Chiến tranh cơ giới hay chiến tranh xe tăng, chiến tranh bọc thép là việc sử dụng các phương tiện chiến đấu bọc thép trong chiến tranh hiện đại. Đây là một trong những cấu thành chính của các phương pháp chiến tranh hiện đại.[1] Cơ sở của chiến tranh cơ giới dựa trên khả năng của quân đội thâm nhập vào các tuyến phòng thủ thông thường của quân đối phương, thông qua việc sử dụng các đơn vị bọc thép cơ động.[2]

Tập tin:Strong Europe Tank Challenge 2018 (40964003420).jpg
Một cuộc tấn công của Leopard 2A6 trong Strong Europe Tank Challenge năm 2018.

Phần lớn khả năng của chiến tranh bọc thép phụ thuộc vào trang bị và sử dụng xe tăng, xe chiến đấu bộ binh, pháo tự hành, các loại phương tiện chiến đấu bọc thép khác,.v.v. cùng các đơn vị hỗ trợ, cũng như hợp đồng tác chiến với các quân binh chủng khác.[1] Các học thuyết chiến tranh bọc thép đã được phát triển để phá vỡ "tính chất tĩnh" của chiến tranh chiến hào trên Mặt trận phía Tây trong Thế chiến I, và giúp nhìn nhận trở lại bài học có từ thế kỷ 19 về ý nghĩa của chiến tranh cơ động và "kết quả trận chiến quyết định" trong chiến lược quân sự.[2]

Thế chiến thứ nhất

Tập tin:The Battle of Arras, April-May 1917 Q6286.jpg
Một chiếc xe tăng hạng nặng của Anh trong Thế chiến thứ nhất

Chiến tranh thiết giáp hiện đại bắt đầu trong cuộc Thế chiến thứ nhất (1914–1918). Các nhà chiến lược muốn phá vỡ tình trạng bế tắc về chiến thuật, chiến dịchchiến lược mà bộ binh phòng thủ cố thủ trong hầm hào trang bị súng máy buộc các chỉ huy ở Mặt trận phía Tây phải hứng chịu, thường được gọi là chiến tranh chiến hào. Trong những điều kiện này, các đợt tấn công thường diễn ra rất chậm và gây ra thương vong thảm khốc. Những người phát triển xe tăng hướng tới việc khôi phục tính vận động cho chiến tranh, và họ đã tìm ra một phương cách thực tế để làm điều đó: trang bị xích cho súng máy cho phép chúng vượt qua hầm hào, đồng thời cung cấp cho chúng vỏ thép bảo vệ khỏi vũ khí bộ binh trong lúc di chuyển.

Anh và Pháp lần đầu tiên phát triển xe tăng vào năm 1915 như một phương tiện để vượt qua hàng rào dây thép gai và các vật cản khác ở vùng đất không người trong khi vẫn được bảo vệ khỏi hỏa lực súng máy. Các xe tăng Mark I của Anh lần đầu tiên xuất chiến tại trận Somme vào ngày 15 tháng 9 năm 1916,[3] nhưng không thể phá vỡ thế bế tắc của chiến tranh chiến hào. Lần đầu tiên người Pháp sử dụng xe tăng vào ngày 16 tháng 4 năm 1917 bằng mẫu Schneider CA1, cũng không đạt được kỳ vọng.[4] Trong Trận Cambrai (tháng 11 đến tháng 12 năm 1917), xe tăng Anh đã thành công hơn khi chọc thủng hệ thống tuyến hào của Đức, tức phòng tuyến Hindenburg.[5]

Mặc dù có những khởi đầu nhìn chung không mấy hứa hẹn, ban lãnh đạo quân sự và chính trị ở cả Anh và Pháp trong năm 1917 đã ủng hộ khoản đầu tư lớn vào việc sản xuất xe thiết giáp. Điều này dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng xe tăng sẵn có vào năm 1918. Trái lại, Đế quốc Đức chỉ sản xuất một vài chiếc xe tăng ở giai đoạn muộn của cuộc chiến. Chỉ có 20 chiếc xe tăng A7V của Đức được sản xuất trong toàn bộ cuộc xung đột, so với hơn 4.400 xe tăng Pháp và hơn 2.500 xe tăng Anh thuộc nhiều chủng loại khác nhau. Mặc dù vậy, Thế chiến I đã chứng kiến trận đấu xe tăng đấu xe tăng đầu tiên, trong Trận Villers-Bretonneux lần thứ hai vào tháng 4 năm 1918, khi một nhóm ba xe tăng A7V của Đức đụng độ với một nhóm ba xe tăng Mark IV của Anh do chạm trán tình cờ.

Sau các cuộc tấn công Mùa xuân cuối cùng của Đức từ ngày 21 tháng 3 đến ngày 18 tháng 7 năm 1918, phe Hiệp ước đã triển khai lực lượng xe tăng ồ ạt tại Trận Soissons (18 đến 22 tháng 7 năm 1918) và Trận Amiens (tháng 8 năm 1918), chấm dứt thế bế tắc do chiến tranh chiến hào áp đặt ở Mặt trận phía Tây, và từ đó kết thúc cuộc chiến một cách hiệu quả.

Về mặt chiến thuật, các kế hoạch triển khai lực lượng thiết giáp trong chiến tranh thường đặt trọng tâm lớn vào việc trực tiếp hỗ trợ cho bộ binh. Nhiệm vụ chính của xe tăng được xem là đè bẹp dây thép gai và tiêu diệt các ổ súng máy, tạo điều kiện cho bộ binh tiến lên. Các cuộc tranh luận về mặt lý thuyết phần lớn tập trung vào câu hỏi liệu nên sử dụng một "bầy" xe tăng nhẹ cho mục đích này, hay một số lượng hạn chế các phương tiện hạng nặng đầy sức mạnh. Mặc dù trong Trận Cambrai, một sự tập trung lớn các xe tăng hạng nặng của Anh đã thực hiện một bước đột phá, nó lại không được lực lượng thiết giáp khai thác triệt để. Khả năng cơ động của xe tăng ít nhất về mặt lý thuyết phải giúp các đội quân lấy lại khả năng đánh tạt sườn các tuyến phòng thủ của đối phương. Trên thực tế, tác chiến xe tăng trong phần lớn Thế chiến I đã bị cản trở bởi sự chưa hoàn thiện về mặt kỹ thuật của hệ thống vũ khí mới, hạn chế về tốc độ, tầm hoạt động tác chiến, độ tin cậy và sự thiếu hụt các chiến thuật thiết giáp hiệu quả.

Sử dụng xe tăng theo tầm nhìn chiến lược chỉ phát triển chậm chạp trong và ngay sau Thế chiến I, một phần do những hạn chế kỹ thuật này nhưng cũng do vị thế uy tín vốn truyền thống dành cho lực lượng kỵ binh cưỡi ngựa. Một ngoại lệ trên lý thuyết là Kế hoạch 1919 của Đại tá J. F. C. Fuller thuộc Quân đội Anh, người đã hình dung việc sử dụng sự gia tăng khổng lồ dự kiến trong sản xuất thiết giáp vào năm 1919 để thực hiện các cuộc đâm sâu chiến lược của các lực lượng cơ giới hóa bao gồm xe tăng và bộ binh chở bằng xe tải, được máy bay yểm trợ, nhằm làm tê liệt cơ cấu chỉ huy của đối phương.[6]

Sau Thế chiến thứ nhất, các khía cạnh kỹ thuật và học thuyết của chiến tranh thiết giáp đã trở nên tinh vi hơn và phân tách thành nhiều trường phái tư tưởng học thuyết khác nhau.

Thời kỳ giữa hai thế chiến

Những năm 1920

Tập tin:JFC Fuller.jpg
J. F. C. Fuller

Trong những năm 1920, số lượng xe tăng được sản xuất rất hạn chế. Tuy nhiên, đã có những bước phát triển quan trọng về mặt lý thuyết và kỹ thuật. Nhiều chỉ huy người Anh và Pháp từng đóng góp vào sự ra đời của xe tăng, như Jean Baptiste Eugène Estienne, B. H. Liddell HartJ. F. C. Fuller, đã đưa ra lý thuyết về khả năng sử dụng các lực lượng thiết giáp độc lập trong tương lai, quy tụ một lượng lớn xe tăng để thực hiện các cuộc đâm sâu chiến lược. Đặc biệt, Liddell Hart đã viết nhiều cuốn sách về chủ đề này, một phần nhằm truyền bá các lý thuyết của Fuller. Các học thuyết như vậy phải đối mặt với thực tế rằng trong thập niên 1920, các phương tiện thiết giáp, cũng như phương tiện đường bộ thời kỳ đầu nói chung, cực kỳ không đáng tin cậy và không thể dùng cho các chiến dịch kéo dài. Tư duy chủ đạo thời bấy giờ mang tính bảo thủ hơn và tìm cách tích hợp xe thiết giáp vào tổ chức và chiến thuật hiện có của bộ binh và kỵ binh.

Phát triển kỹ thuật ban đầu tập trung vào việc cải tiến hệ thống treo, hộp số và động cơ để tạo ra các phương tiện nhanh hơn, đáng tin cậy hơn và có tầm hoạt động tốt hơn so với các thế hệ tiền nhiệm trong Thế chiến I.[7] Để giảm trọng lượng, các thiết kế này có lớp giáp mỏng, và điều này đã truyền cảm hứng cho việc lắp các pháo bắn nhanh cỡ nòng nhỏ trong tháp pháo, mang lại cho xe tăng khả năng chống tăng tốt.[8] Cả Pháp và Anh cuối cùng đều xây dựng các dòng xe tăng bộ binh chuyên dụng có giáp dày hơn để hỗ trợ bộ binh, cùng các dòng xe tăng kỵ binh nhanh hơn có thể khai thác điểm đột phá, nhằm đánh bại kẻ thù bằng cách cắt đứt tuyến thông tin liên lạc và tiếp tế của chúng, tương tự như những gì kỵ binh đã làm ở thế kỷ trước.

Người Anh là những người đầu tiên tạo ra một đơn vị cơ giới hóa hoàn toàn ở quy mô lớn hơn khi Bộ Chiến tranh phê chuẩn việc thành lập Lực lượng Cơ giới hóa Thử nghiệm,[9] được thành lập vào ngày 1 tháng 5 năm 1927 dưới sự chỉ huy của Đại tá bộ binh R. J. Collins, sau khi Fuller từ chối chức vụ này. Các đơn vị trực thuộc của lực lượng này hoàn toàn cơ động và bao gồm các xe tăng siêu nhẹ (tankette) trinh sát cùng xe bọc thép, một tiểu đoàn gồm 48 xe tăng Vickers Medium Mark I, một tiểu đoàn súng máy cơ giới, một trung đoàn pháo binh cơ giới sở hữu một đại đội pháo Birch tự hành bánh xích hoàn toàn có khả năng hoạt động như pháo truyền thống hoặc pháo phòng không, cùng một đại đội công binh dã chiến cơ giới.[10] Đơn vị này đã tiến hành các cuộc diễn tập trên đồng bằng Salisbury và được quan sát bởi các quốc gia lớn khác như Hoa Kỳ, Đức, và Liên Xô. Mặc dung hiệu quả thể hiện của lực lượng được công nhận, nó vẫn bị giải thể vào năm 1928.

Năm 2022, Kendrick Kuo, phó giáo sư tại Đại học Hải quân Hoa Kỳ, lập luận rằng Quân đội Anh, trong tình trạng thiếu ngân sách và quá tải trong thời kỳ giữa hai thế chiến, đã theo đuổi đổi mới một cách mạo hiểm khi đặt cược vào hiệu quả chiến đấu của các đơn vị thiết giáp hoạt động mà có rất ít sự hỗ trợ từ bộ binh hoặc pháo binh. Việc làm này đã dẫn đến những thất bại ban đầu của họ ở Bắc Phi trong Thế chiến thứ hai.[11]

Tất cả các quốc gia châu Âu lớn (ngoại trừ Đức, nước bị cấm sở hữu xe thiết giáp theo Hòa ước Versailles), Mỹ và Nhật Bản, đều sẽ thành lập các lực lượng cơ giới hóa thử nghiệm của riêng mình vào cuối những năm 1920. Nhiều nước trong số đó đã sử dụng thiết kế phương tiện của Pháp hoặc Anh hoặc thậm chí trực tiếp mua phương tiện, nhưng phần lớn là vay mượn từ cả hai để phát triển học thuyết riêng của họ.

Những năm 1930

Tập tin:Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky.jpg
Mikhail Tukhachevsky

Trong những năm 1930, căng thẳng chính trị giữa các cường quốc thế giới gia tăng nhanh chóng. Liên Xô và Pháp bắt đầu tái thiết lập kho vũ khí vào đầu những năm 30. Tại Liên Xô, việc cơ giới hóa các lực lượng vũ trang là một phần của chương trình công nghiệp hóa chung quy mô lớn, tức các Kế hoạch 5 năm liên tiếp, và quốc gia này sớm sở hữu số xe tăng nhiều hơn phần còn lại của thế giới cộng lại, với hàng nghìn chiếc được sản xuất mỗi năm. Trong thời kỳ này, trước khi Đảng Quốc xã lên nắm quyền ở Đức, các sĩ quan Đức đã được gửi đến quan sát và tham gia phát triển học thuyết thiết giáp tại Liên Xô. Các chuyên gia của Hồng Quân và Đức đã hợp tác phát triển việc sử dụng xe tăng dựa trên các phương tiện thế hệ thứ hai trang bị hỏa lực chính trên tháp pháo, đồng thời thử nghiệm thiết kế các cấu hình khung gầm và hệ truyền động khác nhau. Một thương vụ quan trọng của Hồng quân hóa ra lại là việc mua khung gầm T3 sử dụng hệ thống treo Christie từ nhà thiết kế người Mỹ John Walter Christie, vốn làm cơ sở cho dòng xe tăng nhanh BT của Liên Xô.[12] Chiến thuật của Hồng quân chịu ảnh hưởng bởi các công trình lý luận của Nguyên soái Mikhail Tukhachevsky, người đề xướng "tác chiến xe tăng quy mô lớn" như một phần của học thuyết tác chiến chiều sâu.[13]

Tại Pháp, quốc gia sản xuất xe tăng lớn thứ hai, việc cơ giới hóa được thúc đẩy bởi nhu cầu bù đắp cho sự thiếu hụt nhân lực nghiêm trọng do tỷ lệ sinh sụt giảm mạnh trong Thế chiến I. Điều này dẫn đến sự phát triển của một loạt phương tiện thiết giáp chuyên dụng phong phú, không chỉ có xe tăng mà còn có xe bọc thép, pháo tự hành, pháo cơ giới, máy kéo thiết giáp, phương tiện tiếp tế thiết giáp, phương tiện trắc thủ pháo binh thiết giáp, phương tiện chỉ huy thiết giáp, xe bán xích, và xe bọc thép chở quân bánh xích hoàn toàn. Khi quá trình cơ giới hóa tiến triển, học thuyết thiết giáp của Pháp bắt đầu phản ánh năng lực gia tăng một cách chậm rãi, tiến triển từ hỗ trợ bộ binh trực tiếp sang đột phá độc lập, và cuối cùng là bao vây cùng bộ binh cũng như khai thác chiến lược chiều sâu cùng kỵ binh.[14] Dù số lượng xe tăng gia tăng, ở tất cả các nước, rào cản tài chính vẫn ngăn cản việc cơ giới hóa hoàn toàn toàn bộ lực lượng lục quân. Do đó hầu hết các sư đoàn vẫn bao gồm bộ binh thậm chí còn chưa được cơ giới hóa bằng xe tải. Kết quả là xe tăng có xu hướng được phân bổ cho các đơn vị thiết giáp đặc biệt, nơi năng lực bảo trì và huấn luyện chuyên môn hạn chế và đắt đỏ có thể được tập trung. Chỉ có Liên Xô có đủ xe tăng để trang bị một tiểu đoàn xe tăng hữu cơ trong mỗi sư đoàn bộ binh. Dù vậy, Pháp là nước đầu tiên tạo ra các đơn vị thiết giáp quy mô lớn: năm 1934, hai Quân đoàn Cơ giới hóa đã được thành lập với 430 xe tăng mỗi quân đoàn.[15] Tháng 7 năm 1935, tại Pháp, Sư đoàn Kỵ binh số 4 được chuyển đổi thành 1e Division Légère Mécanique, sư đoàn thiết giáp đầu tiên của Kỵ binh Pháp. Tại Đức, sau khi Chế độ Quốc xã bắt đầu công khai tái vũ trang vào tháng 3 năm 1935, ba Panzerdivisionen (sư đoàn tăng) đã được thành lập vào ngày 15 tháng 10 năm 1935. Mặc dù một số lữ đoàn xe tăng là một phần của binh chủng Kỵ binh hoặc Bộ binh, hầu hết xe tăng Đức được tập trung vào một binh chủng đặc biệt, từ năm 1936 được gọi là Panzerwaffe. Cách giải thích chính xác về hiện tượng này đã gây ra nhiều tranh cãi giữa các nhà lịch sử quân sự. Theo quan điểm truyền thống, nó được coi là một phần của "chiến lược Blitzkrieg" nhằm chinh phục thế giới một cách nhanh chóng bằng các lực lượng thiết giáp. Sau đó, những người như Karl-Heinz Frieser đã lập luận rằng quân đội Đức trong những năm 1930 thậm chí còn không sở hữu một học thuyết chiến thuật Blitzkrieg rõ ràng, chưa nói đến chiến lược. Điều này được phản ánh qua tốc độ sản xuất và phát triển xe tăng tương đối không mấy ấn tượng.[16] Trong những năm 1930, Vương quốc Anh dành ưu tiên cho Không quân Hoàng giaHải quân Hoàng gia. Quân đội Anh bắt đầu chuyển đổi lực lượng kỵ binh từ ngựa sang xe tăng và hầu hết trừ một vài trung đoàn đã hoàn tất chuyển đổi vào năm 1939. Sư đoàn Thiết giáp số 1 của Anh được thành lập dưới tên gọi "Sư đoàn Cơ động" vào tháng 11 năm 1937.

Trước Thế chiến thứ hai, việc sử dụng thực tế các xe chiến đấu thiết giáp vẫn còn hạn chế. Cả hai bên đều sử dụng xe tăng Ý, Đức và Liên Xô trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, nhưng những xe tăng này đã chứng minh là dễ bị tổn thương trước pháo chống tăng do lớp giáp mỏng. Các yếu tố truyền thống trong Hồng quân đã sử dụng điều này để làm giảm ảnh hưởng của những người đề xướng cơ giới hóa.[17] Bản thân Tukhachevsky đã bị xử tử vào năm 1937. Mặc dù vậy, trong cuộc Chiến tranh biên giới Xô-Nhật năm 1938 và 1939, các lực lượng Liên Xô đã thử nghiệm các chiến thuật chiến tranh thiết giáp hiện đại. Tướng Georgy Zhukov vào mùa hè năm 1939 đã kết hợp các cuộc vận động xe tăng tập trung với pháo kích và không kích, để đánh bại Lục quân Đế quốc Nhật Bản tại Trận Khalkhin GolNomonhan thuộc Mông Cổ.[18] Một phần là kết quả của những kinh nghiệm ở Tây Ban Nha, Liên Xô bắt đầu phát triển một thế hệ xe tăng hạng trung và hạng nặng mới, sở hữu giáp và hỏa lực mạnh hơn nhiều.[19]

Thế chiến thứ hai

Ba Lan

Trong cuộc tấn công Ba Lan vào tháng 9 năm 1939, các lực lượng Đức đã áp dụng sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị thiết giáp quy mô lớn thuộc binh chủng Panzerwaffe và Kỵ binh với các sư đoàn bộ binh "chủ động" để chọc thủng các tuyến phòng thủ của Ba Lan và truy kích lực lượng đối phương bị đánh bại. Các đơn vị thiết giáp Ba Lan vốn hạn chế và phân tán hơn đã nhanh chóng bị tiêu diệt. Hồng quân, khi tiến quân vào phía đông Ba Lan, cũng đã triển khai các sư đoàn thiết giáp. Vào thời điểm đó, sự sụp đổ nhanh chóng của quân đội Ba Lan được xem là kết quả của chiến thuật Blitzkrieg bằng lực lượng thiết giáp. Tuy nhiên, sau này người ta lập luận rằng chiến dịch này phần lớn là một ví dụ về khái niệm "Trận chiến tiêu diệt" cổ điển ở thế kỷ 19 của người Đức, trong đó vai trò của các đợt đâm sâu chiến lược bằng thiết giáp còn hạn chế.[20]

Pháp

Dấu mốc sau chiến dịch Ba Lan, trong thời kỳ Chiến tranh kỳ quặc, sản lượng xe tăng của Pháp, Anh và Đức đều gia tăng mạnh mẽ, trong đó cả hai đồng minh phương Tây đều sản xuất vượt trội so với Đức. Tuy nhiên, liên minh Anh - Pháp đã chứng tỏ họ không thể sánh được với người Đức về số lượng các sư đoàn thiết giáp, do không thể nhanh chóng thành lập các đơn vị quy mô lớn như vậy. Mặc dù người Pháp sở hữu số lượng xe tăng vượt trội, thường có giáp và hỏa lực tốt hơn, một nửa trong số đó được phân bổ ở cấp tập đoàn quân cho các Bataillons de Chars de Combat ("tiểu đoàn xe tăng chiến đấu") độc lập nhằm hỗ trợ bộ binh.[21] Đầu năm 1940, Bộ chỉ huy Đức đi đến kết luận rằng họ không thể thắng trong một cuộc chiến tranh tiêu hao và đã bắt đầu một chiến lược đầy mạo hiểm. Họ phê duyệt Kế hoạch Manstein, hình dung một đợt tiến quân qua vùng núi Ardennes của khối chủ lực các sư đoàn bộ binh Đức, được dẫn đầu bởi bảy sư đoàn thiết giáp, trong khi lực lượng dự bị cơ động chính của Pháp gồm ba sư đoàn kỵ binh thiết giáp (Divisions Légères Mécaniques hay các Sư đoàn Cơ giới nhẹ), những đơn vị thiết giáp duy nhất được tổ chức theo mô hình sư đoàn thiết giáp Đức sẽ bị dụ vào Vùng đất thấp bởi một cuộc tấn công nghi binh của một lực lượng nhỏ hơn, bao gồm ba sư đoàn thiết giáp. Tháng 5 năm 1940, trong Trận Pháp, đòn nghi binh của Đức đã dẫn đến một số cuộc đụng độ thiết giáp chưa phân thắng bại, trong đó có Trận Hannut, trận chiến xe tăng lớn nhất từng diễn ra tính đến thời điểm đó. Cùng lúc đó, bộ binh cơ giới Đức ở phía tây Ardennes đã vượt qua sông Meuse, nhờ sự hỗ trợ của đợt ném bom rải thảm dữ dội vào các điểm vượt sông. Trong kế hoạch ban đầu, các sư đoàn thiết giáp một lần nữa được cho là sẽ phối hợp chặt chẽ với các sư đoàn bộ binh. Trên thực tế, các chỉ huy thiết giáp như Erwin RommelHeinz Guderian đã lập tức bứt phá khỏi các đầu cầu, khởi đầu cho đợt tiến quân hướng về Epsomeo biển Manche, đến nơi chỉ trong vòng một tuần. Lực lượng dự bị gồm bốn sư đoàn thiết giáp bộ binh của Pháp, các Divisions cuirassées, thiếu khả năng cơ động chiến lược cần thiết để ngăn chặn điều này. Cuộc bao vây chiến lược đã vây hãm quân đội Bỉ, Lực lượng Viễn chinh Anh và những đơn vị tinh nhuệ nhất của Pháp. Điều này dẫn đến cuộc sơ tán Dunkirk và sự sụp đổ cuối cùng của Pháp trong chiến dịch Fall Rot.

Thắng lợi vang dội và bất ngờ này không chỉ gây ra sự thay đổi đột ngột trong tình hình địa chiến lược toàn cầu, mang lại cho Đức vị thế bá quyền trên lục địa châu Âu, mà còn như lời chứng minh cho các lý thuyết của Fuller và Liddell-Hart. Đối mặt với tiềm năng không thể phủ nhận của chiến tranh vận động bằng thiết giáp, từ mùa hè năm 1940 trở đi, lực lượng vũ trang của tất cả các cường quốc lớn còn sống sót đã điều chỉnh học thuyết chiến thuật, tổ chức đơn vị, hoạch định chiến lược và kế hoạch sản xuất xe tăng của mình. Theo Frieser, điều này thậm chí đúng với chính bản thân Đức, quốc gia chỉ đến lúc này mới chính thức áp dụng các chiến thuật Blitzkrieg.[16]

Chiến trường Bắc Phi

Tại các hoang mạc ở Bắc Phi, người Anh đã phát triển một phương pháp tiếp cận thay thế là kết hợp lực lượng thiết giáp, bộ binh và pháo binh lại với nhau để tạo thành một 'đội hình hợp thành cân bằng'. Tập đoàn quân số 10 của Ý dưới sự chỉ huy của Thống chế Rodolfo Graziani, do trang bị kém và lãnh đạo không hiệu quả, đã sớm chịu thất bại trước phương pháp tiếp cận này của lực lượng Thịnh vượng chung thuộc Lực lượng Sa mạc Phía Tây của Anh.

Sự xuất hiện của Afrika Korps của Đức dưới sự chỉ huy của General der Panzertruppe Erwin Rommel đã làm nổi bật những điểm yếu trong phương pháp tiếp cận của Anh: số lượng bộ binh và pháo binh nhỏ trong mỗi sư đoàn thiết giáp là đủ khi tấn công lực lượng Ý thiếu cơ động và phối hợp kém, nhưng đối mặt với các đơn vị Đức có tính cơ động cao và phối hợp tốt, các đơn vị thiếu nhân lực của Thịnh vượng chung tỏ ra không đủ sức đáp ứng.

Từ năm 1941 đến năm 1942, phe Đồng Minh đã gặp nhiều khó khăn trong các trận chiến thiết giáp ở sa mạc Bắc Phi do áp dụng chiến thuật không phù hợp; đặc biệt là việc đưa các đội hình thiết giáp lao trực tiếp vào các vị trí chống tăng của đối phương; tuy nhiên, họ đã đạt được một số thành công đáng chú ý trong Chiến dịch Crusader, Trận El Alamein thứ nhất và dưới thời Montgomery cuối cùng đã đạt được những chiến thắng quyết định, đặc biệt là tại Trận El Alamein thứ hai.

Năm 2022, Kendrick Kuo, phó giáo sư tại Đại học Chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ, đã viết rằng do các yếu tố bắt nguồn từ thời kỳ giữa hai thế chiến, quân đội Anh ở Bắc Phi ban đầu đã vận hành các đơn vị thiết giáp của họ mà có rất ít sự hỗ trợ từ bộ binh hoặc pháo binh. Trong khi đó, người Đức đã tích hợp lực lượng thiết giáp của họ với bộ binh cơ giới và pháo binh. Chỉ sau khi từ bỏ sự nhấn mạnh lệch lạc vào thiết giáp, người Anh mới có thể khôi phục lại hiệu quả chiến đấu của mình.[11]

Liên Xô

Trước chiến tranh

Phần lớn sự phát triển của Hồng quân trong việc sử dụng xe tăng đều dựa trên các công trình lý luận được thực hiện bởi các sĩ quan như TukhachevskyTriandafillov từ giữa đến cuối những năm 1930. Đây là một phần của khái niệm theo hai hướng, một hướng lấy bộ binh làm trung tâm với "mặt trận rộng" và hướng còn lại là một "tập đoàn quân đột kích".[22]

Trong khi phần học thuyết dựa trên bộ binh đòi hỏi "xe tăng hạng nặng" (xe tăng hạng nặng trang bị pháo hỗ trợ bộ binh và súng máy) và "xe tăng siêu nhẹ" (xe tăng nhẹ, thường là lội nước trang bị súng máy), thì tập đoàn quân đột kích đòi hỏi "xe tăng cơ động" (xe tăng nhanh với pháo hạng trung) được sử dụng kết hợp với các lực lượng cơ giới hóa và "kỵ binh cơ giới" vốn sẽ hoạt động ở chiều sâu như "kỵ binh chiến lược" kết hợp với các lực lượng dù mới được thành lập. Những ý tưởng này đã dẫn đến sự ra đời của "PU-36" hay Điều lệnh Dã chiến năm 1936.

Thời chiến

 
Một chiếc xe tăng T-34-85 của Liên Xô được trưng bày tại Musée des Blindés vào tháng 4 năm 2007

Vào thời điểm bắt đầu Thế chiến thứ hai, phần lớn Hồng quân, bao gồm cả lực lượng thiết giáp, đang trong giai đoạn chuyển giao và phục hồi sau đợt thanh trừng sĩ quan năm 1937. Hồng quân đã phớt lờ những bài học từ trận Nomonhan, vốn được tiến hành thành công bởi Tướng Zhukov, và thay vào đó dựa vào bài học từ các sĩ quan được lựa chọn về mặt chính trị là cựu chiến binh của Nội chiến Tây Ban Nha. Kết quả là màn trình diễn yếu kém trong Chiến tranh Mùa đông.[23] Hạm đội xe tăng của Hồng quân cực kỳ lớn, bao gồm khoảng 24.000 phương tiện, nhưng nhiều chiếc đã lạc hậu hoặc không đủ điều kiện hoạt động do khó khăn trong việc cung cấp phụ tùng thay thế và thiếu lực lượng hỗ trợ có trình độ. Những nỗ lực lớn nhằm thúc đẩy sản xuất xe tăng trong suốt cuộc chiến đã giải quyết được một phần vấn đề này, và từ năm 1941 đến năm 1945, tổng sản lượng xe tăng và pháo tự hành đạt 102.800 chiếc.[24]

Một bước phát triển quan trọng đã diễn ra ngay trước chiến tranh, vốn ảnh hưởng đến học thuyết thiết giáp và thiết kế xe tăng của Liên Xô trong cả thập kỷ: sự ra đời của chiếc T-34. Được phát triển trên khung gầm hệ thống treo Christie và lần đầu tiên sử dụng giáp nghiêng, T-34 đã gây ra một cú sốc lớn cho các lực lượng Đức trong lần chạm trán đầu tiên với xe tăng T-34 và KV của Liên Xô. T-34 sở hữu sự kết hợp xuất sắc giữa tính cơ động, khả năng bảo vệ và hỏa lực. Nhờ sử dụng bản xích rộng, T-34 cũng có thể vượt qua các địa hình trong điều kiện thời tiết khó khăn, điều liên tục gây trở ngại cho các thiết kế của Đức.

Đánh giá thành công của chiến lược, phương pháp tác chiến và chiến thuật Blitzkrieg của Đức, Hồng quân đi đến kết luận rằng họ nên quay trở lại sử dụng các phương pháp tác chiến được phát triển trước chiến tranh, vì vậy các Tập đoàn quân xe tăng cuối cùng đã được thành lập. Để bổ sung cho T-34, các dòng xe tăng hạng nặng, pháo tự hành và xe diệt xe tăng cũng được thiết kế. Các lực lượng thiết giáp của Hồng quân được sử dụng tập trung trong tất cả các chiến dịch chiến lược của Hồng quân trong Thế chiến thứ hai, được khởi xướng dưới sự bảo mật nghiêm ngặt và sử dụng nguyên tắc bất ngờ.[25] Hơn nữa, để nâng cao năng lực chiến đấu của các đơn vị thiết giáp, tất cả xe tăng hạng nặng và hạng trung phải do sĩ quan chỉ huy và hạ sĩ quan làm kíp lái.[26]

Sự tập trung lực lượng xe tăng ở quy mô lớn cuối cùng đã được sử dụng trong chiến tranh. Trận Kursk đặc biệt được dẫn chứng như một ví dụ điển hình về một trận chiến xe tăng quy mô lớn.[27]

Đức

Tại Đức, các nghiên cứu chuyên sâu thông qua phương pháp tiếp cận lý thuyết, tập trận trên bản đồ và diễn tập dã chiến đã tạo nên sự tự tin trong bản thân lực lượng Panzertruppe (lính thiết giáp) (cũng như sự ủng hộ về mặt chính trị từ Hitler) vào các đội hình thiết giáp với tư cách là lực lượng nòng cốt trên chiến trường mặc dù quan điểm này trước năm 1940 chưa được các quân binh chủng khác chia sẻ. Một phần then chốt của học thuyết này là cải thiện liên lạc bằng cách trang bị đài vô tuyến trên tất cả các xe tăng, mặc dù lý tưởng này chịu nhiều hạn chế về mặt kỹ thuật do hầu hết xe tăng chỉ được trang bị bộ thu.

Tập tin:Bundesarchiv Bild 146-1976-071-36, Polen, an der Brahe, deutsche Panzer.jpg
Tướng Heinz Guderian (ngoài cùng bên phải trên chiếc Sd.Kfz. 251/3) đang chỉ huy đợt tiến quân của Quân đoàn XIX trong cuộc tấn công Ba Lan.

Vào thời điểm Thế chiến II bùng nổ, lực lượng thiết giáp Đức được hưởng lợi từ quá trình huấn luyện kĩ càng và linh hoạt hơn nhiều so với phe Đồng Minh ở cấp độ chiến thuật và chiến dịch. Xe tăng Đức vận hành dưới sự chỉ đạo của hệ thống liên lạc vô tuyến, cho phép các trưởng xe tận dụng tối đa tính cơ động của phương tiện.[28]

Ngay cả sau khi chiếm đóng Ba Lan, khái niệm "Blitzkrieg" vẫn chưa được định hình rõ ràng ở cấp chiến lược. Guderian và von Manstein đã thiết kế một chiến lược mang những nét bản chất mà sau này được xem là cốt lõi của Blitzkrieg: tập trung các sư đoàn panzer thực hiện các đợt đâm sâu nhanh chóng. Chiến lược này ban đầu không được Bộ Chỉ huy Tối cao Đức chấp thuận. Dù vậy, kế hoạch tấn công Pháp chính thức vào năm 1940 đã dựa vào yếu tố trọng điểm (Schwerpunkt) tại Sedan, và được giao cho các lực lượng này. Thành công rực rỡ của chiến dịch này đã khiến Blitzkrieg được tích hợp hoàn toàn vào kế hoạch chiến lược trong phần còn lại của cuộc chiến.

Xe tăng Đức có thể mang theo đủ nhiên liệu và nhu yếu phẩm để di chuyển gần 200 km, cùng lượng lương thực đủ dùng từ ba đến chín ngày.[28] Sự độc lập tương đối này khỏi các tuyến tiếp tế đã chứng minh hiệu quả, cho phép họ tiến quân đến các mục tiêu quan trọng nhanh hơn nhiều và không gặp do dự. Một yếu tố khác là khả năng của các chỉ huy trong việc đưa ra quyết định chiến lược ngay tại chiến trường mà không cần tham vấn quá nhiều với đại bản doanh nơi các mệnh lệnh đưa ra thường đơn giản là bị phớt lờ. Một ví dụ điển hình là phương pháp tiếp cận chỉ huy trực tiếp từ tiền tuyến của Erwin Rommel khi chỉ huy Sư đoàn Panzer số 7, cho phép ông phản ứng linh hoạt với tình hình chiến trường, một minh chứng cho thuật chỉ huy linh hoạt Auftragstaktik (dựa vào cấp dưới tự đưa ra quyết định).[29]

Tác động từ tốc độ, tính cơ động và khả năng liên lạc của lực lượng Panzer Đức đã gây sốc cho quân Pháp, và cuối cùng trở thành yếu tố quyết định trong trận chiến. Nó đã vượt qua sự yếu kém của Đức về giáp và hỏa lực so với các khí tài chính của Pháp như Char B1 bis.[30] Thực tiễn chiến thuật và chiến dịch vượt trội, kết hợp với việc triển khai chiến lược phù hợp, đã giúp người Đức đánh bại các lực lượng áp đảo về thiết giáp (cả về số lượng lẫn chất lượng) trong các trận đánh năm 1940,[30] nhưng ngay khi Blitzkrieg trở thành một học thuyết quân sự chủ động vào năm 1941, nó đã thất bại hoàn toàn ở mặt trận phía Đông, mặc dù ban đầu đạt được những thành công vang dội.

Trước chiến tranh, Heinz Guderian trong cuốn Achtung – Panzer! đã khởi xướng việc cơ giới hóa toàn diện các lực lượng Đức. Đến năm 1942, sản lượng xe chiến đấu thiết giáp gia tăng đã cho phép thực hiện lý tưởng này một cách đầy đủ hơn. Giờ đây, các đội hình hợp thành lực lượng thiết giáp quy mô lớn có thể được thành lập, khác biệt hoàn toàn với một đội hình thuần bộ binh hay kỵ binh.[31] Các sư đoàn panzer đã tích hợp xe tăng với bộ binh cơ giới (di chuyển trên xe bán xích để được bảo vệ khỏi hỏa lực súng bộ binh trong quá trình di chuyển) và pháo tự hành (lựu pháo được gắn trên khung gầm xe tăng). Điều này cho phép sư đoàn panzer trở thành một lực lượng chiến đấu độc lập, về nguyên tắc có thể vượt qua các vấn đề đạt được đợt đột phá chống lại bộ binh đối phương cố thủ được trang bị lượng lớn pháo chống tăng, những yếu tố vốn có tiềm năng chặn đứng hoàn toàn các đợt tấn công của xe tăng và gây thương vong thảm khốc cho các đơn vị thiết giáp không có bộ binh yểm trợ.[32] Tuy nhiên, phần lớn sản lượng xe chiến đấu thiết giáp ngày càng bị xé lẻ khỏi Panzertruppe. Binh chủng Pháo binh đã tự thành lập các đơn vị Sturmgeschütz (pháo tấn công) riêng và các sư đoàn bộ binh được cấp các đại đội Panzerjäger (diệt xe tăng) riêng. Mặc dù làm giảm quân số định ngạch chính thức, từ mùa hè năm 1943 trở đi, các sư đoàn thiết giáp bị thiếu hụt xe tăng về mặt cấu trúc.

Hoa Kỳ

Tập tin:United States World War II Tank Battalion November 1944 Structure.png
Cơ cấu một tiểu đoàn xe tăng Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 1944. Mỗi tiểu đoàn có 53 xe tăng hạng trung M4 Sherman và 17 xe tăng hạng nhẹ M5 Stuart. Các sư đoàn thiết giáp hạng nặng có 6 tiểu đoàn (318 xe tăng M4, 102 xe tăng M5) trong khi các sư đoàn thiết giáp hạng nhẹ có 3 tiểu đoàn (159 xe tăng M4, 51 xe tăng M5). Nhiều sư đoàn bộ binh Mỹ được biên chế cố định một tiểu đoàn xe tăng trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến ở Châu Âu.

Mặc dù Hoa Kỳ đã thành lập Quân đoàn Xe tăng trong Thế chiến I sử dụng xe tăng nhẹ Renault FT của Pháp và xe tăng hạng nặng Mark V và Mark V* của Anh,[33] và một số sĩ quan như Dwight D. EisenhowerGeorge S. Patton, Jr. đã bước ra khỏi cuộc chiến đó với tư cách là những người ủng hộ nhiệt thành việc tiếp tục và phát triển lực lượng thiết giáp Mỹ, việc cắt giảm lực lượng nhanh chóng cùng thái độ thờ ơ, thậm chí phản đối việc tài trợ và duy trì lực lượng vũ trang trong những năm giữa hai thế chiến đã dẫn đến sự trì trệ tương đối của học thuyết thiết giáp Hoa Kỳ. Adna R. Chaffee, Jr., gần như đơn độc, đã vận động cho tương lai của chiến tranh thiết giáp cũng như việc phát triển công tác huấn luyện, trang thiết bị và học thuyết phù hợp từ cuối những năm 1920 đến những năm 1930.

Lục quân Hoa Kỳ coi Quân đội Pháp là quân đội tốt nhất ở Châu Âu,[34] và do đó Lục quân Mỹ thường xuyên sao chép quân phục (trong Nội chiến Mỹ) và máy bay của Pháp. Chỉ khi Pháp nhanh chóng bị đè bẹp vào năm 1940, Lục quân Mỹ mới bị "sốc"[34] để suy nghĩ lại về những ảnh hưởng từ hành động của xe tăng Đức trong Chiến dịch Ba Lan năm 1939. Binh chủng Binh chủng Thiết giáp của họ chỉ được tạo ra cho đến năm 1940 khi Lực lượng Thiết giáp ra đời vào ngày 10 tháng 7 năm 1940, với Bộ Chỉ huy Lực lượng Thiết giáp và Bộ Chỉ huy Quân đoàn I Thiết giáp được thành lập tại Fort Knox. Vào ngày 15 tháng 7 năm 1940, Lữ đoàn 7 Kỵ binh (Cơ giới hóa) trở thành Sư đoàn Thiết giáp số 1; Lữ đoàn Xe tăng Tạm thời số 7, một đơn vị xe tăng bộ binh tại Fort Benning, trở thành Sư đoàn Thiết giáp số 2.[35] Tiểu đoàn Xe tăng được thành lập tại Fort Meade, bang Maryland, và một Trường Thiết giáp quy mô nhỏ cũng được thành lập.

Theo học thuyết này, kíp xe tăng Mỹ của cả các sư đoàn thiết giáp và các tiểu đoàn xe tăng thuộc Bộ Tổng Tư lệnh (GHQ) đều được huấn luyện để đối đầu với xe tăng trong các trận giao chiến xe tăng đấu xe tăng. Nhân sự lực lượng thiết giáp trong và sau cuộc chiến đã chỉ trích bộ binh vì sử dụng các tiểu đoàn xe tăng GHQ được biên chế cho các sư đoàn bộ binh thuần túy như một lực lượng hỗ trợ bộ binh.

Tập tin:American tank firing.jpg
Xe diệt xe tăng M10 GMC đang tác chiến gần Saint-Lô, tháng 6 năm 1944

Pháo chống tăng tự hành

Đội hình hợp thành của Hoa Kỳ bao gồm yểm trợ không quân, pháo binh, công binh và một thành phần xe tăng được bổ sung bởi các lực lượng pháo tự hành chống tăng được tổ chức thành các tiểu đoàn Pháo tự hành chống tăng độc lập. Khái niệm sau gắn liền nhất với Tướng Chỉ huy Lực lượng Mặt đất Lục quân, Lesley J. McNair. Sau khi nghiên cứu những thành công ban đầu của Đức, McNair đi đến niềm tin rằng các lực lượng Mỹ sẽ phải đối mặt với các lực lượng đối phương cơ động nhanh, những kẻ sẽ tìm cách bỏ qua, cô lập và tiêu diệt các lực lượng Mỹ trong một kịch bản lặp lại của Trận Pháp. Để ngăn chặn đợt càn quét của các đơn vị panzer, các tiểu đoàn diệt xe tăng hỏa lực mạnh, cơ động nhanh đã được tạo ra để giữ ở tuyến sau và sử dụng cho các đợt phản công.

Người ta cũng tính toán rằng lợi ích của Hoa Kỳ sẽ được phục vụ tốt hơn bởi một số lượng lớn các xe tăng hạng trung đáng tin cậy (khả năng chiến đấu tốt) thay vì một số lượng nhỏ các xe tăng hạng nặng không đáng tin cậy.[36] Do đó, quyết định chậm tiến độ sản xuất các thiết kế xe tăng hạng nặng của Mỹ như chiếc M26 Pershing và tập trung nguồn lực vào việc sản xuất hàng loạt chiếc M4 Sherman cùng các dòng pháo tự hành chống tăng như M18 Hellcat đã được đưa ra.

Để có thể tới vị trí phản công, các pháo tự hành chống tăng phải nhanh. Để đạt được tính cơ động và linh hoạt mong muốn từ các động cơ sẵn có, khả năng bảo vệ bằng giáp đã bị cắt bỏ, một biện pháp bảo vệ đến từ sự linh hoạt và hy vọng có thể tiêu diệt đối phương trước khi chúng kịp bắn trả. Mặc dù chúng thường sở hữu các khẩu pháo cỡ nòng 75 mm hoặc 76 mm (chiếc M36 sử dụng pháo cỡ nòng 90 mm), các đơn vị diệt xe tăng đã sử dụng loại đạn tiền thân của loại đạn xuyên giáp có guốc giảm cỡ hiện đại, giúp pháo của họ mạnh hơn nhiều so với các khẩu pháo khác cùng cỡ nòng.

Nhật Bản

Học thuyết của Nhật Bản chủ yếu theo khái niệm của Pháp nhưng có một số yếu tố thuần Nhật. Do các ưu tiên về hải quân của Nhật Bản trong việc đóng tàu chiến và các cuộc tranh chấp giữa các quân binh chủng (chi nhánh thủy quân lục chiến của IJN ưu tiên giáp bảo vệ toàn diện), xe tăng của IJA có giáp mỏng. Giống như hầu hết các xe thiết giáp trong những năm 1930, pháo chính có cỡ nòng nhỏ: 37 mm[37] cho xe tăng hạng nhẹ Type 95 Ha-Go và 47 mm cho xe tăng hạng trung Type 97 Chi-Ha, nhưng điều này đôi khi được bù đắp bằng sơ tốc đầu nòng cao. Việc IJA sử dụng xe tăng ở Trung Quốc là ví dụ điển hình cho học thuyết của mình: xe tăng hạng nhẹ được sử dụng để trinh sát hoặc hoạt động như một lực lượng hỗ trợ bộ binh cơ động, trong khi xe tăng hạng trung hỗ trợ bộ binh và tấn công các mục tiêu sâu hơn, nhưng không chiến đấu tập trung thành khối lớn.

Năm 1939, Quân đội Nhật Bản đã giao chiến với lực lượng thiết giáp Liên Xô tại Nomonhan. Trong cuộc chiến kéo dài ba tháng, lực lượng thiết giáp Nhật Bản đã bộc lộ điểm yếu trước xe tăng Liên Xô; và thất bại của Nhật Bản sau đó đã dẫn đến một loạt khiếu nại của Lục quân Đế quốc nhằm đưa ra những cải tiến cho thiết giáp Nhật Bản trong tương lai. Đây là lý do chính khiến xe tăng IJA không mấy thành công khi được sử dụng với các chiến thuật của IJA. Lực lượng xe tăng của Lục quân Mỹ bao gồm xe tăng hạng nhẹ M2A4M3 Stuart cho đến năm 1941,[38] mặc dù các phương tiện này "mới" hơn năm năm so với chiếc Type 95 chế tạo năm 1935, các xe tăng hạng nhẹ của IJA và Mỹ tương đương nhau, và dường như đã thể hiện tốt trong các chiến dịch chiến đấu trong rừng rậm ở giai đoạn này của Thế chiến II.[39]

Tập tin:Chi-Nu 2.jpg
Xe tăng hạng trung Type 3 Chi-Nu của Nhật Bản thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 4 tại Kyushu năm 1945

Giống như tất cả các xe thiết giáp, công tác bảo trì là một thách thức; đặc biệt là trong môi trường nhiệt đới. Khi xe tăng của IJA và SNLF (Thủy quân lục chiến Đế quốc) đụng độ với kẻ thù, họ đã bị tiêu diệt bởi pháo chống tăng hoặc số lượng xe tăng áp đảo của đối phương. Nhật Bản chủ yếu là một cường quốc hải quân, và với sự bắt đầu của Chiến tranh Thái Bình Dương, các ưu tiên của Nhật Bản đã chuyển sang sản xuất tàu chiến và máy bay. Nguồn lực phát triển và sản xuất phương tiện thiết giáp cho Lục quân được dành ưu tiên thấp.[40] Điều này khiến xe tăng của họ nhanh chóng trở nên lạc hậu trong những năm sau của cuộc chiến. Một số thiết kế ngang bằng với các loại xe hạng nặng của nước ngoài đã nằm trên bản vẽ trong những năm cuối của cuộc chiến, nhưng sản xuất không thể tiến triển vượt quá số lượng nhỏ hoặc giai đoạn thử nghiệm do thiếu hụt nguyên vật liệu và sự sụp đổ hạ tầng công nghiệp của Nhật Bản bởi các đợt ném bom chiến lược của Đồng Minh xuống Nhật Bản. Ngoài ra, các xe tăng và pháo tự hành chống tăng này được đưa vào lực lượng dự bị, để triển khai cho cuộc phòng thủ dự kiến tại các đảo chính quốc Nhật Bản.[41][42]

Trung Quốc

Sư đoàn 200 của Quân Cách mạng Quốc gia thuộc Dân Quốc là sư đoàn cơ giới hóa duy nhất của quốc gia này trong chiến tranh. Sư đoàn 200 đã sử dụng các xe tăng thời tiền chiến thu được từ Ý, Đức và Liên Xô.

Sau năm 1945

Các cuộc chiến tranh Ả Rập - Israel

Xung đột giữa các quốc gia Ả Rập ở khu vực Đông Địa Trung Hải và Israel nói riêng đã trở thành nơi thử nghiệm cho sự phát triển của chiến tranh thiết giáp trong suốt những thập kỷ Chiến tranh Lạnh. Cả hai bên trong chuỗi xung đột Ả Rập - Israel đều sử dụng rộng rãi xe tăng và các phương tiện thiết giáp khác do tính thực tiễn của xe tăng trong môi trường sa mạc nơi hầu hết các cuộc xung đột này diễn ra.

Trong Khủng hoảng Kênh đào SuezChiến tranh Sáu Ngày (1967), các đơn vị thiết giáp Israel thường chiếm ưu thế, chủ yếu nhờ vào các chiến thuật tốt và sự phối hợp giữa các đơn vị.

Ngược lại, Chiến tranh Yom Kippur (1973) lại minh họa cho những vấn đề có thể phát sinh nếu các đơn vị thiết giáp và bộ binh không phối hợp chặt chẽ với nhau. Xe tăng Israel, hoạt động độc lập với số lượng lớn, đã bị tàn phá bởi các đội chống tăng Ai Cập vốn được bố trí rải rác hợp lý giữa lực lượng bộ binh thông thường và thường được trang bị các loại tên lửa chống tăng có điều khiển thế hệ đầu tiên mới xuất hiện. Đây là một ví dụ điển hình minh chứng cho những gì đã được ghi nhận khá đầy đủ kể từ Thế chiến thứ hai: xe tăng và bộ binh hoạt động tốt nhất bằng cách tận dụng thế mạnh của nhau và kết hợp để giảm thiểu các điểm yếu.

Trong nhiều cuộc xung đột, người ta thường thấy bộ binh ngồi trên lưng xe tăng, sẵn sàng nhảy xuống và hỗ trợ khi cần thiết. Tuy nhiên, thiết kế của nhiều xe tăng hiện đại khiến đây trở thành một thực hành nguy hiểm. Ví dụ, chiếc M1 Abrams chạy bằng động cơ turboshaft xả ra khí thải nóng đến mức bộ binh ở gần phải cẩn thận với vị trí đứng. Xe tăng cũng có thể rất dễ bị tổn thương trước hỏa lực pháo binh ngắm bắn chuẩn xác; sự phối hợp tốt từ không quân yểm trợ và các đơn vị pháo binh phản pháo có thể giúp vượt qua điều này.

Sự xuất hiện của tên lửa có điều khiển

Mặc dù các nỗ lực nhằm đánh bại xe tăng đã được thực hiện trước và trong Thế chiến thứ hai thông qua việc sử dụng pháo chống tăng tốc độ cao truyền thống, điều này ngày càng trở nên khó khăn trong thời kỳ hậu chiến do khả năng bảo vệ bằng giáp và tính cơ động của xe tăng ngày càng tăng.

Để đáp trả, Liên Xô, quốc gia có đội thiết giáp lớn nhất thế giới, đã nỗ lực tích hợp một số năng lực chống tăng vào hầu hết mọi loại vũ khí bộ binh. Đến những năm 1960, các nhà khoa học quốc phòng Liên Xô đã thiết kế các loại tên lửa chống tăng có điều khiển (ATGM) vác vai. Những vũ khí mới này hoặc do bộ binh mang theo, hoặc được bắn từ dòng xe chiến đấu bộ binh BMP-1 mới phát triển. Chúng đã được đưa vào sử dụng trong các lực lượng Liên Xô trước khi thập kỷ này kết thúc.

Năm 1973, Quân đội Israel đã không lường trước được tầm quan trọng của các hệ thống vũ khí mới này. Hàng trăm tên lửa chống tăng vác vai AT-3 Sagger do Liên Xô viện trợ cho Ai Cập, vốn có thể được vận hành bởi bộ binh mà không cần huấn luyện chuyên sâu, đã gây ra tổn thất nặng nề cho các đội hình thiết giáp Israel. Kể từ đó, ATGM đóng một vai trò quan trọng trong Quân đội Israel, giúp phát triển các phiên bản tiên tiến sản xuất trong nước (xem tên lửa Spike/Gil), vốn đã được xuất khẩu rộng rãi trên toàn thế giới.

Trong cuộc xung đột với Hezbollah năm 2006, mặc dù bộ binh Israel có thể dễ dàng đánh bại các đội ATGM đối phương, các xe tăng hoạt động đơn độc vẫn hứng chịu nhiều cú đánh từ các loại đầu đạn nổ kép (tandem) tiên tiến mới nhất của Nga (như Kornet). Điều này làm nổi bật rằng các xe tăng hoạt động đơn độc trong kỷ nguyên ATGM là cực kỳ dễ bị tổn thương.

Để phản ứng trước những tổn thất xe tăng nghiêm trọng phải chịu trước Hezbollah, tập đoàn Rafael Advanced Defense Systems phối hợp với Israel Aircraft Industries đã phát triển một hệ thống phòng thủ tên lửa cho xe tăng, gọi là Trophy, nhằm đánh chặn và tiêu diệt các tên lửa chống tăng.[43][44] Hệ thống này đã được triển khai thành công trong chiến đấu vào ngày 1 tháng 3 năm 2011 khi nó đánh chặn một tên lửa chống tăng trong một đụng độ ở biên giới Gaza.[45]

NATO

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, NATO coi chiến tranh thiết giáp là một khía cạnh thống trị của chiến tranh trên bộ quy ước ở Châu Âu. Mặc dù việc sử dụng xe tăng nhẹ phần lớn bị ngừng lại và xe tăng hạng nặng cũng hầu như bị từ bỏ, thiết kế xe tăng hạng trung đã tiến hóa thành các mẫu hạng nặng hơn do sự gia tăng giáp bảo vệ và kích thước pháo chính lớn hơn, dẫn đến sự ra đời của Xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT), loại xe kết hợp hầu hết ưu điểm của các dòng xe tăng khác nhau trong Thế chiến thứ hai.

Phần lớn học thuyết thiết giáp của NATO vẫn mang tính phòng thủ, và bị chi phối bởi việc sử dụng vũ khí hạt nhân như một biện pháp răn đe. Mặc dù hầu hết các quốc gia NATO bắt đầu thời kỳ Chiến tranh Lạnh với số lượng lớn xe tăng do Mỹ thiết kế trong lực lượng của mình, đã có sự bất đồng đáng kể về thiết kế của các MBT tương lai giữa các quốc gia lớn trong NATO. Cả Mỹ và Đức đều thử nghiệm nhưng sau đó đã hủy bỏ dự án xe tăng trang bị tên lửa MBT-70. Thiết kế cơ bản M26 Pershing của Hoa Kỳ đã tiến hóa cho đến khi chiếc xe tăng chiến đấu chủ lực M60[46] được thay thế bằng chiếc M1 Abrams chạy bằng động cơ tuốc bin khí vào những năm 1980. Quân đội Anh cũng giữ lại một thiết kế xe tăng từ Thế chiến II, chiếc Centurion, vốn chứng minh được sự thành công rực rỡ và không bị thay thế hoàn toàn cho đến những năm 1970.

Quân đội Tây Đức (Bundeswehr) đã quyết định tự phát triển xe tăng của riêng mình vào những năm 1960, và đến những năm 1970 đã sản xuất ra dòng Leopard 1, một thiết kế nhẹ hơn một chút, phù hợp với học thuyết của Đức vốn nhấn mạnh tốc độ hơn là khả năng bảo vệ. Từ cùng một dự án hợp tác ban đầu như Leopard 1, dòng xe tăng AMX của Pháp cũng đề cao tính vận động hơn giáp bảo vệ. Đến thế kỷ 21, hầu hết các xe tăng chiến đấu chủ lực tiên tiến của phương Tây đều được xây dựng xung quanh các động cơ mạnh mẽ, pháo lớn 120 mm và giáp phức hợp.

Khối Warszawa

Tập tin:Soviet big 7.jpg
Mối đe dọa "Bảy đại gia" của Khối Warszawa
Tập tin:Czechoslovakian OT-62B.JPEG
Xe bọc thép chở quân OT-62 TOPAS của Tiệp Khắc, do Podpolianske strojárne Detva sản xuất tại Slovakia

Học thuyết thiết giáp của Khối Warszawa chịu ảnh hưởng đáng kể bởi những phát triển trong Quân đội Liên Xô, vốn tìm cách điều chỉnh học thuyết hiện có được phát triển trong Thế chiến II phù hợp với chiến trường hạt nhân. Vào đầu những năm 1960, điều này đã dẫn đến một số bước phát triển quan trọng trong các lực lượng thiết giáp và các binh chủng hỗ trợ của họ. Một bước phát triển quan trọng là sự chuyển đổi từ việc sử dụng Cụm cơ động kỵ binh (CMG) thời Thế chiến II sang Cụm tác chiến cơ động (OMG) thời Chiến tranh Lạnh vốn được thiết kế để khai thác các điểm đột phá nhằm đâm sâu vào hệ thống phòng thủ của NATO. Đây là đỉnh cao của lý thuyết Tác chiến chiều sâu có từ những năm 1930.[47]

Năm 1964, một bước đột phá quan trọng trong thiết kế xe tăng đã đạt được ở Liên Xô khi chiếc T-64 được sản xuất, lần đầu tiên sử dụng bộ nạp đạn tự động, giảm kíp xe xuống còn ba người. Sau đó, mẫu xe này và các dòng xe tăng T-72T-80 sau này đã đưa ra những đổi mới hơn nữa ảnh hưởng đến chiến tranh thiết giáp bằng cách đưa tên lửa có điều khiển vào cơ cấu đạn xe tăng, cho phép bắn ATGW từ pháo xe tăng tiêu chuẩn. Liên Xô cũng là một trong những quốc gia sử dụng hai dòng Xe tăng chiến đấu chủ lực: Dòng T-80 chất lượng cao và dòng T-72 chất lượng thấp hơn. Các xe tăng hiện đại của Liên Xô, như những loại đã đề cập, thường được trang bị pháo nòng trơn 125 mm (5 in). Những tiến bộ trên xe tăng Liên Xô bao gồm hệ thống điều khiển hỏa lực cải tiến, giáp mạnh được bảo vệ bởi giáp phản ứng nổ (ERA), và các biện pháp đối phó phòng thủ (như Shtora-1Arena). Xe tăng tiên tiến nhất của Liên Xô, cho đến khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, là chiếc T-80U, vốn sở hữu các đặc tính tương tự như chiếc M1A1 (động cơ tuốc bin, hệ thống điều khiển hỏa lực] tiên tiến, giáp mạnh và hỏa lực lớn).

Xe chiến đấu bộ binh lần đầu tiên được phát triển vào những năm 1960 với chiếc BMP-1 của Liên Xô, lần đầu tiên cho phép bộ binh đi cùng đồng hành cùng xe tăng trên chiến trường khi việc sử dụng vũ khí hạt nhân được dự đoán trước.

Các chiếc T-64BMP-1 cũng được phối hợp bởi pháo tự hành và quan trọng hơn là Mi-24 có khả năng bắn tên lửa chống tăng bắt đầu đi vào sản xuất năm 1970, vốn được chế tạo và đưa vào lý thuyết như những "xe tăng bay".

Bộ đội xe tăng Liên Xô bao gồm các đơn vị thiết giáp, các trung đoàn huấn luyện thiết giáp cùng các đội hình và đơn vị khác.

Chiến tranh Việt Nam

Xe bọc thép chở quân M113 đã chứng minh hiệu quả trên địa hình Việt Nam chống lại các lực lượng đối phương, những người mà cho đến năm 1968 hiếm khi triển khai lực lượng thiết giáp của mình.[48] Mặc dù sớm bị đối phó bằng mìn và súng RPG, M-113 vẫn tiếp tục phục vụ trong suốt cuộc chiến, chủ yếu tiến hóa thành các xe chiến đấu bộ binh, được gọi là ACAV[49] (Xe tấn công Kỵ binh Thiết giáp); và hoạt động như một "xe tăng nhẹ".[49][50]

Các xe chiến đấu bộ binh được trang bị hỏa lực mạnh hơn như chiếc M2/M3 Bradley sẽ dựa trên kinh nghiệm với M113. Các xe tải vũ trang cũng được giới thiệu dưới dạng các xe tải M35 được lắp thêm giáp và pháo để bảo vệ các đoàn xe. Năm 1968, các lực lượng Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ yếu triển khai dòng xe tăng nhẹ PT-76 do Liên Xô chế tạo.

Đến năm 1971, các xe tăng hạng trung T-54 lớn hơn đã xuất hiện trên chiến trường, chứng tỏ chúng dễ bị tổn thương trước tên lửa M-72 LAW, các xe tăng nhẹ M41 Walker Bulldog của QLVNCH, cũng như các xe tăng M48A3 Patton lớn hơn. Vào tháng 1 năm 1969, các đơn vị kỵ binh thiết giáp Mỹ bắt đầu đổi các xe tăng M48A3 Patton của họ lấy các phương tiện tấn công trinh sát cơ giới đường không M551 Sheridan; đến năm 1970, hơn 200 xe tăng Sheridan đã hoạt động tại Việt Nam.[51]

Thế kỷ 21

Tập tin:Abrams in formation.jpg
Lực lượng hợp thành gồm xe tăng M1 Abrams, xe chiến đấu bộ binh M2 Bradley và một đoàn xe hậu cần đang tiến quân trong Chiến tranh vùng Vịnh
Tập tin:Leclerc-openphotonet PICT5995.JPG
Xe tăng Leclerc ở vị trí "hull-down" (ẩn thân). Lưu ý kính tiềm vọng quan sát cho phép trưởng xe quan sát ngay cả khi xe ở vị trí ẩn thân.
Tập tin:Puma, first series.jpg
Xe Puma của Đức là một loại xe chiến đấu bộ binh được bảo vệ tốt, có khả năng vận chuyển binh sĩ ra tiền tuyến.

Xe tăng hiếm khi hoạt động đơn độc; đơn vị nhỏ nhất thường là một trung đội (đơn vị nhỏ nhất của Lục quân/Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ do một sĩ quan chỉ huy, là thành phần của đại đội hoặc đơn vị kỵ binh) gồm từ ba đến năm xe tăng. Các xe tăng trong trung đội phối hợp cùng nhau để hỗ trợ lẫn nhau: hai xe có thể tiến lên trong khi được các xe khác yểm trợ, sau đó dừng lại và yểm trợ cho các xe còn lại tiếp tục tiến lên.[52]

Thông thường, nhiều trung đội phối hợp với bộ binh cơ giới và sử dụng tính cơ động cùng hỏa lực của mình để chọc thủng các điểm yếu trên phòng tuyến đối phương. Đây là lúc sức mạnh động cơ, hệ thống xích và tháp pháo phát huy tác dụng. Khả năng xoay tháp pháo đủ 360° cho phép phối hợp di chuyển trong và giữa các trung đội, đồng thời phòng thủ trước các đợt tấn công từ nhiều hướng và giao chiến với bộ binh hoặc phương tiện địch mà không cần dừng lại hay giảm tốc độ.[53]

Khi phòng thủ, xe tăng chờ sẵn tại các vị trí đã chuẩn bị hoặc tận dụng các yếu tố địa hình tự nhiên (như các ngọn đồi nhỏ) để ẩn nấp. Một chiếc xe tăng nằm ngay sau đỉnh đồi ("hull-down" – ẩn thân) chỉ để lộ phần đỉnh tháp pháo, cùng pháo chính và các cảm biến, ra trước mặt địch, trở thành mục tiêu nhỏ nhất có thể trong khi vẫn cho phép nó giao chiến với kẻ thù ở phía bên kia đồi. Xe tăng thường có khả năng hạ nòng pháo xuống dưới mức nằm ngang vì các loại đạn động năng (KE) hiện đại có quỹ đạo bay gần như phẳng. Nếu không có điều này, chúng sẽ không thể khai thác các vị trí như vậy. Tuy nhiên, khi leo lên đỉnh đồi, xe tăng có thể để lộ phần gầm có giáp mỏng ra trước vũ khí đối phương.[53]

Cách bố trí giáp quanh xe tăng không đồng nhất; mặt trước thường được bọc giáp tốt hơn hai bên hoặc phía sau. Theo đó, thực hành thông thường là luôn giữ phần trước hướng về phía kẻ thù; xe tăng rút lui bằng cách lùi thay vì quay đầu. Lùi xe ra xa khỏi kẻ thù thậm chí còn an toàn hơn tiến về phía trước vì việc lái xe qua một mô đất có thể làm hất tung phần trước của xe tăng lên không trung, để lộ lớp giáp mỏng ở gầm và khiến pháo không thể ngắm mục tiêu do giới hạn góc hạ nòng.[53]

Hệ thống xích, bánh xe và hệ thống treo của xe tăng nằm bên ngoài thân bọc thép và là một trong những điểm dễ bị tổn thương nhất. Cách dễ nhất để vô hiệu hóa một chiếc xe tăng (ngoài việc bắn trúng trực tiếp vào khu vực dễ bị tổn thương bằng vũ khí chống tăng hạng nặng) là nhắm vào hệ thống xích để gây ra "vô hiệu hóa khả năng cơ động" (m-kill), hoặc làm mù tất cả các thiết bị quan sát bên ngoài bằng các chất dính như cao su nóng chảy hoặc nhựa epoxy độ nhớt cao bị làm đen. Khi xe tăng đã bị vô hiệu hóa, nó sẽ dễ bị tiêu diệt hơn. Đây là lý do tại sao các tấm ốp hông là một tính năng quan trọng; chúng có thể làm chệch hướng đạn súng máy hạng nặng và kích nổ các loại đạn nổ lõm chống tăng (HEAT) trước khi chúng đập vào hệ thống truyền động. Các bộ phận dễ bị tổn thương khác của xe tăng bao gồm khoang động cơ (với các cửa hút gió, bộ tản nhiệt, v.v.) và vòng quay tháp pháo, nơi tháp pháo nối với thân xe.

Khi sử dụng trong phòng thủ, xe tăng thường được đào hào hoặc đặt sau các bờ đất để tăng cường khả năng bảo vệ. Xe tăng có thể bắn vài phát từ vị trí phòng thủ, sau đó rút lui (bằng cách lùi) về một vị trí dự bị khác xa hơn và lái xe ra sau các bờ đất hoặc vào các chiến hào tại đó. Những vị trí này có thể do kíp xe tự xây dựng, nhưng việc chuẩn bị sẽ tốt hơn và nhanh hơn nếu được thực hiện bởi lực lượng công binh với xe ủi. Các tấm che phía trên, ngay cả khi khá mỏng, cũng rất hữu ích vì chúng có thể giúp kích nổ sớm đạn pháo và tránh các cú bắn trực diện từ trên cao, vốn có thể gây chết người cho xe tăng bằng cách đánh vào phần giáp mỏng nhất. Tóm lại, các kíp xe tăng tìm mọi cách có thể để gia cố giáp cho phương tiện của mình.

Xe tăng thường ra trận với một viên đạn đã nạp trong nòng, sẵn sàng khai hỏa để giảm thiểu thời gian phản ứng khi chạm trán kẻ thù. Học thuyết của Mỹ yêu cầu viên đạn này phải là đạn động năng (KE), vì thời gian phản ứng là quan trọng nhất khi đối đầu với xe tăng địch để giành được phát bắn đầu tiên (và có thể là lần tiêu diệt đầu tiên). Nếu chạm trán bộ binh hoặc phương tiện nhẹ, phản ứng thông thường là bắn viên đạn này vào chúng, mặc dù đó không phải là lựa chọn lý tưởng, rất khó và mất thời gian để lấy ra một viên đạn đã nằm sẵn trong buồng đạn. Trong trường hợp này, sau khi bắn viên đạn KE, một viên đạn HEAT thường sẽ được nạp tiếp theo để tiếp tục tác chiến.

Xe tăng có thể đóng vai trò quyết định trong chiến đấu đô thị, với khả năng phá hủy tường và bắn súng máy hạng trung và hạng nặng theo nhiều hướng cùng lúc. Tuy nhiên, xe tăng đặc biệt dễ bị tổn thương trong chiến đấu đô thị. Bộ binh đối phương dễ dàng lẻn ra sau xe tăng hoặc bắn vào hai bên hông, nơi dễ bị tổn thương nhất. Ngoài ra, việc bắn từ các tòa nhà cao tầng cho phép nhắm vào lớp giáp mỏng ở đỉnh tháp pháo, và ngay cả những vũ khí đơn giản như bom xăng, nếu nhắm vào cửa hút gió động cơ, cũng có thể làm vô hiệu hóa xe tăng. Do những giới hạn này, xe tăng khó sử dụng trong các cuộc xung đột đô thị nơi dân thường hoặc lực lượng phe ta có thể ở gần, vì hỏa lực của chúng không thể được sử dụng hiệu quả.

Một số nhà phân tích cho rằng các cuộc xung đột gần đây, như Nga xâm lược Ukraine, làm nổi bật sự dễ bị tổn thương ngày càng tăng của xe tăng.[54][55] Các ước tính từ đầu năm 2024 cho thấy Nga đã mất khoảng 3.000 xe tăng trong hai năm đầu của cuộc xung đột, với con số thực tế có thể cao hơn.[54] Ngược lại, trong Chiến tranh Gaza, các xe tăng Israel được trang bị hệ thống phòng thủ chủ động (APS) đã cho thấy khả năng sống sót được cải thiện trước tên lửa chống tăng. Ngoài ra, việc sử dụng xe tăng theo cặp với hệ thống APS chồng lấp nhau đã cung cấp khả năng phòng thủ bổ sung và nâng cao hiệu quả tổng thể của chúng.[55]

Các mối đe dọa từ trên không

Xe tăng và các phương tiện thiết giáp khác dễ bị tấn công từ trên không vì nhiều lý do. Một là chúng dễ bị phát hiện—kim loại chế tạo nên chúng hiển thị rất rõ trên radar, đặc biệt rõ ràng nếu chúng di chuyển theo đội hình. Một chiếc xe tăng đang di chuyển cũng tạo ra rất nhiều nhiệt, tiếng ồn và bụi. Nhiệt lượng làm cho việc nhìn thấy chúng trên hệ thống hồng ngoại nhìn trước (FLIR) trở nên dễ dàng và bụi là dấu hiệu trực quan tốt vào ban ngày.

Lý do quan trọng khác là hầu hết các phương tiện thiết giáp có lớp giáp mỏng hơn trên nóc tháp pháo và khoang động cơ, vì vậy một quả tên lửa chống tăng hoặc bom (từ trực thăng tấn công, máy bay chiến đấu không người lái, máy bay cường kích hoặc drone nhỏ) đánh vào từ phía trên có thể gây chết người ngay cả khi đầu đạn nhỏ. Ngay cả một khẩu pháo tự động nhỏ cũng đủ mạnh để xuyên thủng phần sau và phần trên của khoang động cơ xe tăng. Đạn tuần kích (drone tự sát) cũng được sử dụng để tấn công xe tăng trong chiến tranh hiện đại.

Tập tin:A10 gun.jpg
Cận cảnh khẩu pháo GAU-8 Avenger trên máy bay A-10

Một số loại máy bay đã được phát triển để tấn công phương tiện thiết giáp. Đáng chú ý nhất là chiếc Fairchild Republic A-10 Thunderbolt II, còn được gọi là "Warthog", được thiết kế chuyên biệt. Mặc dù có khả năng mang nhiều loại tên lửa và bom khác nhau (bao gồm vũ khí chống tăng như AGM-65 Maverick), vũ khí chính của A-10 là khẩu pháo Gatling 30 mm GAU-8/A Avenger, có khả năng bắn 3.900 viên đạn xuyên giáp uranium nghèo mỗi phút. Tương đương của Nga là chiếc Su-25.

Tập tin:RNLAF AH-64 Apache at the Oirschotse Heide Low Flying Area (36570605232).jpg
AH-64 Apache, một loại trực thăng tấn công được thiết kế để tiêu diệt phương tiện thiết giáp

Tương tự, một số loại trực thăng vũ trang đã được thiết kế chủ yếu để giao chiến với phương tiện thiết giáp đối phương. AH-1Z Viper, AH-64 Apache, HAL Light Combat Helicopter, Denel Rooivalk, Eurocopter Tiger, Ka-50 Black Shark, Mi-28 Havoc, A129 MangustaWestland Lynx là những ví dụ. Trực thăng rất hiệu quả đối với phương tiện thiết giáp vì nhiều lý do. Ví dụ, AH-64D Longbow Apache được trang bị bộ cảm biến và hệ thống vũ khí cải tiến cùng vòm radar kiểm soát hỏa lực AN/APG-78 Longbow lắp phía trên cánh quạt chính.

Các mối đe dọa từ trên không có thể bị phản công bằng nhiều cách. Một là giành ưu thế trên không. Đây là điều mà Hoa Kỳ dựa vào nhiều nhất, thể hiện qua việc thiếu hụt rõ rệt các phương tiện phòng không di động, tầm ngắn hiệu quả để đi kèm các đơn vị thiết giáp. Hầu hết các quốc gia khác hộ tống lực lượng thiết giáp của họ bằng các loại pháo phòng không tự hành cơ động cao như chiếc Gepard của Đức hoặc 9K22 Tunguska của Liên Xô, các hệ thống tên lửa đất đối không tầm ngắn và tầm trung như SA-6, SA-8SA-11, hoặc kết hợp cả hai trên cùng một phương tiện (ví dụ, Tunguska cũng có thể mang theo tên lửa phòng không SA-19). Việc sử dụng đạn phòng không bắn từ pháo chính của xe tăng cũng ngày càng tăng qua nhiều năm. Một ví dụ là loại đạn HE-FRAG từ chiếc T-90 có thể được kích nổ ở một khoảng cách nhất định do máy đo xa laser xác định.[56]

Hỗ trợ kỹ thuật

Chiến tranh thiết giáp đòi hỏi cường độ cao về cơ khí và hậu cần, cần có các cơ chế hỗ trợ mở rộng. Các phương tiện chiến đấu thiết giáp đòi hỏi các phương tiện thiết giáp có khả năng hoạt động trên cùng địa hình để hỗ trợ chúng. Các phương tiện này được vận hành bởi các quân binh chủng phù hợp của lục quân, ví dụ: phương tiện cứu kéo và bảo dưỡng bởi REME (Quân đoàn Kỹ thuật Điện và Cơ khí Hoàng gia) và phương tiện công binh chiến đấu bởi RE (Công binh Hoàng gia) trong Quân đội Anh. Chúng bao gồm:

Để vận chuyển các phương tiện chiến đấu thiết giáp bánh xích trên đường cao tốc, các loại xe vận tải hạng nặng được sử dụng, vì phương tiện thiết giáp dễ bị hỏng hóc và xích của chúng cũng phá hỏng mặt đường cao tốc.

Xe tăng hạng nhẹ và xe diệt xe tăng

Tập tin:French AMX-10RC in the desert.JPEG
Xe AMX-10RC của Pháp trong Chiến dịch Lá chắn Sa mạc tại Chiến tranh vùng Vịnh

Trong khi xe tăng là một phần không thể thiếu của chiến tranh thiết giáp, khi cầnphô diễn sức mạnh, việc không thể triển khai nhanh chóng luôn là một hạn chế của các loại xe tăng chiến đấu chủ lực hạng nặng.

Mất vài tuần để chuyển xe tăng và thiết bị hỗ trợ bằng đường hàng không hoặc đường biển. Một số xe tăng và phương tiện thiết giáp có thể được thả bằng dù, hoặc chở bằng máy bay vận tải hay trực thăng. Các phương tiện vận tải lớn nhất chỉ có thể chở một hoặc hai xe tăng chiến đấu chủ lực. Các phương tiện vận tải nhỏ hơn chỉ có thể chở hoặc thả dù xe tăng hạng nhẹ và xe thiết giáp chở quân như M113.

Mong muốn tạo ra các phương tiện thiết giáp có thể vận chuyển bằng đường hàng không mà vẫn có thể đối đầu với các MBT quy ước thường dẫn đến các loại xe hạng nhẹ trang bị ATGM hoặc các loại xe kiểu pháo tự hành. Sự thiếu hụt giáp bảo vệ được bù đắp bằng khả năng "phát hiện trước/bắn trước/tiêu diệt trước" thông qua việc kết hợp pháo mạnh với thiết bị điện tử nhắm mục tiêu vượt trội, một khái niệm tương tự như các loại xe diệt xe tăng của Mỹ trong Thế chiến II.

Tập tin:XM1202 MCS.jpg
Mô hình đồ họa của dự án XM1202 đã bị hủy bỏ của Lục quân Hoa Kỳ

Các phương tiện đã đưa những cân nhắc như vậy vào thực tế bao gồm xe tăng hạng nhẹ Stingray, AMX 10 RCB1 Centauro. Hầu hết các dự án tương tự của Mỹ nhằm tạo ra các phương tiện như vậy đều thất bại, ví dụ như M8. Phổ biến nhất là xe tăng hạng nhẹ M551 Sheridan đầy khiếm khuyết. Đây là loại xe tăng có thể vận chuyển bằng đường hàng không, có khả năng tiêu diệt các xe tăng nặng hơn bằng bệ phóng CLGP 152 mm mang tính cách mạng (vào thời điểm đó). Hiệu quả chiến đấu của xe tăng này bị hạn chế bởi loại tên lửa MGM-51 Shillelagh thiếu tin cậy. Phiên bản mới nhất của nền tảng pháo chống tăng cơ động trong quân đội Mỹ là xe mang tên lửa chống tăng M1134, một biến thể của Stryker được trang bị tên lửa TOW; hầu hết các quân đội hiện đại đều vận hành các loại phương tiện tương đương.

Mặc dù các cuộc xung đột giới hạn hiếm khi liên quan đến giao tranh trực tiếp giữa các phương tiện thiết giáp, nhu cầu phòng thủ trước các đợt tấn công của quân nổi dậy và IED đã dẫn đến việc áp dụng giáp cho các phương tiện hạng nhẹ và tiếp tục sử dụng các loại xe vận tải bọc thép, xe chiến đấu và xe tăng.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b Nye, Logan (ngày 14 tháng 12 năm 2018). "10 Tanks That Changed the History of Armored Warfare". Military.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2022.
  2. ^ a b "tactics - The armoured offensive". www.britannica.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2022.
  3. ^ Ogorkiewicz, R. M. (1968). Design and development of fighting vehicles. London: Macdonald. tr. 27.
  4. ^ Ramspacher (1979), tr. 52-53.
  5. ^ Hammond, B. (2009). Cambrai 1917: The Myth of the First Great Tank Battle. London: Orion. ISBN 978-0-7538-2605-8.
  6. ^ Perrett (1990), tr. 12.
  7. ^ Perrett (1990), tr. 9.
  8. ^ Perrett (1990), tr. 7.
  9. ^ An Experimental Mechanised Force For the 21st Century? Boyd, S.F. 1999 British Army Review, 121. 1999(Apr), pp 17-22
  10. ^ Perrett (1990), tr. 14.
  11. ^ a b Kuo, Kendrick (2022). "Dangerous Changes: When Military Innovation Harms Combat Effectiveness". International Security. 47 (2): 48–87. doi:10.1162/isec_a_00446. S2CID 253225173.
  12. ^ p.32, Design and development of fighting vehicles, R.M. Ogorkiewicz, Macdonald, London, 1968
  13. ^ Goldman (2012), tr. 123.
  14. ^ Gérard Saint-Martin, 1998, L'Arme Blindée Française. Tome 1. Mai-juin 1940 ! Les blindés français dans la tourmente, Economica, Paris
  15. ^ Zaloga & Grandsen (1984), tr. 106.
  16. ^ a b Frieser, Karl-Heinz (2005). The Blitzkrieg Legend: The 1940 Campaign in the West (ấn bản thứ 1). Naval Institute Press. ISBN 1591142946.
  17. ^ Zaloga & Grandsen (1984), tr. 109.
  18. ^ Goldman (2012), tr. 123, 124.
  19. ^ Zaloga & Grandsen (1984), tr. 110.
  20. ^ Harris, John Paul, 1995, "The Myth of Blitzkrieg", War in History II November 1995: 335–352
  21. ^ Perrett (1990), tr. 18.
  22. ^ p.38, Race to the swift: Thoughts on the Twenty-first century warfare, Brig. Richard E. Simpkin, Brassey's, London, 1985
  23. ^ Goldman (2012), tr. 123,167.
  24. ^ "WWII: tank and SPG production by country 1939-1945". Statista (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026.
  25. ^ Glantz, David, biên tập (tháng 3 năm 1984). From the Don to the Dnepr: Soviet Offensive Operations - December 1942–August 1943. 1984 Art of War symposium. Carlisle, PA: United States Army War College.
  26. ^ "Ranks and Posts". Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2024.
  27. ^ "Kursk WW2: Why Russia is still fighting world's biggest tank battle". www.bbc.com (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026.
  28. ^ a b "Blitzkrieg". Spartacus Educational. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2019.
  29. ^ Samuels, Martin (tháng 7 năm 2017). "Erwin Rommel and German Military Doctrine, 1912–1940". War in History. 24 (3): 308–335. doi:10.1177/0968344515623982. ISSN 0968-3445. S2CID 151367404.
  30. ^ a b Koster, John (2017). "When France Defied Hitler's Panzers". Military History. 34: 30–37 – qua EBSCOhost.
  31. ^ Harding, David P. (1994). "Heinz Guderian As the Agent of Change: His Significant Impact on the Development of German Armored Forces Between the World Wars". Army History (31): 26–34. ISSN 1546-5330. JSTOR 26304190.
  32. ^ Hutcheson, John M. (ngày 5 tháng 4 năm 1990). "Of Tank and Infantry: Lessons of Heavy-Light Integration Learned, Forgotten and Relearned". Dtic. Fort Belvoir, VA. doi:10.21236/ada235149. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2018.
  33. ^ Zaloga (2008), tr. 1-4.
  34. ^ a b Zaloga (2008), tr. 13.
  35. ^ "U.S. Army Armor Center & School".
  36. ^ Zaloga (2008), tr. 46.
  37. ^ Zaloga (2008), tr. 45.
  38. ^ Zaloga (2008), tr. 15.
  39. ^ Zaloga (1999), tr. 13, 14, 33.
  40. ^ Zaloga 2007, tr. 3, 13, 15–18.
  41. ^ Zaloga 2007, tr. 3, 19–22, 42.
  42. ^ Tomczyk 2005, tr. 3, 5, 29.
  43. ^ "Israel unveils defense shield for Merkavas". UPI.com. ngày 6 tháng 4 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011.
  44. ^ "Trophy Active Protection System". Defense-update.com. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011.
  45. ^ Maital, Shlomo (ngày 30 tháng 5 năm 2011). "Anti-tank missile defense system stops attack ... JPost - Defense". Jpost.com. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011.
  46. ^ Hunnicutt/1984/p. 6, 149, 408
  47. ^ p.37 Race to the swift, Thoughts on Twenty-first century warfare, Brig. Richard E. Simpkin
  48. ^ Stockwell (1990), tr. 10.
  49. ^ a b Starry (1978), tr. 24.
  50. ^ Zumbro (1998), tr. 470.
  51. ^ Starry (1978).
  52. ^ Nye, Logan (ngày 14 tháng 12 năm 2018). "10 Tanks That Changed the History of Armored Warfare". Military.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2022.
  53. ^ a b c "The future of armoured warfare". Strategic Comments. 4 (8): 1–2. ngày 1 tháng 10 năm 1998. doi:10.1080/1356788980485.
  54. ^ a b "Russia's vast stocks of Soviet-era weaponry are running out". The Economist. ngày 16 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2024.
  55. ^ a b "To see the future of urban warfare, look at Gaza". The Economist. ngày 18 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2024.
  56. ^ "125mm APERS And Special Rounds". Fofanov.armor.kiev.ua. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011.

Tài liệu