Chư Phiên chí
Chư Phiên chí (giản thể: 诸蕃志; phồn thể: 諸蕃志; bính âm: Zhū Fān Zhì; Wade–Giles: Chu-fan-chi), nghĩa là Ghi chép về các nước phiên, một tác phẩm của Triệu Nhữ Quát vào thế kỷ 13 dưới triều đại nhà Tống. Tác phẩm là một tập hợp những ghi chép về các miền đất và nhiều sản vật khác nhau bên ngoài Trung Quốc, được coi là một nguồn tư liệu quan trọng cung cấp thông tin về con người, phong tục và đặc biệt là hàng hóa giao thương của nhiều nước ở Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương trong thời kỳ nhà Tống.[1]
Bối cảnh
Tác giả Triệu Nhữ Quát (1170-1231) thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Tống. Ông được bổ nhiệm đến Phúc Kiến làm nhiệm vụ giám sát thương mại đường biển tại Tuyền Châu.[2][3] Trong thời gian công tác ở Phúc Kiến, ông có cơ hội gặp gỡ những thương nhân từ các nước khác nhau qua đó ông thu thập thông tin về nhiều đất nước trên thế giới. Ông cũng chép lại các sản vật khác nhau được buôn bán, nghiên cứu các bản đồ đương thời, và với những gì tìm hiểu được ông đã viết cuốn sách, hoàn thành khoảng năm 1225. Ông viết: "Mới được giao vị trí này gần đây, tôi dành cả ngày đọc nhiều bản đồ... Tôi đã liệt kê tên gọi của các nước này và phong tục của họ... Tôi bỏ đi những lời đồn đoán và giữ lại điều xác thực. Do vậy đặt tên sách là Chư Phiên chí."[4]
Nhiều thông tin trong Chư Phiên chí lấy từ các trước tác cũ hơn, như Bình Châu khả đàm (萍洲可談) của Chu Úc từ năm 1116,[5] Dậu Dương tạp trở ở thế kỷ 9 của Đoàn Thành Thức, và các sách khác.[6] Đặc biệt mượn nhiều thông tin từ Lĩnh Ngoại đại đáp năm 1178 của một nhà địa lý khác, Chu Khứ Phi (tiếng Trung: 周去非; bính âm: Zhōu Qùfēi; Wade–Giles: Chou Ch'ü-fei). Tuy nhiên, phần đáng kể của cuốn sách là các thông tin họ Triệu thu thập được từ các thương nhân người Hoa và nước ngoài.[4] Bản thân ông chưa từng đi ra hải ngoại, thông tin ông thu thập được là gián tiếp, không giống như các sách khác như Đảo Di chí lược của Uông Đại Uyên nhà Nguyên, người đã đi ra hải ngoại để trực tiếp quan sát các quốc gia khác. Dẫu vậy, cuốn sách chứa đựng thông tin giá trị về nhiều quốc gia và hàng hóa giao thương ở thế kỷ 13, đối với các học giả hiện đại.[7]
Bản gốc đã thất lạc, các phần của sách được tìm thấy trong các tổng tập và thư tịch khác, nội dung sách cũng được đưa vào Vĩnh Lạc đại điển ở thế kỷ 15.[8] Các phần được chép trong Vĩnh Lạc đại điển sau đó lại được tổng hợp bởi Lý Điều Nguyên (李調元) để thêm vào tuyển tập Hàm Hải (函海) năm 1781.[9]
Nội dung
Sách được chia thành hai quyển. Quyển thượng mô tả các miền đất và phong tục của người dân địa phương, quyển hạ cung cấp thông tin về hàng hóa giao thương đến từ những nơi này. Một số thông tin trong sách là chuyện không có thật, ví dụ như mô tả về chim voi ở Madagascar lớn đến nỗi có thể nuốt chửng một con lạc đà,[10] và tác giả cũng có thể đã đưa vào sách thông tin không chính xác từ các nguồn tài liệu Hán văn khác (ví dụ, câu chuyện về chim voi ở Madagascar có lẽ lấy từ Lĩnh Ngoại đại đáp), nhưng nhiều nguồn thông tin của tác giả nhìn chung khá đúng.[11]
Quyển thượng
Quyển thượng trình bày về 58 đất nước và khu vực.[4]
Ghi chép bao gồm nhiều địa điểm và vương quốc ở Đông Nam Á, như Giao Chỉ (交趾, miền Bắc Việt Nam), Chiêm Thành (占城), Chân Lạp (眞臘, tức Đế quốc Khmer),[12] Lăng Nha Tư Gia (凌牙斯加), Tam Phật Tề (三佛齊, Palembang), Xà Bà (闍婆), Kediri, Bồ Cam (蒲甘, Miến Điện), và Ma Dật (麻逸, Philippines).[13] Oa Quốc (倭國, Nhật Bản), Tân La (新羅, Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc) và Lưu Cầu (流求, Đài Loan và Quần đảo Lưu Cầu) ở Đông Á, và các nước ở tiểu lục địa Ấn Độ như Hồ Trà Lạt (胡茶辣, Gujarat), Nam Bì (南毗, Malabar) và Chú Liễn (注輦, Chola) cũng được nhắc tới.[14] Sách cũng ghi lại nhiều thông tin hơn các nguồn Hán văn trước đó về thế giới Hồi giáo và sản vật của họ. Nước Đại Thực (大食, Ả Rập) được mô tả là một vùng rộng lớn bao trùm nhiều lãnh thổ (sách ghi nhận 24 khu vực) với kinh đô ở Ai Cập, và bao gồm Bạch Đạt (白達, Baghdad); Ung Man (甕蠻 Oman); Ma Gia (麻嘉, Mecca); Cát Tư Ni (吉慈尼, Ghazni) và những nơi khác.[15]
Sách liệt kê thêm các địa điểm và đất nước ở châu Phi, gồm Vật Tư Lý (勿斯里, Ai Cập) và thành phố Át Căn Đà (遏根陀, Alexandria), Bật Bà La (弼琶囉, Berbera), Trung Lý (中理, Somalia),[16] Tằng Bạt (層拔, Zanzibar), Binouye (Tunisia và khu vực Tripoli ở Libya), và Đà Bàn Địa (駞盤地, Damietta ở Ai Cập).[4] Sách mô tả những nơi như Hải đăng Alexandria nổi tiếng:[11][17]
Nước Át Căn Đà (Alexandria) thuộc về Vật Tư Lý (Ai Cập). Tương truyền, xưa có người từ nơi khác, tên là Tồ Cát Ni (Alexanderos Đại đế), dựng tòa tháp lớn bên bờ biển, phía dưới đào đất ra làm thành hai phòng, xây gạch liền kín. Một cất lương thực, một giữ khí giới. Tháp cao hai trăm trượng. Có thể lùa bốn ngựa cùng chạy lên đến hai phần ba chiều cao của tháp. Ở trung tâm tháp khơi một giếng lớn, nối với con kênh thông vào sông cái ... Trên đỉnh là tấm kính cực đại; nước khác nếu mang binh thuyền xâm phạm, tấm kính soi thấy trước, có thể tức thì liệu kế phòng thủ.
— Triệu Nhữ Quát
Các nước xa hơn về phía tây được mô tả là Mộc Lan Bì (木蘭皮, Al-Murabitun) gồm cả phía nam Tây Ban Nha.[18] Đảo Sicilia (斯加里野, Tư Gia Lý Dã) ở Địa Trung Hải cũng được đề cập đến.[3]
Quyển hạ
Quyển hạ liệt kê 47 sản vật, 22 trong số này đến từ Trung Á và châu Phi.[4] Tác giả đưa ra thông tin về nhiều hàng hóa khác nhau được trao đổi vào đầu thế kỷ 13, ví dụ, nguồn gốc của nhũ hương được bán sang Trung Quốc từ Ả Rập (Đại Thực):
"Nhũ hương hoặc huân lục hương đến từ ba nước Đại Thực là Ma La Bạt (Mirbat), Thi Hạt (Shihr), và Nô Phát (Zufar), ở nơi thâm sơn cùng cốc.[19] Cây này đại khái giống cây đa. Lấy rìu chặt vào gốc, nhựa tràn ra ngoài, đông lại thành hương, tụ lại thành khối. Dùng voi chở đến chỗ dân Đại Thực (bên bờ biển), dân Đại Thực dùng thuyền tải hàng đến trao đổi ở Tam Phật Tề. Cho nên mặt hàng này thường tập trung ở Tam Phật Tề."[20]
Xem thêm
Tham khảo
- ^ Derek Heng Thiam Soon (tháng 6 năm 2001). "The Trade in Lakawood Products between South China and the Malay World from the Twelfth to Fifteenth Centuries AD". Journal of Southeast Asian Studies. 32 (2): 133–149. doi:10.1017/s0022463401000066. JSTOR 20072321.
- ^ Yongxiang Lu, biên tập (2014). A History of Chinese Science and Technology, Volume 2. Springer. tr. 289. ISBN 9783662441664.
- ^ a b Don J. Wyatt (2011). The Blacks of Premodern China. University of Pennsylvania Press. tr. 35. ISBN 9780812203585.
- ^ a b c d e Anshan Li (ngày 6 tháng 4 năm 2012). A History of Overseas Chinese in Africa to 1911. Diasporic Africa Press. tr. 30–33. ISBN 978-0966020106.
- ^ Tasha Vorderstrasse (ngày 14 tháng 5 năm 2014). Paul Cobb (biên tập). The Lineaments of Islam: Studies in Honor of Fred McGraw Donner. Brill. tr. 460. ISBN 9789004231948.
- ^ Paul Wheatley (1961). The Golden Khersonese: Studies in the Historical Geography of the Malay Peninsula before A.D. 1500. Kuala Lumpur: University of Malaya Press. tr. 110. OCLC 504030596.
- ^ Don J. Wyatt (2011). The Blacks of Premodern China. University of Pennsylvania Press. tr. 36. ISBN 9780812203585.
- ^ Shicun Wu (2013). Solving Disputes for Regional Cooperation and Development in South China Sea: A Chinese Perspective. Chandos Publishing. ISBN 9781780633558.
- ^ Chau, Ju-kua (1911). Chau Ju-kua: His Work On The Chinese And Arab Trade In The Twelfth And Thirteenth Centuries, Entitled Chu-fan-chï. Hirth, Friedrich; Rockhill, William Woodville biên dịch. Saint Petersburg: Printing Office of the Imperial Academy of Sciences. tr. 38.
- ^ Valerie Hansen, Kenneth R. Curtis (tháng 1 năm 2013). Voyages in World History, Volume 1 - to 1600. Wadsworth Publishing. tr. 339. ISBN 9781285415123.
- ^ a b Tasha Vorderstrasse (ngày 14 tháng 5 năm 2014). Paul Cobb (biên tập). The Lineaments of Islam: Studies in Honor of Fred McGraw Donner. Brill. tr. 461–474. ISBN 9789004231948.
- ^ Zhao, Rukuo (ngày 15 tháng 6 năm 2020). A Chinese Gazetteer of Foreign Lands: A New Translation of Part 1 of the Zhufan zhi (1225). Yang, Shao-yun biên dịch. ArcGIS StoryMaps.
- ^ Damon L. Woods (ngày 9 tháng 12 năm 2005). The Philippines: A Global Studies Handbook. ABC-CLIO. tr. 16. ISBN 978-1851096756.
- ^ Charlotte Harris Rees (ngày 11 tháng 6 năm 2008). Secret Maps of the Ancient World. AuthorHouse. tr. 118. ISBN 978-1434392787.
- ^ Hyunhee Park (2012). Mapping the Chinese and Islamic Worlds: Cross-Cultural Exchange in Pre-Modern Asia. Cambridge University Press. tr. 51–52. ISBN 978-1107018686.
- ^ Paul Wheatley (1964), "The land of Zanj: Exegetical Notes on Chinese Knowledge of East Africa prior to A. D. 1500", in R. W. Steel and R. M. Prothero (eds.), Geographers and the Tropics: Liverpool Essays (London: Longmans, Green and Co.), pp. 139–188, at 150.
- ^ Hyunhee Park (2012). Mapping the Chinese and Islamic Worlds: Cross-Cultural Exchange in Pre-Modern Asia. Cambridge University Press. tr. 53. ISBN 978-1107018686.
- ^ Qiong Zhang (ngày 5 tháng 6 năm 2015). Making the New World Their Own: Chinese Encounters with Jesuit Science in the Age of Discovery. Brill. tr. 134–135. ISBN 9789004284388.
- ^ Ralph Kauz (2010). Ralph Kauz (biên tập). Aspects of the Maritime Silk Road: From the Persian Gulf to the East China Sea. Quyển 10 of East Asian Economic and Socio-cultural Studies - East Asian Maritime History. Otto Harrassowitz Verlag. tr. 130. ISBN 978-3-447-06103-2. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011.
Nhũ hương trước tiên được tập kết ở các cảng Hadhramaut của Mirbat, Shihr, và Zufar nơi các thuyền buôn Ả Rập vận chuyển hàng đến Srivijaya, rồi hàng được tái xuất sang Trung Quốc. Cách gọi "huân lục hương" xuất phát từ tên tiếng Ả Rập "kundur". . . Theo Lý Tuân (李珣), nhũ hương vốn đến từ Ba Tư.92 Laufer trích dẫn Hương Phổ (香譜) của Hồng Sô (洪芻) . . . Triệu Nhữ Quát chú thích: Nhũ hương hoặc huân lục hương đến từ ba nước Đại Thực là Murbat (Ma La Bạt), Shihr (Thi Hạt), và Dhofar (Nô Phát), ở nơi thâm sơn cùng cốc...
- ^ Ralph Kauz (2010). Ralph Kauz (biên tập). Aspects of the Maritime Silk Road: From the Persian Gulf to the East China Sea. Quyển 10 of East Asian Economic and Socio-cultural Studies - East Asian Maritime History. Otto Harrassowitz Verlag. tr. 131. ISBN 978-3-447-06103-2. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011.
Liên kết ngoài
- Chau Ju-kua: His Work On The Chinese And Arab Trade In The Twelfth And Thirteenth Centuries, Entitled Chu-fan-chï. Friedrich Hirth, William Woodville Rockhill biên dịch. Annotated translation of Zhu Fan Zhi
- A Chinese Gazetteer of Foreign Lands: A New Translation of Part 1 of the Zhufan zhi (1225). Shao-yun Yang biên dịch. New annotated translation of Volume 1, published digitally using ArcGIS Story Maps