Tiền vệ (bóng chày)

(Đổi hướng từ Cầu thủ sân trong)

Một tiền vệ (hay cầu thủ nội tuyến hoặc cầu thủ sân trong) là một cầu thủ bóng chày đứng ở một trong bốn vị trí phòng ngự hàng tiền vệ (ở vùng nội tuyến hay sân trong) trên sân, trải ngang từ chốt một tới chốt ba.[1]

Sắp xếp vị trí tiêu chuẩn

Trong một trận bóng chày, hai đội gồm chín người chơi luân phiên tấn công và phòng thủ. Nhìn chung, mỗi đội sẽ cố gắng ghi điểm nhiều nhất có thể khi ở lượt tấn công (bằng cách đánh bóng ra trong biên) và chạy hết một vòng quanh bốn chốt, còn đội phòng thủ cố gắng ngăn chặn bằng cách bắt bóng trước khi chạm đất, bằng cách lấy bóng chạm vào chân chạy trước khi họ chạm chốt an toàn, hoặc ném bóng về chốt một trước khi người đánh bóng kịp chạy lên hoặc chốt chân chạy buộc phải tiến lên.

Trên sân bóng chày có chín vị trí phòng thủ. Phần sân gần người đánh bóng nhất (được thể hiện bằng màu nâu nhạt trong sơ đồ) được gọi là "sân trong" hay "nội tuyến" (ngược lại với "sân ngoài", phần sân xa người đánh bóng nhất, được thể hiện bằng màu xanh lá cây).

 

Các vị trí

Hàng tiền vệ gồm bốn vị trí: chốt một (1B), chốt hai (2B), chốt ba (3B) và chặn ngắn (SS). Nhìn chung, ba vị trí đầu tiên chịu trách nhiệm cho các pha bóng xoay quanh các chốt tương ứng của họ, mặc dù cầu thủ ở vị trí chặn ngắn thường chia sẻ trách nhiệm gác chốt hai với cầu thủ chốt hai. Mỗi vị trí yêu cầu một bộ kỹ năng chuyên biệt. Một cầu thủ thiếu các kỹ năng tấn công hoặc phòng thủ nổi bật để lọt vào đội hình xuất phát, nhưng lại có các kỹ năng cần thiết để chơi thành thạo nhiều vị trí tiền vệ và do đó có thể được gọi vào sân từ băng ghế dự bị để đảm nhiệm nhiều vai trò phòng thủ khác nhau được gọi là cầu thủ tiền vệ đa năng.

Vai trò

Các vị trí tiền vệ trung tâm

Các vị trí tiền vệ trung tâm bao gồm chốt hai (second baseman) và chặn ngắn (shortstop). Trong đó, cầu thủ chốt hai cố gắng xử bóng được đánh ra giữa chốt một và chốt hai, và cầu thủ chơi ở vị trí chặn ngắn chặn bóng đánh ra giữa chốt hai và chốt ba. Sau khi bắt được bóng, bóng phải được ném về cầu thủ chốt một trước khi người đánh bóng có thể lên đến chốt một. Điều này đòi hỏi tốc độ để bắt được bóng trước khi chúng ra quá tầm với, sự khéo léo để bắt bóng thành công và sự nhanh nhẹn linh hoạt để bắt bóng ở vị trí cho phép ném về chốt một hiệu quả. Cầu thủ chơi ở vị trí chốt hai và chốt hai cũng chia sẻ trách nhiệm chạm bóng vào chân chạy đang cố gắng cướp chốt hai. Vì cầu thủ chặn ngắn phải ném bóng xa hơn đến chốt một, anh ta phải bắt được bóng nhanh hơn và ném mạnh hơn cầu thủ chốt hai. Vì lý do này, chặn ngắn cũng là vị trí thường có kỹ năng bắt bóng tốt nhất trong số tất cả vị trí ở hàng tiền vệ. Do bộ kỹ năng cần thiết cần để chơi ở một vị trí tiền vệ trung tâm, các cầu thủ này thường được ưu tiên kỹ năng phòng thủ hơn là khả năng tấn công - việc sở hữu kỹ năng phòng thủ tốt và khả năng đánh bóng trung bình thường được coi là quan trọng hơn việc có khả năng đánh bóng tốt nhưng phòng thủ kém.

Các vị trí tiền vệ cánh

Các vị trí tiền vệ cánh bao gồm cầu thủ chốt một và cầu thủ chốt ba.

Cầu thủ chơi ở vị trí chốt ba chủ yếu chặn bóng đánh ra hay lăn dọc đường biên trái, nhưng cũng có thể tham gia bắt những bóng đánh giữa chốt thứ hai và ba. Mặc dù cầu thủ ở chốt ba không cần phải bao quát phạm vi rộng như cầu thủ chơi ở vị trí chặn ngắn hay chốt hai, vị trí này lại đòi hỏi khả năng phán đoán tốt hơn và phản xạ nhanh hơn, do vị trí đứng chỉ cách người đánh bóng 90 feet và và có thể gần hơn, khiến anh ta có ít thời gian phản ứng hơn với những bóng đánh ra chỗ mình so với cầu thủ chặn ngắn hay chốt hai. Cầu thủ chơi ở vị trí chốt ba cũng cần phải có cánh tay khỏe do vị trí đứng ném tới chốt một là xa nhất trong các vị trí tiền vệ.

Cầu thủ bắt bóng ở vị trí chốt một (first baseman) chủ yếu chịu trách nhiệm giữ một chân trên chốt thứ nhất trong khi bắt dính cú ném từ ba vị trí tiền vệ khác trước khi người đánh bóng đối phương kịp chạy đến chốt. Do những cú ném về này thường vội vàng và có thể không chính xác, vị trí chốt một thường ưu tiên những cầu thủ cao và có sải tay dài vì những đặc điểm này giúp anh ta xử lý với tốt những cú ném không chính xác. Cầu thủ chốt một phải có khả năng bắt gọn những quả bóng nảy đất gần trước khi đến chốt một, và nhanh chóng quyết định rời chân khỏi chốt một khi cần thiết để chặn một cú ném quá tệ không xổng ra sau. Vì chủ yếu đứng gần chốt của mình, nên khả năng di chuyển và kỹ năng ném bóng của cầu thủ chốt không cần phải cao, nên vị trí này thường bố trí với những cầu thủ đánh bóng giỏi nhưng chậm chạp. Trong một số trường hợp, một cầu thủ chơi ở vị trí chốt ba (third baseman) hoặc một cầu thủ hậu vệ lớn tuổi đã mai một một phần tốc độ nhưng vẫn đánh bóng giỏi thường sẽ được chuyển sang vị trí chốt một để giữ anh ta trong đội hình.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ "infielder". Cambridge Dictionary.

Bản mẫu:Baseball positions