Cá La Hán (tiếng Anh: Flowerhorn Cichlid hay Flowerhorn; tiếng Hoa: 花罗汉, Hoa La Hán) là một trong những loài cá cảnh nhiệt đới được ưa chuộng trên thế giới và cả ở Việt Nam trong những năm đầu 2000 đến nay. Chúng được yêu thích do có ngoại hình đẹp, mạnh mẽ và màu sắc sặc sỡ ở hai bên hông, chiếc đầu gù to lên giống luohan (từ tiếng Trung Quốc chỉ khái niệm A La Hán trong Phật giáo). Phần nhô ra trên đầu của chúng được gọi chính thức là bướu gáy. Giống như cá hồng két, chúng là loài họ Cá hoàng đế lai và chọn lọc giống, chỉ tồn tại trong tự nhiên. Cá La Hán lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường cá cảnh ở Malaysia vào cuối những năm 1990 và nhanh chóng trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia châu Á. Chúng thường được những người chơi cá cảnh ở Mỹ, châu Á và châu Âu nuôi. Nhiều cá La Hán bị bỏ rơi đã được thả ra môi trường tự nhiên, đặc biệt là ở Singapore và Malaysia, nơi chúng trở thành loài xâm lấn gây hại. Việc nhập khẩu chúng bị cấm ở Úc.

Hoàng La Hán
Cá La Hán
Hồng La Hán

Nguồn gốc

Việc nhân giống cá La Hán bắt đầu từ năm 1993.[1] Người dân Đài Loan và Malaysia rất ngưỡng mộ loài cá có đầu nhô ra, được gọi là "cá tai tượng khổng lồ" hay "cá chiến hạm", thường thấy ở phía tây. Phần trán hơi nhô ra và đuôi dài của Họ Cá hoàng đế này được coi trọng trong xã hội Đài Loan vì được cho là mang lại may mắn trong thuật phong thủy. Đến năm 1994, cá hồng La Hán (thường là Amphilophus labiatus) và cá (A. trimaculatus) đã được nhập khẩu từ Trung Mỹ sang Malaysia, và cá hồng két lai được nhập khẩu từ Đài Loan sang Malaysia. Sau đó, những loài cá này được lai tạo với nhau, đánh dấu sự ra đời của cá La Hán.

Trong điều kiện nuôi nhốt

Có một số cách mà người nuôi có thể phân biệt giữa cá la Hán đực và cái. Nói chung, cá đực lớn hơn cá cái, nhưng cũng có một số ngoại lệ. Cá đực có bướu gáy trên trán. Cá đực cũng thường có màu sắc tươi sáng và rực rỡ hơn. Đối với hầu hết các giống, cá cái có chấm đen trên vây lưng, trong khi cá đực thường có vây hậu môn và vây lưng dài hơn.[2]

 
Cá La Hán Golden Monkey đắt tiền

Cá La Hán dễ mắc một số bệnh, bao gồm bệnh bệnh thủng đầu, "ich" và tắc nghẽn đường tiêu hóa.

Tranh cãi

Cá La Hán đã bị những người chơi cá hồng két và các nhà bảo vệ môi trường chỉ trích vì một số lý do. Việc nhân giống cá La hán dẫn đến việc loại bỏ những con cá dư thừa và bị dị dạng, một số trong đó đã bị thả về tự nhiên ở Malaysia và Singapore, nơi chúng sống sót và làm xáo trộn hệ sinh thái sông và ao.[3][4] Giống như hầu hết các loài cá hồng két khác, cá La Hán rất hung dữ và có thể sinh sản nhanh, cạnh tranh và ăn thịt các loài cá bản địa.[5]

 
Cá La Hán King Kamfa nổi tiếng với bướu gáy lớn, còn được gọi là kok, và hoa văn vô cùng đa dạng.

Việc nhân giống cá La Hán góp phần tạo ra nhu cầu thương mại đối với các loài cá mới và khác biệt, dẫn đến những hành vi phi đạo đức như nhân giống để tạo ra các dị tật về mặt giải phẫu, như đã xảy ra trong việc nhân giống cá vàng.[2]

Trong giới chơi cá cảnh, cá La Hán không được ưa chuộng vì khó nhân giống. Phần lớn cá La Hán đực đều vô sinh (không thể sinh sản), vì vậy việc tìm được một con có thể sinh sản rất tốn thời gian. Người chơi phải đợi từ 8 đến 10 tháng để cá đực đạt đến độ trưởng thành về mặt sinh dục, sau đó mới ghép đôi với cá cái để kiểm tra khả năng sinh sản.[2]

Những vấn đề khác liên quan đến cá La Hán là việc một số giống lai được bán kèm hình xăm, điều mà một số người cho là phi đạo đức, cũng như việc sử dụng hormone để tăng cường màu sắc của các loài cá Haplochromine châu Phi.[6]

 
Cá La Hán Kamfamalau là con lai giữa một con đực Kamfa và một con cái Malau

Cuối cùng, một vấn đề khác liên quan đến cá La Hán là sự pha loãng các dòng gen, vì cá La Hán là loài lai chứ không phải là loài thuần chủng.[6]

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  2. ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  3. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  4. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  5. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  6. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).