Concert Ticket Sales for Korean Artist in Taiwan". EnKorea. ngày 22 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2017.
  350. ^ Sunwoo, Carla (ngày 18 tháng 12 năm 2012). "Big Bang sets London concert record". MSN Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.
  351. ^ Jackson, Julie (ngày 14 tháng 1 năm 2014). "Big Bang closes Japan Dome Tour, breaks ticket sales record". The Korea Herald. Herald Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014.
  352. ^ Jeong, Byung-ki (ngày 26 tháng 2 năm 2016). "Big Bang returns home after epic world tour". Korea JoongAng Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016.
  353. ^ Joon, Amana (ngày 21 tháng 6 năm 2015). 빅뱅, 월드투어 'Made' 中 텐센트 비디오 통해 생중계 [Bigbang's World Tour "Made" Live on China's Tencent]. OSEN. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2015.
  354. ^ Lee, JinHo (ngày 27 tháng 4 năm 2015). "Big Bang Becomes First Foreign Artist to Hold Japanese Dome Tour Three Years Straight". Mwave. Mnet. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015.
  355. ^ Jung, Joon-Wha (ngày 22 tháng 6 năm 2015). "Shanghai Concert of Bigbang's World Tour Electrified 30,000 Fans… Great Success". OSEN. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015.
  356. ^ "Big Bang Add Additional Date To Made World Tour In Malaysia". kpopstarz.com. ngày 31 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015.
  357. ^ Benjamin, Jeff (ngày 27 tháng 5 năm 2015). "Bigbang Announce Huge Arena Tour for America This Fall". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015.
  358. ^ Wright, Adam; Kwong, Kevin (ngày 21 tháng 5 năm 2015). "Big Bang gigs sell out". South China Morning Post. Alibaba Group. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015.
  359. ^ Jamias, Mickey (ngày 17 tháng 7 năm 2015). "Big Bang Mount One Of The Most Expensive Concerts In Malaysian History For 'Made' World Tour". Kpop Starz. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  360. ^ Kyung, Sunmy (ngày 31 tháng 8 năm 2015). 빅뱅, 韓가수 최다 中 11개도시-18만명 동원 투어 성료.."다시 올 것". OSEN. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015.
  361. ^ Patch, Nick (ngày 26 tháng 9 năm 2015). "K-pop band Big Bang doing booming business in Toronto". The Star. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2015.
  362. ^ 빅뱅, 10주년 영화 '빅뱅 메이드'…해외 10개국 추가 개봉. The Chosun Ilbo. ngày 14 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  363. ^ Kim, Jae-heun (ngày 21 tháng 8 năm 2016). "Bigbang stages biggest-ever concert". The Korea Times. The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2016.
  364. ^ Ferrer, Robie (ngày 23 tháng 8 năm 2016). "Bigbang holds biggest concert for 10th anniversary, guest star surprises fans". Yibada. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2016.

Liên kết ngoài

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).