Bước tới nội dung

Cung Hi Trinh Tĩnh Quý phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cung Hi Trinh Tĩnh Quý phi
恭禧贞静貴妃
Minh Thế Tông Quý phi
Quý phi Đại Minh
Tại vị1566 - 1585
Đăng quang6 tháng 8 năm 1566
Thông tin chung
Mất1585
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An tángĐiệu Lăng, Thiên Thọ Sơn, Bắc Kinh
Phu quânMinh Thế Tông
Chu Hậu Thông
Thụy hiệu
Cung Hi Trinh Tĩnh Quý phi
(恭禧贞静貴妃)
Tước hiệuKính phi (敬妃)
Quý phi (賢妃)
Hoàng tộcNhà Minh
Thân phụVăn Minh

Cung Hi Trinh Tĩnh Quý phi Văn thị (chữ Hán: 恭禧贞静貴妃文氏; ? - 1858), cũng được gọi là Văn Quý phi (文贵妃). Là một phi tần của Minh Thế Tông Chu Hậu Thông trong lịch sử Trung Quốc.

Tiểu sử

Nhập cung

Cung Hi Trinh Tĩnh Quý phi xuất thân Văn thị (文氏), con gái của Cẩm y vệ Chỉ huy Đồng tri Văn Minh (文明) em gái của Cẩm y vệ Chỉ huy Đồng tri Văn Thừa Trù (文承筹). Ngày sinh và thời gian nhập cung của Văn thị đều không thể khảo chứng. Vào ngày 20 tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542), thời gian để tang 3 năm của Từ Hiếu Hiến Hoàng hậu Tưởng thị đã mãn. Gia Tĩnh Đế hạ chỉ nói rằng các Chấp sự Nữ quan trong cung đã làm việc tận tâm, xứng đáng được ban thưởng và đề bạt cha, anh của họ.

Trong đó, 17 người bao gồm Văn Minh, Trần Phúc (陈福) được phong làm Cẩm y vệ Chính/Phó Thiên hộ, Bách hộ, Trấn phủ, 3 người bao gồm Hách Tướng (赫将) được thăng một bậc bổng lộc, và 24 người bao gồm Hàn Trấn (韩镇) được ban ban mũ áo[1]. Văn Minh được nhắc đến ở đây chính là cha của Văn Quý phi, cho thấy Văn Quý phi vốn xuất thân là một Chấp sự Nữ quan trong cung.

Đại Minh tần phi

Vào ngày 16 tháng 1 năm Gia Tĩnh thứ 24 (1545), Văn thị chính thức được sắc phong làm Kính phi (敬妃). Cùng ngày, cha của Văn Kính phi là Cẩm y vệ Thiên hộ Văn Minh cũng được thăng chức lên làm Cẩm y vệ Đái phụ Chỉ hữu Đồng tri. Gia Tĩnh Đế đã phái Thành quốc công Chu Hi Trung (朱希忠) mang theo chiếu thư sắc phong Kính phi đến Cảnh Thần điện (景辰殿) để cáo tế. Chiếu theo tiền lệ của năm Gia Tĩnh thứ 21, Hoàng đế không đích thân đến điện mà chỉ phái Anh quốc công Trương Dung (張容), Lễ bộ Thượng thư Phí Cải (费改) cầm tiết để thực hiện lễ sắc phong[2].

Sách văn viết[3]:

Sùng kính Đạo giáo

Ngay trong tháng đó, Văn Kính phi đã cho vẽ bức họa Ngọc Hoàng Thượng đế (玉皇上帝). Bà không chỉ mượn hình tượng thần linh để bày tỏ lòng sùng kính Đạo giáo của mình, mà còn để hưởng ứng tín ngưỡng thờ phụng Ngọc Hoàng của Gia Tĩnh Đế. Có học giả cho rằng, trong tranh, Ngọc Hoàng Thượng đế ngồi chính diện trên ngai Đại Quang Minh, tay cầm thanh khuê, hai bên phía ngoài có Bắc Cực Tứ Thánh hộ vệ. Bố cục và kết cấu này rõ ràng có cùng một phong cách và thừa hưởng từ bức họa ở trang đầu của bộ Ngọc Hoàng Kinh (玉皇经) do Chương Thánh Hoàng thái hậu Tưởng thị cho in ấn vào năm Gia Tĩnh thứ 3, rất có thể đã tham khảo bức họa đi trước này để vẽ nên[4].

Vào ngày 14 tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 25 (1546), cha của Văn Kính phi là Cẩm y vệ Chỉ huy Đồng tri Văn Minh qua đời. Gia Tĩnh Đế đã ban lễ tế, cho phép mở huyệt hợp táng, đồng thời ban trăm lạng bạc để lo liệu tang sự[5]. Vào ngày 17 tháng 1 năm Gia Tĩnh thứ 33, Xá nhân Quách Ninh (郭宁) phụng lệnh chỉ của Mã Trinh phi và Văn Kính phi truyền rằng:

"Ngày 26 tháng này, cung gặp ngày lành vận lớn của Hoàng thượng, lấy ngày Giáp Tý làm đầu, đặc mệnh cho quan đạo, đến cung Tịnh Lạc xây dựng đàn chay Ngọc Lục Khánh Thánh Hạ Sư Chúc Thọ Tiến Bào Huyền Phan Cát Tường đại trai năm ngày năm đêm, đến ngày 27 thì viên mãn, bày biện các vị thanh tiếu một ngàn hai trăm phần"[6]. Có thể thấy việc thờ phụng đạo giáo núi Võ Đang của Gia Tĩnh Đế đã ảnh hưởng đến các phi tần hậu cung, khiến họ cũng tham gia các hoạt động như đến núi Võ Đang xây trai đàn tế lễ[7].

Cuối đời

Sách phong Quý phi

Vào ngày 6 tháng 8 năm Gia Tĩnh thứ 45 (1566), Kính phi Văn thị được tiến phong làm Quý phi (貴妃)[8], đồng thời sắc phong Cung ngự Thượng thị làm Thọ phi. Hoàng đế mệnh cho Trấn Viễn hầu Cố Hoàn (顾欢), An Bình bá Phương Thừa Dụ (方承裕) trì tiết, Đại học sĩ Lý Xuân Phương (李春芳), Quách Phác (郭璞) bưng sách phong[9].

Đến ngày 9 tháng 8, anh trai của Văn Quý phi là Văn Thừa Vũ được thăng làm Cẩm y vệ Chỉ huy Đồng tri, truy tặng cha của Thọ phi làm Phiêu kỵ Tướng quân, Tả quân Đô đốc phủ Đô đốc Thiêm sự, đồng thời phong anh trai của Thọ phi làm Cẩm y vệ Chính Thiên hộ[10]. Ngày 14 tháng 12 cùng năm, Gia Tĩnh Đế băng hà, Văn Quý phi bắt đầu cuộc sống góa phụ.

Qua đời

Sau khi Văn Quý phi tạ thế, bà được ban thụy hiệu gồm bốn chữ là Cung Hi Trinh Tĩnh (恭禧贞静), gọi là Cung Hi Trinh Tĩnh Quý phi (恭禧贞静貴妃), và được an táng tại Điệu Lăng (悼陵) ở Ảo Nhi Dục (袄儿峪) thuộc Thiên Thọ Sơn (天寿山), Bắc Kinh (nơi đây nguyên là nơi chôn cất của Hiếu Khiết Túc Hoàng hậu Trần thị). Cuốn Uyển Thự Tạp Ký (宛署杂记) có chép: "Hộ Thiên Thọ sơn có 5 người... Thế Miếu Quý phi Văn thị chiếm 1 người"[8].

Theo khảo chứng, Văn Quý phi qua đời vào khoảng năm Vạn Lịch thứ 13. Vào ngày 13 tháng 7 năm Vạn Lịch thứ 13 (1585), cháu trai của Gia Tĩnh Đế là Minh Thần Tông Chu Dực Quân "vì việc đến xem và viết cờ minh văn trên quan tài cho Thế Miếu Cung Hi Trinh Tĩnh Quý phi Văn thị, đã ban cho bốn vị Phụ thần mỗi người 20 lạng bạc, 2 tấm lụa trữ ty; ban cho hai viên quan Trung thư là Từ Duy Thân mỗi người 10 lạng bạc, 1 tấm lụa trữ ty"[11].

Tham khảo

  1. ^ "Minh Thế Tông Túc Hoàng đế Thực lục", quyển 258, điều Tân Mùi, tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 21. (Bằng tiếng Trung) 《明世宗肅皇帝實錄》,卷二百五十八,嘉靖二十一年二月辛未條。
  2. ^ "Minh Thế Tông Túc Hoàng đế Thực lục", quyển 294, điều Canh Tuất, tháng Giêng năm Gia Tĩnh thứ 24. (Bằng tiếng Trung) 《明世宗肅皇帝實錄》,卷二百九十四,嘉靖二十四年正月庚戌條。
  3. ^ Nghiêm Tung, "Kiềm Sơn Đường Tập", quyển 24, Sách văn Kính phi Văn thị. (Bằng tiếng Trung) 嚴嵩《鈐山堂集》,卷二十四,敬妃文氏冊文。
  4. ^ Doãn Thúy Kỳ - Khoa Nghệ thuật Đại học Trung văn Hồng Kông: "Song thân và Đạo giáo: Quỹ đạo tín ngưỡng và di sản vật chất của Minh Thế Tông Chu Hậu Thông", in trong Danh mục triển lãm "Phù hoa · Tiên cảnh —— Thế giới ảo của Hoàng đế Gia Tĩnh". (Bằng tiếng Trung) 香港中文大學藝術系尹翠琪:《雙親與道教:明世宗朱厚熜的信仰軌跡與物質遺存》,收錄於展覽圖錄《浮華 · 仙境——嘉靖皇帝的虛擬世界》。
  5. ^ "Minh Thế Tông Túc Hoàng đế Thực lục", quyển 308, điều Tân Sửu, tháng 2 năm Gia Tĩnh thứ 25. (Bằng tiếng Trung) 《明世宗肅皇帝實錄》,卷三百八,嘉靖二十五年二月辛丑條。
  6. ^ Vương Tá, "Đại Nhạc Thái Hòa Sơn Chí", quyển 4, bản khắc bổ sung năm Gia Tĩnh thứ 40. (Bằng tiếng Trung) 王佐《大岳太和山志》,卷四,嘉靖四十年增刻本。
  7. ^ Thái Chí Dung, Giang Lăng. Thử luận về việc Minh Thế Tông tôn sùng Đạo giáo Võ Đang và ảnh hưởng xã hội của nó. Tạp chí Đại học Giang Hán (Bản Khoa học Nhân văn), 2010, 29(03): 80-85. DOI: 10.16388/j.cnki.cn42-1843/c.2010.03.010. (Bằng tiếng Trung) 蔡志融,江凌.試論明世宗尊崇武當道教及其社會影響.江漢大學學報(人文科學版),2010,29(03):80-85.DOI:10.16388/j.cnki.cn42-1843/c.2010.03.010.
  8. ^ a b Hoàng Nãi Côn, "Nghiên cứu về Hoàng thất nhà Minh", trang 216-218, Luận văn Thạc sĩ Triết học Đại học Hồng Kông, năm 1997. (Bằng tiếng Trung) 黃迺錕《明代皇室研究》,第216-218頁,香港大學哲學碩士論文,1997年。
  9. ^ "Minh Thế Tông Túc Hoàng đế Thực lục", quyển 561, điều Giáp Tý, tháng 8 năm Gia Tĩnh thứ 45. (Bằng tiếng Trung) 《明世宗肅皇帝實錄》,卷五百六十一,嘉靖四十五年八月甲子條。
  10. ^ "Minh Thế Tông Túc Hoàng đế Thực lục", quyển 561, điều Đinh Mão, tháng 8 năm Gia Tĩnh thứ 45. (Bằng tiếng Trung) 《明世宗肅皇帝實錄》,卷五百六十一,嘉靖四十五年八月丁卯條。
  11. ^ "Tập hiệu Vạn Lịch Khởi cư chú", Nhà xuất bản Cổ tịch Thiên Tân xuất bản, điều ngày 13 tháng 7 năm Vạn Lịch thứ 13. (Bằng tiếng Trung) 《輯校萬曆起居注》,天津古籍出版社出版,萬曆十三年七月十三日條。