Choranthias salmopunctatus là một loài cá biển thuộc chi Choranthias trong họ Anthiadidae. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1981.

Choranthias salmopunctatus
Phân loại khoa học edit
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Perciformes
Họ: Anthiadidae
Chi: Choranthias
Loài:
C. salmopunctatus
Danh pháp hai phần
Choranthias salmopunctatus
(Lubbock & Edwards, 1981)
Các đồng nghĩa
  • Anthias salmopunctatus Lubbock & Edwards, 1981

Từ nguyên

Từ định danh salmopunctatus ghép bởi hai âm tiết trong tiếng Latinh: salmo ("cá hồi") và punctatus ("có đốm"), hàm ý đề cập đến các đốm màu hồng cam như thịt cá hồi trên cơ thể loài cá này.[2]

Phân bố và môi trường sống

C. salmopunctatus hiện chỉ được biết đến tại quần đảo São Pedro và São Paulo nên được xem là loài đặc hữu của Brasil.[3] Loài này được thu thập ở độ sâu khoảng 30–55 m xung quanh các đảo, có thể là phạm vi địa lý nhỏ nhất được biết đến đối với một loài cá biển.[4]

C. salmopunctatus trước đây được xếp vào nhóm Loài sắp nguy cấp năm 1996. Tuy nhiên, chỉ có các nhà khoa họcquân nhân thường đến đây. Tàu cá của Brasil đã hoạt động tại đây từ năm 1988, và loài được nhắm đến là cá ngừ đại dương. Nhìn chung, đó không phải mối nguy hại đến môi trường sống của C. salmopunctatus nên loài này được hạ xuống nhóm Loài ít quan tâm.[1]

Mô tả

Chiều dài cơ thể lớn nhất được ghi nhận ở C. salmopunctatus là 6 cm. Đầu và thân có màu cam tươi, lốm đốm các chấm hồng cam khắp thân. Đầu có 3 sọc hồng. Các vây màu hồng cam pha vàng. Đuôi xẻ thùy nhọn.[5]

Gai vây lưng: 10; Tia vây lưng: 15; Gai vây hậu môn: 3; Tia vây hậu môn: 7; Gai vây bụng: 1; Tia vây bụng: 5; Tia vây ngực: 20–22; Vảy đường bên: 46–51.[5]

Sinh thái

Trong một lần quan sát, C. salmopunctatus chỉ rời khỏi nơi trú ẩn khi một đàn cá thia Chromis multilineata con bơi gần đến. Cả hai loài đều khá tương đồng về hình dạng, và ở độ sâu có đủ ánh sáng, chúng gần như giống hệt nhau về màu sắc. Có lẽ, A. salmopunctatus nhận được sự an toàn khi sống thành đàn với một loài tương tự có kích thước lớn hơn trong lúc tìm kiếm sinh vật phù du.[4]

Tham khảo

  1. ^ a b Carpenter, K.E. (2015). "Choranthias salmopunctatus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2015 e.T1615A44876342. doi:10.2305/IUCN.UK.2015-4.RLTS.T1615A44876342.en. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
  2. ^ Christopher Scharpf (2026). "Order Perciformes (part 4)". The ETYFish Project.
  3. ^ R. Fricke; W. N. Eschmeyer; R. van der Laan, biên tập (2025). "Choranthias salmopunctatus". Catalog of Fishes. Viện Hàn lâm Khoa học California. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
  4. ^ a b Luiz, O. J.; Joyeux, J.‐C.; Gasparini, J. L. (2007). "Rediscovery of Anthias salmopunctatus Lubbock & Edwards, 1981, with comments on its natural history and conservation" (PDF). Journal of Fish Biology. Quyển 70 số 4. tr. 1283–1286. doi:10.1111/j.1095-8649.2007.01376.x. ISSN 0022-1112.
  5. ^ a b Heemstra, P. C.; Anderson Jr., W. D. (2018). "Serranidae". Trong Carpenter, Kent E.; Niem, Volker H. (biên tập). The living marine resources of the Eastern Central Atlantic. Quyển 4: Bony fishes part 2. FAO. tr. 2386. ISBN 978-92-5-109267-5.

Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).