Bước tới nội dung

Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Chế độ xã hội chủ nghĩa)

Hệ thống xã hội chủ nghĩa là thể chế chính trị mà được các nước có các đảng Cộng sản nắm quyền lãnh đạo tuyên bố sẽ đưa đất nước và dân tộc mình đi theo một con đường xã hội chủ nghĩa. Các nước này, tạm gọi tắt là hệ thống Xô viết, tự gọi mình là các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó từ chủ nghĩa xã hội được dùng theo nghĩa giai đoạn trước chủ nghĩa cộng sản. Một số nước, chính thể, nhóm hoặc cá nhân lại gọi họ là các nước cộng sản. Hệ thống các nước này không bao gồm các nước có mục tiêu chủ nghĩa xã hội không theo chủ nghĩa Marx-Lenin. Các nước xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng sản và theo chủ nghĩa Marx-Lenin gồm có Trung Quốc, Cuba, LàoViệt Nam.

Những từ tương đồng với hệ thống xã hội chủ nghĩa trong sách báo còn có hệ thống kiểu Xô Viết cũ, kinh tế quản lý tập trung, kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế mệnh lệnh và xã hội chủ nghĩa nhà nước.

Nguyên mẫu

Nhà kinh tế chính trị học người Hungary Kornai János, trong cuốn Hệ thống xã hội chủ nghĩa của ông, đã đi phân loại 3 nguyên mẫu của hệ thống xã hội chủ nghĩa:

Đặc trưng

Quyền lực

Các đặc trưng của cơ cấu quyền lực chính là nền tảng để từ đó suy ra quy luật vận hành của chính hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Về Đảng

Thể chế căn bản của cơ cấu quyền lực là đảng cộng sản. Các nước xã hội chủ nghĩa có hệ thống đơn đảng, trong đó có đảng đối lập. Ở thời điểm đỉnh cao của quyền lực, đảng viên chiếm một tỉ lệ dân số đáng kể.

Phương châm chủ đạo của nguyên tắc tổ chức của Đảng là nguyên tắc tập trung dân chủ.

Ban lãnh đạo được bầu tại hội tổ chức cơ sở theo từng nhiệm kỳ cụ thể. Mỗi tổ chức cơ sở có 1 bí thư lãnh đạo. Các cơ sở chịu sự lãnh đạo của tổ chức đảng bậc cao hơn, thường trên nguyên tắc phạm vi lãnh thổ.

Lãnh đạo cấp trung ương có bộ tham mưu rất lớn, chịu trách nhiệm hệ thống thứ bậc bao gồm những người đứng đầu các ban, phó ban và những viên chức. Theo quy định chính thức, quan chức được chỉ định của đảng không có quyền lực, bởi vì quyền quyết định duy nhất thuộc về các cơ quan được bầu ra. Trên thực tế, họ có ảnh hưởng đến sự vận hành của cơ quan được bầu.

Các cán bộ lãnh đạo được bầu (chuyên trách) và cán bộ Đảng viên thường được biết đến như một bộ máy. Cụ thể, cơ quan được bầu không chọn toàn bộ nhân viên. Thay vào đó, bộ máy lựa chọn những người tham gia cơ quan được bầu ứng cử lần bầu cử tiếp theo, và ứng viên bí thư. Bộ máy xác định ai là người được gia nhập đảng sở tại, và đề cử thành viên Đảng tới các vị trí thuộc các cơ quan Đảng.

Theo hiến pháp, pháp luật và các quy phạm pháp luật, nhà nước dưới hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển cũng giống như các nhà nước hiện đại khác. Nhà nước được chia thành 3 ngành: lập pháp, hành pháptư pháp; cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm hành pháp và tư pháp.

Hiến pháp của nhiều nước xã hội chủ nghĩa khẳng định: Lực lượng lãnh đạo đất nước là đảng cộng sản. Pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa không xác định cụ thể nhưng trong thực tế phạm vi quyền phán quyết của đảng bao trùm lên các lĩnh vực:

  • Bổ nhiệm, thăng chức, giáng chức trong cơ quan đảng và các cơ quan nhà nước, các vị trí trong nền kinh tế.
  • Tổ chức đảng ra chỉ đạo các công việc của nhà nước trước khi cơ quan nhà nước quyết định.
  • Bộ máy đảng có quan hệ trực tiếp với bộ máy nhà nước. Trong đó, 1 công chức đảng nào đó hoặc 1 nhóm công chức trong bộ máy đảng sẽ chịu trách nhiệm về các hoạt động, và/hoặc hoạt động tính phạm vi của nhà nước.

Các tổ chức chính trị xã hội

Nhiều tổ chức, hiệp hội trong xã hội được gọi chung là các tổ chức quần chúng. Đặc điểm chính của các tổ chức này là mỗi tổ chức được quản lý 1 lĩnh vực nhất định.

Sự độc quyền về tổ chức tạo cho các tổ chức đại chúng có tính năng và chức năng tương tự 1 cơ quan.

Cơ sở xây dựng và vận hành các tổ chức quần chúng chủ yếu là cụ thể hóa chủ trương, đường lối đã bàn giao của đảng. Vì vậy, các tổ chức quần chúng có thể, và có tham gia vào quá trình bầu cử cơ quan đại diện nhân dân hoặc quá trình xây dựng chính sách. Đây là nét đặc trưng của hệ thống không đa nguyên chính trị. Nên, điều nguy hiểm nhất của mô hình hệ thống này là nếu các tổ chức, cá nhân hoạt động không khách quan, họ đang không bảo vệ quyền lợi của tầng lớp, và/nhóm xã hội mà họ được cử làm đại diện. Qua đó, người dân mất đi tiếng nói của mình. Cụ thể, lỗ hổng này đang dần bộc lộ ở các nước xã hội chủ nghĩa, khi quan chức lớn nhỏ có thể tự do tham nhũng, tham chức vượt qua bộ máy người dân giám sát chính quyền thường thấy ở các nước phương Tây kinh tế phát triển.

Một số tổ chức chính trị xã hội ở Việt Nam:

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam.
  2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
  3. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
  4. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
  5. Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
  6. Hội Nông dân Việt Nam.
  7. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Nguyên lý hoạt động và Hệ tư tưởng

Nguyên lý hoạt động của mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa xuất phát và được xây dựng từ Hệ tư tưởng tập hợp các giá trị niềm tin và lý tưởng.

Hệ tư tưởng đề cập được nêu trong nghị quyết của đảng, các bài phát biểu, bài viết của các nhà lãnh đạo đảng, sách giáo khoa học thuật ngành, các bài báo và các công bố chính thức khác.

Hệ tư tưởng xuất phát từ nhiều nguồn, và bám rễ sâu vào lịch sử các lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Tầng sâu nhất là tư tưởng của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng và sau đó chủ yếu là các ý tưởng của Karl Marx. Tầng tiếp theo bao gồm các lý tưởng, nguyện vọng, và giá trị của hoạt động, phong trào cách mạng ở các nước sau này chuyển đổi tới xã hội chủ nghĩa; tiếp theo đó là phạm vi hoạt động xuất phát trong giai đoạn cách mạng tính thay đổi, rút ra từ những kinh nghiệm của đảng cộng sản - từ vị thế một đảng cách mạng đối lập chuyển thành đảng cầm quyền.

Mối quan hệ Sở hữu

Hình thức sở hữu đầu tiên và quan trọng nhất là Doanh nghiệp nhà nước sở hữu. Hình thức sở hữu thứ 2 là hợp tác xã.

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa cổ điển, doanh nghiệp tư nhân thuê lao động làm thuê hoặc không tồn tại, hoặc bị hạn chế ở một bộ phận rất nhỏ của nền kinh tế. Sự hạn chế tính quản trị chủ nghĩa tư bản, tư nhân được coi như một tiêu chuẩn chủ yếu, thậm chí là tiêu chuẩn chủ yếu nhất của chủ nghĩa xã hội. Theo định nghĩa tính xã hội, chỉ có nhà nước sở hữu và hợp tác xã sở hữu là tính xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, các hình thức sở hữu tư nhân khác nhau vẫn tồn tại, như hoạt động thương mại, công nghiệp tư cỡ nhỏ, canh tác nông nghiệp hộ gia đình, và các hoạt động kinh tế tư nhân không chính thức khác.

Thực tế, nhiều quốc gia hiện nay nằm trong hệ thống xã hội chủ nghĩa có mức độ sở hữu tư nhân cao, như Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hiện nay, một số quốc gia xã hội chủ nghĩa như Việt Nam đang trên con đường kinh tế thị trường, đánh giá cao vai trò của tư nhân trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những cơ chế điều phối kinh tế của Chủ nghĩa xã hội

Xem thêm

Tham khảo

Bản mẫu:Sơ khai