Các cuộc cách mạng năm 1848, được biết đến ở một số quốc gia là Mùa xuân của các quốc gia, Mùa xuân của nhân dân, Mùa xuân của các dân tộc,[3] hay Năm Cách mạng, là một loạt các biến động chính trị trên khắp châu Âu vào năm 1848. Nó vẫn là làn sóng cách mạng lan rộng nhất trong lịch sử châu Âu.

Các cuộc cách mạng châu Âu
Rào chắn trên đường Soufflot,[1][2] một bức tranh năm 1848 của Horace Vernet. Panthéon được hiển thị trong nền.
Địa điểmTâyTrung Âu
Còn gọi làMùa xuân của các quốc gia, Mùa xuân của các dân tộc, Năm của Cách mạng
Nhân tố liên quanNhân dân của Pháp, các nước Đức, Đế quốc Áo, Vương quốc Hungary, các nước Ý, Đan Mạch, Wallachia, Ba Lan và những xứ khác
Hệ quả
  • Ít thay đổi chính trị
  • Thay đổi văn hóa xã hội đáng kể

Các cuộc cách mạng về cơ bản là các cuộc cách mạng tư sảndân chủtự do về bản chất, với mục đích xóa bỏ các cấu trúc quân chủ cũ và tạo ra các quốc gia độc lập. Các cuộc cách mạng lan rộng khắp châu Âu sau khi một cuộc cách mạng ban đầu bắt đầu ở Pháp vào tháng Hai. Hơn 50 quốc gia đã bị ảnh hưởng, nhưng không có sự phối hợp hay hợp tác đáng kể giữa các nhà cách mạng tương ứng. Một số yếu tố đóng góp chính là sự không hài lòng rộng rãi với sự lãnh đạo chính trị, đòi hỏi phải tham gia nhiều hơn vào chính phủ và dân chủ, yêu cầu tự do báo chí, các yêu cầu khác của giai cấp công nhân, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và sự tái lập lực lượng chính phủ được thành lập.[4]

Các cuộc nổi dậy được lãnh đạo bởi các liên minh ad hoc của các nhà cải cách, tầng lớp trung lưu và công nhân, những người không gắn bó lâu dài. Hàng chục ngàn người đã thiệt mạng và nhiều người khác bị buộc phải lưu vong. Những cải cách đáng kể kéo dài bao gồm việc bãi bỏ chế độ nông nô ở Áo và Hungary, chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế ở Đan Mạch và giới thiệu nền dân chủ đại diện ở Hà Lan. Các cuộc cách mạng là quan trọng nhất ở Pháp, Hà Lan, các bang của Liên minh Đức sẽ tạo nên Đế quốc Đức vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, Ý và Đế quốc Áo.

Nguồn gốc

 
Bản đồ châu Âu năm 1848, 1818 mô tả các trung tâm cách mạng chính, các phong trào phản cách mạng quan trọng và các quốc gia có sự thoái vị

Các cuộc cách mạng phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau đến mức khó có thể xem chúng là kết quả của một phong trào mạch lạc hoặc tập hợp các hiện tượng xã hội. Nhiều thay đổi đã diễn ra trong xã hội châu Âu trong suốt nửa đầu thế kỷ 19. Cả hai nhà cải cách tự dochính trị gia cấp tiến đang định hình lại các chính phủ quốc gia.

Thay đổi công nghệ đã cách mạng hóa cuộc sống của các tầng lớp lao động. Một báo chí phổ biến mở rộng nhận thức chính trị, và các giá trị và ý tưởng mới như chủ nghĩa tự do phổ biến, chủ nghĩa dân tộcchủ nghĩa xã hội bắt đầu xuất hiện. Một số nhà sử học nhấn mạnh đến những vụ mùa thất bát nghiêm trọng, đặc biệt là những năm 1846, đã tạo ra khó khăn trong nông dân và người nghèo thành thị.

Những vùng rộng lớn của quý tộc đã không hài lòng với chủ nghĩa quân chủ chuyên chế hoặc chủ nghĩa gần như tuyệt đối. Vào năm 1846, đã có một khởi nghĩa của Ba Lan quý tộc ở Áo Galicia, chỉ bị phản đối khi nông dân lần lượt trỗi dậy chống lại quý tộc.[5] Ngoài ra, một cuộc nổi dậy của các lực lượng dân chủ chống lại Phổ, đã được lên kế hoạch nhưng không thực sự được thực hiện, đã xảy ra trong Đại Ba Lan.

Tiếp theo, lớp trung lưu es bắt đầu kích động. Bản mẫu:Làm rõ Karl MarxFriedrich Engels, làm việc tại Brussels, đã viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (xuất bản bằng tiếng Đức tại Luân Đôn vào ngày 21 tháng 2 năm 1848) theo yêu cầu của Liên đoàn Cộng sản (một tổ chức bao gồm chủ yếu là công nhân Đức). Sau cuộc nổi dậy tháng ba ở Berlin, họ bắt đầu kích động ở Đức. Họ đã ban hành "Nhu cầu của Đảng Cộng sản ở Đức" từ Paris vào tháng 3;[6] cuốn sách nhỏ thúc giục thống nhất nước Đức, quyền bầu cử phổ thông, bãi bỏ các nghĩa vụ phong kiến và các mục tiêu trung lưu tương tự.

Do đó, tầng lớp trung lưu và lao động đã chia sẻ mong muốn cải cách và đồng ý về nhiều mục tiêu cụ thể. Sự tham gia của họ trong các cuộc cách mạng, tuy nhiên, khác nhau. Trong khi phần lớn động lực đến từ tầng lớp trung lưu, phần lớn bia đỡ đạn đến từ tầng lớp thấp hơn. Các cuộc nổi dậy đầu tiên nổ ra ở các thành phố.

Bất mãn và xung đột xã hội

Ở các vùng nông thôn

 
Bức tranh Thảm sát Galicia (tiếng Ba Lan: Rzeź galicyjska) của Jan Lewicki mô tả cảnh tượng hư cấu khi chính quyền Áo ban thưởng cho nông dân Ba Lan vì đã thảm sát các lãnh chúa của họ - những người đã cố gắng tiến hành một cuộc khởi nghĩa nhằm tái lập nhà nước Ba Lan độc lập.[7]

Theo Jonathan Sperber, xung đột về quyền sử dụng đất nông nghiệp là hình thái xung đột xã hội phổ biến nhất trong thời kỳ tiền cách mạng.[8] Việc bãi bỏ chế độ phong kiến ở một số khu vực thuộc Tây và Trung Âu (đặc biệt là ở Pháp) sau các cuộc Chiến tranh Cách mạng Pháp và Chiến tranh Napoléon đã mang lại những hệ lụy lớn cho tầng lớp dân cư nông thôn. Những quyền lợi theo tập quán mà nông dân từng có trên đất công cộng, đặc biệt là quyền lấy củi từ các khu rừng chung, ngày càng bị tước đoạt bởi quá trình rào chiếm đất đai và tư hữu hóa đất công.[9] Quá trình này thường được tiếp tay bởi những nhà nước đang hiện đại hóa, điển hình như Pháp, khi quốc gia này ban hành Luật Lâm nghiệp năm 1827, xóa bỏ hoàn toàn về mặt pháp lý quyền tiếp cận rừng và lấy củi của nông dân.[10]

Nông dân đã dùng đến cả các biện pháp pháp lý lẫn bạo lực để đòi lại quyền lợi đất đai của mình. Các vụ kiện chống lại địa chủ thường xuyên được nông dân đệ trình và có thể kéo dài suốt nhiều thập kỷ;[11] một vụ kiện như vậy ở Sicilia được đưa ra lần đầu vào năm 1829 và mãi đến năm 1896 mới được giải quyết.[12] Nông dân cũng trộm củi từ các khu rừng tư nhân hoặc chiếm đóng chúng để dùng vũ lực khẳng định lại quyền đất đai.[11] Đặc biệt, nạn trộm củi diễn ra tràn lan ở nhiều vùng thuộc Đức. Từ những năm 1820 đến 1840, số người bị kết án vì tội trộm củi ở Palatinate thuộc Bayern đã tăng từ 37.500 người (giai đoạn 1821–1822) lên 185.000 người (giai đoạn 1846–1847), chiếm tới một phần ba dân số khu vực này.[13] Tại Pháp, sự phản đối Luật Lâm nghiệp đã dẫn đến cuộc "Chiến tranh của những thiếu nữ" từ năm 1829 đến năm 1832, trong đó những nông dân cải trang thành phụ nữ đã dùng bạo lực chống lại việc thực thi bộ luật này tại tỉnh Ariège.[14]

Tình trạng bất ổn trong giới nông dân cũng lan rộng ở những vùng còn duy trì chế độ phong kiến, chẳng hạn như ở một số vùng của Trung Âu và phần lớn Đông Âu, dù điều này đã là chuyện thường tình trong suốt vài thế kỷ.[15] Các cuộc tranh chấp và nổi dậy nổ ra vì nhiều mục tiêu khác nhau: chống lại sự áp bức của các lãnh chúa, chống lại chính sách thuế khóa và bắt lính của nhà nước, cũng như chống lại giới cầm quyền tôn giáo.[16] Cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại lãnh chúa phong kiến quy mô nhất thời kỳ tiền cách mạng đã nổ ra tại Galicia thuộc Áo vào năm 1846.[16]

Trong giới công nhân thành thị

 
Thợ dệt lụa ở Lyon đã nổi dậy vào năm 1831 và 1834 để phản đối việc giới chủ từ chối trả mức lương nhân công như đã thỏa thuận. Khẩu hiệu của họ là "Sống trong lao động hoặc chết trong chiến đấu!" (tiếng Pháp: Vivre en travaillant, mourir en combattant).[17]

Sự gia tăng dân số nhanh chóng là vấn đề nghiêm trọng nhất ảnh hưởng đến công nhân thành thị. Dòng người di cư ra thành phố do điều kiện sống tồi tệ ở nông thôn đã dẫn đến tình trạng bão hòa thị trường lao động nghiêm trọng và làm suy giảm tiền lương thực tế của công nhân, trong khi chi phí sinh hoạt tiếp tục leo thang.[18] Công nhân nghèo trở nên dễ bị tổn thương hơn trước các cú sốc kinh tế, và việc không đủ tiền mua các loại thực phẩm khác ngoài khoai tây và bánh mì đã trở thành thảm họa giữa bối cảnh cuộc khủng hoảng lương thực lớn hoành hành trong giai đoạn từ 1845 đến 1847.[19] Quá trình công nghiệp hóa và sự chuyển đổi từ nền kinh tế truyền thống sang nền sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng tác động tiêu cực đến công nhân thành thị, làm suy giảm mức sống và địa vị xã hội của họ.[20] Phần lớn công nhân vào năm 1848 là các thợ thủ công làm việc trong các ngành nghề truyền thống, trong khi số lượng công nhân nhà máy còn tương đối ít.[21] Quá trình cơ giới hóa đe dọa một số ngành nghề nhất định, chẳng hạn như ngành dệt và ngành gia công kim loại, dẫn đến cảm giác bất an ngày càng tăng trong giới thợ thủ công, những người cảm thấy sinh kế và quyền tự chủ kinh tế của mình bị đe dọa.[22]

Tuy nhiên, những cuộc tranh chấp phổ biến nhất là giữa người sử dụng lao động và người lao động. Các thợ cảthợ bạn ngày càng mâu thuẫn gay gắt khi hệ thống phường hội bị suy yếu trên khắp châu Âu vào đầu thế kỷ 19. Dưới nền kinh tế mới, các thợ cả bắt đầu tích lũy của cải và có khả năng thuê thêm nhiều nhân công — đa phần là những người thất nghiệp do tình trạng dư thừa thợ thủ công quy mô lớn.[23] Cùng lúc đó, các thợ cả tìm cách ngăn cản số lượng thợ bạn và thợ học việc đang ngày một tăng thăng tiến lên làm thợ cả, nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế của chính họ khỏi sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt.[24]

Xung đột giữa thương gia và thợ thủ công, đặc biệt trong ngành dệt, chủ yếu xoay quanh các tranh chấp về thù lao, do thương gia thường xuyên trả thiếu tiền cho những người thợ nhận việc làm ở nhà để tối đa hóa lợi nhuận.[25] Những tranh chấp này đã châm ngòi cho các vụ bất ổn dân sự, bao gồm các cuộc nổi dậy của thợ dệt ở Lyon vào năm 1831 và 1834, và ở Silesia vào năm 1844.[26] Sự phẫn nộ sâu sắc trong giới thợ thủ công tiếp tục âm ỉ cho đến năm 1848, khi họ đứng lên đòi quyền lập hội nhằm giành lại quyền tự chủ kinh tế đã bị tước đoạt trong làn sóng chuyển dịch này. Nguyện vọng đó được thể hiện qua các mô hình mới như công đoàn sơ khai, hợp tác xã và hội tương ái ở Pháp, hoặc thông qua yêu sách đòi khôi phục hệ thống phường hội như ở Đức.[27]

Trong giới trí thức

Tầng lớp trung lưu trí thức cũng chịu ảnh hưởng bởi sự suy giảm mức sống. Trên khắp Tây Âu, quá trình công nghiệp hóa đã làm tăng nhu cầu về lực lượng chuyên môn để phục vụ các ngành công nghiệp mới.[28] Kỳ vọng của xã hội cũng dần đề cao giáo dục và tham vọng nghề nghiệp như những phương tiện để thăng tiến giai cấp, đặc biệt là sau cuộc Cách mạng Pháp. Hệ quả là ngày càng có nhiều thanh niên trên khắp châu Âu ghi danh vào các trường đại học. Theo Lenore O'Boyle, họ kỳ vọng rằng "tấm bằng đại học có thể mang lại những đặc quyền như tước hiệu quý tộc trước đây"[29] và giúp họ vươn lên các vị trí lãnh đạo trong xã hội.[30] Tại các nền kinh tế công nghiệp hóa cao hơn như Anh và Hoa Kỳ, nam giới có học thức dễ dàng tìm được việc làm trong các doanh nghiệp tư nhân, do đó hầu như không có phong trào kích động cách mạng nào nảy sinh trong nhóm này vào năm 1848. Tuy nhiên, ở lục địa châu Âu, nơi tốc độ công nghiệp hóa còn chậm chạp, con đường nghề nghiệp chuyên môn duy nhất là ngành hành chính công, nhưng lĩnh vực này lại không có đủ vị trí để đáp ứng nhu cầu.[30]

Tình trạng thiếu việc làm đã dẫn đến sự bất mãn trong giới trí thức, những người cảm thấy họ không thể duy trì mức sống tương xứng với địa vị của mình.[31] Vấn đề này thể hiện rõ nét nhất ở Đức, nơi tình trạng bão hòa nghề nghiệp nghiêm trọng đến mức làm nảy sinh một tầng lớp mà nhà xã hội học Wilhelm Heinrich Riehl gọi là "giai cấp vô sản trí thức", bao gồm "những công chức cấp thấp, nhà báo và giáo viên ôm nhiều hoài bão nhưng bị trả lương bèo bọt". Tầng lớp vô sản trí thức ở Đức đông đảo đến mức, theo Riehl, chính họ chứ không phải giới lao động chân tay mới là "giai cấp vô sản thực sự".[32] Bên cạnh tình trạng bão hòa nhân lực, tầng lớp trung lưu còn thường xuyên bị nhà nước chủ ý gạt ra khỏi đời sống chính trị và bộ máy quan liêu. Các vị trí trong bộ máy hành chính chỉ dành cho những người có khả năng chi trả cho nền giáo dục bắt buộc đối với các chức vụ đó. Hơn nữa, đặc biệt là ở Pháp và Đế quốc Áo, giới quý tộc vẫn duy trì tầm ảnh hưởng sâu rộng, gây cản trở con đường thăng tiến của những người khác.[33] Những người có chuyên môn không tìm được việc làm đành chuyển sang làm báo – công việc được xem như "nơi trú ẩn cuối cùng của những kẻ thất bại trên con đường chuyên môn hoặc trung lưu khác". Qua đó, họ có thể trút sự phẫn nộ của mình và cuối cùng họ đã trở thành những người lãnh đạo các cuộc cách mạng năm 1848.[34]

Chính trị cách mạng

Hệ tư tưởng

 
Một bức tranh in mang nội dung bài trừ tăng lữ và quý tộc, xuất bản tại Đức năm 1845. Dòng chữ trên tranh viết: "Mở mắt ra!!!—Cả giới quý tộc lẫn tầng lớp tăng lữ sẽ không còn áp bức chúng ta được nữa; chúng đã đè đầu cưỡi cổ nhân dân quá lâu rồi."[35]

Những hệ tư tưởng chính trị mới đã manh nha xuất hiện vào những năm 1840 và sau đó tạo ảnh hưởng lớn đến các cuộc cách mạng năm 1848. Trong đó, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cấp tiếnchủ nghĩa dân tộc là những phong trào đối lập chính chống lại các chính phủ ở châu Âu.

Những người theo chủ nghĩa tự do hình thành nên một lực lượng chính trị riêng biệt vào thế kỷ 19, nhưng niềm tin của họ lại có sự khác biệt rất lớn.[36] Nhìn chung, họ ủng hộ quyền bình đẳng trước pháp luật và việc bảo vệ các quyền tự do dân sự, chẳng hạn như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do tôn giáo, và đặc biệt là quyền sở hữu tài sản, họ cũng ủng hộ việc thiết lập hiến pháp để đạt được những điều này.[37] Họ phản đối cả chế độ quân chủ chuyên chế lẫn các nền cộng hòa cấp tiến (mà họ xem là độc đoán ngang nhau), và nghiêng về chế độ quân chủ lập hiến như một sự thỏa hiệp giữa hai thái cực này.[38] Họ ủng hộ chủ quyền nhân dân, nhưng lại phân biệt rạch ròi giữa "nhân dân" và "đám dân đen". Vì lẽ đó, chủ nghĩa tự do nhìn chung hướng tới việc giới hạn quyền bầu cử chỉ dành cho nam giới có sở hữu tài sản.[39] Những người theo chủ nghĩa tự do ngần ngại tham gia cách mạng hoặc tìm kiếm sự ủng hộ của quần chúng vì lo sợ phe cấp tiến sẽ nắm quyền và thiết lập chế độ bạo lực của đám đông, giống như những gì họ đã chứng kiến trong Cách mạng Pháp dưới thời phái Jacobin và Triều đại Khủng bố.[40] Họ coi những cải cách chính trị dần dần và sự phát triển kinh tế thông qua chế độ nghị viện, thị trường tự do, công nghiệp hóa cùng giáo dục công cộng là phương tiện để đạt được sự bình đẳng trong xã hội. Nhờ đó, sẽ có thêm nhiều nam giới trở thành người sở hữu tài sản và bước vào đời sống chính trị.[41] Khi những người theo chủ nghĩa tự do lên nắm quyền lực, điển hình như dưới Nền quân chủ Tháng Bảy ở Pháp sau năm 1830, họ lại có xu hướng chuyển dịch sang phe bảo thủ. Việc họ hạn chế các hoạt động chính trị đã khiến phần lớn dân chúng xa lánh, đẩy họ vào thế đối đầu với phe cánh tả cấp tiến.[42]

Nhìn chung, chủ nghĩa cấp tiến đại diện cho một liên minh lỏng lẻo giữa những người theo chủ nghĩa dân chủngười theo chủ nghĩa xã hội.[43] Khác với những người tự do ôn hòa, phe cấp tiến ủng hộ nền dân chủ và quyền phổ thông đầu phiếu cho nam giới, mở rộng quyền bầu cử cho toàn bộ nam giới trưởng thành.[44] Điểm chung giữa phe tự do và phe cấp tiến là lập trường bài xích các thể chế "lạc hậu", mà biểu hiện rõ nét nhất là tư tưởng bài giáo sĩ – một xu hướng gần như đồng nghĩa với tư tưởng cánh tả tự do thời bấy giờ, dù phe cấp tiến luôn chọn cách phản kháng quyết liệt và mang khuynh hướng bạo lực hơn hẳn.[45] Trong khi những người tự do chủ yếu quan tâm đến các vấn đề chính trị, pháp lý và tìm cách mở rộng quyền tự do dân sự,[46] thì phe cấp tiến lại đặt nặng "vấn đề xã hội" – tức làm sao cứu vãn tình cảnh ngày một bấp bênh của tầng lớp lao động nghèo trong nền kinh tế tư bản.[47] Phe cấp tiến cũng bị chia rẽ trong cách giải quyết vấn đề này; theo như Sperber nhận định, những người dân chủ cấp tiến thường tìm cách "nắn chỉnh lại sự mất cân đối giữa tư bản và lao động" thông qua các quy định và sự can thiệp của nhà nước, trong khi những người theo chủ nghĩa xã hội lại hướng tới việc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và phân phối lại của cải kinh tế.[48] Một số người dân chủ cấp tiến lại là những người theo chủ nghĩa tự do kinh tế. Họ có xu hướng ưu tiên cải cách chính trị, đặc biệt là quyền phổ thông đầu phiếu cho nam giới, hơn là cải cách kinh tế, và không ủng hộ bất kỳ hình thức can thiệp nào từ chính phủ.[49][a] Mặc dù vậy, cả phe dân chủ lẫn phe xã hội chủ nghĩa đều đoàn kết lại trong khát vọng lật đổ các chế độ hiện hành thông qua con đường cách mạng.[50]

"Chủ nghĩa dân tộc" thúc đẩy sự đoàn kết và vị thế tối thượng của những nhóm người được gắn kết với nhau bởi sự pha trộn giữa những điểm chung về ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, chung một lịch sửvận mệnh, cũng như sự gần gũi về địa lý.[51] Bên cạnh đó cũng xuất hiện các phong trào đòi lại lãnh thổ đã mất. Chủ nghĩa dân tộc đã tạo ra sức hút rộng lớn hơn trong giai đoạn trước năm 1848. Điều này được thể hiện qua tác phẩm Lịch sử Dân tộc Séc (1836) của František Palacký, trong đó nhấn mạnh đến dòng chảy lịch sử đầy những xung đột của dân tộc này với người Đức; hay qua các phong trào hát hợp xướng yêu nước Liederkranz phổ biến khắp nước Đức, nơi những bài ca yêu nước và mang màu sắc hiếu chiến về Schleswig đã thống trị lễ hội ca nhạc quốc gia tại Würzburg vào năm 1845.[52]

Biểu đạt và tham gia chính trị

 
Sự khởi đầu của campagne des banquets tại Pháp vào ngày 9 tháng 7 năm 1847. Những lễ hội công cộng như các buổi tiệc tùng là một hình thức tham gia chính trị phổ biến trong thời kỳ tiền cách mạng.

Sự tham gia chính trị đang trên đà gia tăng trong thời kỳ tiền cách mạng, dù quy mô vẫn còn hạn chế và các hình thức hiện hữu đều bị giới cầm quyền kiểm soát gắt gao.[53] Ở những nơi có tổ chức bầu cử, rất ít người có quyền bỏ phiếu hoặc tranh cử do các quy định khắt khe về tài sản (điển hình như ở Pháp, chưa tới 250.000 cử tri có quyền bầu cử),[54] và chính phủ còn can thiệp sâu vào quá trình bầu cử đến mức "không một chính phủ nào thua trong các cuộc bầu cử", mặc dù vậy các cuộc bỏ phiếu này vẫn là những thước đo quan trọng về quyền lực của giới cầm quyền.[55]

Ngoài bầu cử, hình thức biểu đạt và tham gia chính trị cơ bản nhất, đồng thời cũng là phương tiện giúp nâng cao nhận thức chính trị nói chung, chính là việc đọc, viết và xuất bản báo chí.[53] Các tờ báo như Rheinische Zeitung (do Karl Marx làm tổng biên tập) ở Đức hay La Réforme ở Pháp đã trở thành tiếng nói của phe đối lập; trong bối cảnh các đảng phái và tổ chức chính trị chính thức hầu như bị cấm đoán, ban biên tập của những tờ báo này nghiễm nhiên trở thành những nhà lãnh đạo chính trị.[56] Ở một mức độ nhất định, các tổ chức chính trị không chính thức vẫn tồn tại dưới vỏ bọc các nhóm giao lưu xã hội như câu lạc bộ đọc sách, quán cà phê hay các hội quán Tam Điểm.[57] Các tổ chức chính trị chính thức lại hoạt động dưới hình thức hội kín bất hợp pháp. Nhiều hội trong số đó đã châm ngòi cho các cuộc khởi nghĩa thất bại trong giai đoạn tiền cách mạng, tiêu biểu như tổ chức Châu Âu Trẻ của Giuseppe Mazzini và một số hội Carbonari.[58] Nền chính trị quần chúng được tiến hành thông qua các lễ hội công cộng hoặc những buổi tiệc tùng. Về bản chất, đây là những cuộc mít tinh chính trị được tổ chức khéo léo nhằm lách luật cấm của nhà nước.[56]

Mặc dù ngày càng trở nên cởi mở hơn, "chính trị" – hay những nỗ lực tác động nhằm thay đổi cấu trúc chính trị, kinh tế và xã hội theo một "hướng đi được vạch sẵn và tuyên bố rõ ràng" – vẫn chỉ là sân chơi của tầng lớp có học thức.[59] Phần lớn quần chúng hoàn toàn đứng ngoài lề các vấn đề chính trị trước năm 1848,[60] và những nông dân cùng công nhân bất mãn khi tham gia vào các cuộc xung đột xã hội chủ yếu chỉ nhắm đến việc giải quyết ngay lập tức các khó khăn kinh tế trước mắt hơn là đòi hỏi một sự thay đổi chính trị sâu rộng.[61] Dù vậy, ngay cả khi không mang nặng tư duy chính trị, tầng lớp bình dân vẫn ủng hộ cách mạng như một con đường để cải thiện điều kiện vật chất của mình.[62] Đôi khi, những vụ bất ổn xã hội cũng mang theo ẩn ý chính trị, như trong các cuộc Khởi nghĩa Canut, nơi xung đột giai cấp giữa công nhân và thương gia đan xen với những nỗ lực thúc đẩy thay đổi chính trị.[63] Trong các cuộc cách mạng năm 1848, những đòi hỏi này tiếp tục phát triển; các xung đột xã hội vốn "phi chính trị" và những yêu sách cải cách xã hội trước đây cũng dần bị chính trị hóa.[64]

Khủng hoảng kinh tế

 
Sự lây lan của bệnh mốc sương khoai tây ở châu Âu năm 1845

Theo các nhà kinh tế sử học Helge Berger và Mark Spoerer, nguyên nhân trực tiếp nhất dẫn đến các cuộc cách mạng năm 1848 là cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra từ năm 1845 đến 1847.Lỗi chú thích: Thiếu thẻ đóng </ref> cho thẻ <ref> Hậu quả của bệnh mốc sương khoai tây diễn ra tàn khốc nhất tại Ireland, nơi Nạn đói lớn đã cướp đi sinh mạng của hơn 1 triệu người, tương đương hơn 1/8 tổng dân số 8 triệu người của khu vực này. Các quốc gia khác như Scotland, Bỉ và Hà Lan cũng chứng kiến thiệt hại mùa màng tương tự, trong đó có 60.000 người tử vong ở Hà Lan do hậu quả của dịch bệnh.[65] Tình trạng hạn hán năm 1846 tuy đã kìm hãm sự lây lan của bệnh mốc sương nhưng lại phá hủy các vụ thu hoạch ngũ cốc, kéo theo giá lương thực tăng vọt trên toàn lục địa. Hậu quả là người nghèo gần như không thể mua được bất kỳ loại thực phẩm nào.[66] Các cuộc bạo loạn tranh giành lương thực nổ ra khắp châu Âu khi người nghèo dùng vũ lực để phản ứng với nạn đói, với hơn 400 vụ bạo loạn ở Pháp trong giai đoạn 1846–1847 và 164 vụ ở các bang của Đức vào năm 1847.[67][b]

Mặc dù nạn đói thảm khốc đã được ngăn chặn ở hầu hết các quốc gia nhờ sự can thiệp mạnh mẽ từ chính phủ, nhưng giá lương thực leo thang, cộng hưởng với tình trạng mất mùa bông ở miền Nam Hoa Kỳ (vốn là nguyên liệu thiết yếu cho ngành dệt may), đã dẫn đến một cuộc suy thoái công nghiệp quy mô lớn vào năm 1847.[68] Tình trạng thất nghiệp và nghèo túng lan tràn mạnh mẽ trong các cộng đồng dân cư đô thị: theo Christopher Clark, tính đến năm 1847, một phần năm dân số ở Friesland thuộc Hà Lan (tức 47.482 trên tổng số 245.000 người) phải sống dựa vào trợ cấp của nhà nước; và trong cùng giai đoạn đó, "số lượng cư dân được chính thức xếp vào diện hộ nghèo ở các thị trấn của Đức đã phình to lên tới hai phần ba, thậm chí là ba phần tư dân số".[69] Berger và Spoerer đã tìm ra một mối tương quan chặt chẽ giữa các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi cú sốc công nghiệp năm 1847 với các quốc gia nổ ra cách mạng vào năm 1848.[70][c]

Niên biểu

"Mùa xuân của các dân tộc" (tháng 1 – tháng 5 năm 1848)

 
Bản đồ châu Âu trong thời kỳ cách mạng, thể hiện các sự kiện chính, các trung tâm cách mạng, những cuộc hành quân của quân phản động, cùng các quốc gia có sự thoái vị và xung đột dân tộc.

Các sự kiện cách mạng năm 1848 bùng nổ sau "Cách mạng Tháng Hai" tại Pháp, cuộc cách mạng đã lật đổ Nền quân chủ Tháng Bảy và dẫn đến sự ra đời của Đệ Nhị Cộng hòa Pháp. Thực chất, đây không phải là cuộc khởi nghĩa đầu tiên nổ ra, bởi trước đó vào tháng 1 đã có một cuộc cách mạng nổ ra ở Vương quốc Hai Sicilia. Trong những năm trước đó, cuộc khởi nghĩa Đại Ba Lan năm 1846 và Chiến tranh Sonderbund tại Thụy Sĩ năm 1847 cũng chứng kiến những cuộc đấu tranh bạo lực tương tự nhằm đòi hỏi cải cách chính trị.[72] Tuy nhiên, cuộc cách mạng tại Pháp lại mang tầm ảnh hưởng lớn hơn hẳn đối với những cuộc cách mạng đương thời. Điều này xuất phát từ vai trò trung tâm của Pháp trong nền chính trị châu Âu thời hậu Cách mạng Pháp, cùng niềm tin rằng những biến động tại quốc gia này chính là điềm báo cho phần còn lại của lục địa.[73] Chỉ trong vòng một tuần, tin tức về cuộc cách mạng ở Pháp đã lan truyền chóng mặt khắp châu Âu, thổi bùng sự phấn khích trong giới cải cách nhưng đồng thời gieo rắc nỗi bất an sâu sắc cho phe phản động:[74] tại thủ đô Viên, tin tức này ập đến "như sét đánh ngang tai, tạo ra một cú sốc làm rung chuyển từng dây thần kinh của hệ thống chính trị",[75] và khi nghe tin về các cuộc cách mạng, nhà ngoại giao Klemens von Metternich đã phải thốt lên bằng tiếng Pháp: "thôi xong rồi, anh bạn thân mến, mọi thứ kết thúc rồi!" (Eh bien, mon cher, tout est fini!).[76]

Chỉ vài tuần sau cuộc cách mạng ở Pháp, hàng loạt cuộc nổi dậy tương tự đã nổ ra tại München, Viên, Buda và Pest,[d] Venezia, Kraków, MilanoBerlin kéo dài từ đầu đến giữa tháng 3.[77] Cùng với sức lan tỏa của cách mạng, giới cải cách khắp châu Âu đã đồng loạt yêu sách thành lập nghị viện đại diện, đòi tự do báo chí, tự do lập hội, quyền phổ thông đầu phiếu cho nam giới, và vũ trang cho nhân dân dưới ngọn cờ vệ binh quốc gia.[78] Trước áp lực chính trị áp đảo, các chính phủ đã đầu hàng mà không có sự phản kháng nào đáng kể, buộc phải đưa ra nhiều nhượng bộ chính trị.[79] Tại Áo, sau những cuộc đụng độ bạo lực ở Viên từ ngày 13 đến 15 tháng 3, Metternich buộc phải từ chức và sống lưu vong, còn Hoàng đế Ferdinand I phải cam kết ban hành hiến pháp cho đế chế.[80] Ngay sau đó, ngọn lửa cách mạng bùng lên tại Hungary, đưa đến việc Nghị viện Hungary đạt được thỏa thuận về chủ quyền quốc gia cho nước này trong phạm vi đế quốc Habsburg.[81] Vài ngày sau, khi tin tức từ Viên bay đến vùng miền Bắc Ý đang nằm dưới ách cai trị của Áo, các chính quyền cách mạng đã được tuyên bố thành lập tại Milano và Venezia. Đồng thời, Vương quốc Piedmont–Sardegna cũng tuyên chiến với Áo, châm ngòi cho Chiến tranh giành độc lập Ý lần thứ nhất.[82] Tại Phổ, sau một loạt cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu ở Berlin vào ngày 18 tháng 3, Vua Friedrich Wilhelm IV đã ra lệnh rút quân, bổ nhiệm một nội các mang tư tưởng tự do và cam kết đưa nước Phổ theo đuổi sự nghiệp thống nhất quốc gia Đức.[83]

Thành tựu ban đầu và các cuộc xung đột

 
Chiến lũy cách mạng ở Viên vào tháng 5 năm 1848, tung bay lá cờ của nước Đức

Những tháng đầu tiên của phong trào cách mạng đã chứng kiến những biến đổi chính trị sâu sắc trên khắp châu Âu. Xuyên suốt mùa xuân năm 1848, các cuộc bầu cử với quyền phổ thông đầu phiếu mở rộng đã được tổ chức nhằm lập ra các nghị viện mới hoặc cải tổ các nghị viện cũ.[84][e] Nổi bật trong số đó là Quốc hội Lập hiến Pháp của Pháp - thay thế cho Hạ viện vốn không mang tính đại diện, Hội nghị Đế chế Áo (Reichstag), Nghị viện Hungary cùng năm nghị viện quốc gia khác trong nội bộ Đế quốc Áo, cùng với Quốc hội Frankfurt - nghị viện quốc gia đầu tiên đại diện cho toàn bộ nước Đức.[86]

Sự tham gia chính trị của quần chúng gia tăng đáng kể khi chế độ kiểm duyệt báo chí được nới lỏng và các lệnh cấm lập hội được dỡ bỏ theo tinh thần của những bản hiến pháp mới. Số lượng các câu lạc bộ chính trị và báo chí bùng nổ mạnh mẽ, giúp lan tỏa nhận thức chính trị đến đông đảo tầng lớp nhân dân hơn hẳn so với thời kỳ tiền cách mạng.[87] Một phong trào lao động cũng bắt đầu nhen nhóm trong giai đoạn đầu của các cuộc cách mạng, mặc dù các hiệp hội công nhân không được tổ chức chặt chẽ và phổ biến rộng rãi như các câu lạc bộ chính trị.[88]

Một "tâm lý cuồng nhiệt cách mạng"[89] đã lan tỏa khắp châu Âu trong giai đoạn sơ khởi khi người dân hân hoan ăn mừng những thành tựu từ "mùa xuân của các dân tộc". Thậm chí tại các thị trấn tỉnh lẻ nhỏ nhất ở Đức cũng "tràn ngập ánh đèn rực rỡ, những cuộc diễu hành lễ hội của các hội xạ thủ, các bữa tiệc của giới chức sắc địa phương và những cái ôm vỡ òa trên đường phố".[90] Một "làn sóng tình huynh đệ" cũng trỗi dậy, "gắn kết những tầng lớp tưởng chừng không bao giờ đứng chung với nhau"; tại Pháp, "các linh mục ban phước cho việc trồng những cây tự do", tại Transylvania, "người Romania và người Hungary [...] ôm chầm lấy nhau", còn tại Mainz, "những người Tin Lành, Công giáoDo Thái [...] đều hội tụ về nhà thờ chính tòa của thành phố bên bờ sông Rhein để cùng nhau chung vui trước tin mừng tự do vĩ đại."[91]

Dù vậy, giai đoạn đầu của cách mạng cũng đi kèm với bạo lực lan tràn và sự leo thang nghiêm trọng của các cuộc xung đột xã hội, khi dân chúng thuộc mọi tầng lớp đều khao khát tiến hành một cuộc cách mạng xã hội nhằm củng cố vị thế của mình, hoặc dùng bạo lực để trả thù cho những uất ức dồn nén bấy lâu.[92] Tại các trung tâm đô thị, những kẻ bạo loạn cướp phá nhà cửa và văn phòng của giới chủ, đập phá máy móc, phá hủy các nhà máy, công xưởng, đồng thời tấn công những người thu thuế và quan chức hải quan. Ở nông thôn, nông dân chiếm đóng và khai thác những vùng đất công cộng đã bị tước đoạt từ trước đó; tại những nơi chế độ phong kiến vẫn còn tồn tại, họ tấn công các lãnh chúa và thiêu rụi sổ sách ghi chép, còn ở những nơi chế độ phong kiến đã bị bãi bỏ, họ quay sang tấn công các quan chức chính phủ (đặc biệt là lực lượng kiểm lâm).[93]

Các xung đột dân tộc cũng bắt đầu nổ ra vào cuối mùa xuân năm 1848, đặc biệt là ở Đức và Đế quốc Áo đa sắc tộc. Nỗ lực hướng tới thống nhất quốc gia Đức đã dẫn đến những va chạm giữa người Đức với các dân tộc khác nằm trong vùng lãnh thổ Đức như người Ba Lan, người Đan Mạchngười Séc.[94] Tại Đại công quốc Posen ở miền đông nước Phổ, một cuộc nổi dậy của những người theo chủ nghĩa dân tộc Ba Lan đã thổi bùng xung đột giữa người Đức và người Ba Lan, bất chấp việc người Đức từng ủng hộ nền độc lập của Ba Lan trước đó; tuy nhiên, cuộc nổi dậy đã bị quân đội Phổ dập tắt vào tháng 4.[95] Ở vùng Schleswig, cộng đồng người Đức đã nổi dậy chống lại âm mưu của Đan Mạch nhằm sáp nhập lãnh địa công tước này. Họ nhận được sự hậu thuẫn từ các bang của Đức, qua đó châm ngòi cho cuộc Chiến tranh Schleswig lần thứ nhất.[96] Một số người theo chủ nghĩa dân tộc Đức còn tham vọng mở rộng ranh giới quốc gia Đức tới các vùng lãnh thổ vương quyền của nền quân chủ Habsburg, bao gồm Đại công quốc Áo của người Đức cũng như vùng Bohemia của người Séc, vùng Carniola của người Slovenia, cùng vùng TriesteTrentino của người Ý.[97] Những mâu thuẫn dân tộc lan tràn khắp nền quân chủ Habsburg, đặc biệt là ở Hungary, nơi những người không thuộc dân tộc Magyar (nhất là người Croatia và người Romania) chống lại các âm mưu nhằm thiết lập một quốc gia Hungary thuần nhất. Ngoài ra còn có những xung đột tại vùng Galicia giữa người Ba Lan và người Ruthenia, hay tại Bohemia giữa người Séc và người Đức.[98]

Phản cách mạng (Tháng 5 – Tháng 12 năm 1848)

 
Một người lính thuộc Lực lượng Vệ binh Cơ động Pháp hạ lá cờ đỏ khỏi một chiến lũy trong cuộc Khởi nghĩa Những ngày Tháng Sáu

Mùa hè năm 1848 chứng kiến sự chia rẽ sâu sắc tại Pháp giữa giới công nhân cấp tiến và chính phủ ôn hòa. Vào đầu mùa xuân, chính phủ lâm thời vẫn còn nhận được sự hậu thuẫn của công nhân khi họ chấp thuận các yêu sách của tầng lớp công nhân về quyền lao động và "tổ chức lao động" thông qua việc thành lập các công xưởng quốc gia.[99] Tuy nhiên, sau chiến thắng của phe bảo thủ trong cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến vào ngày 23 tháng 4, cộng thêm nỗ lực lật đổ Quốc hội của phe cấp tiến vào ngày 15 tháng 5, chính phủ mới của Pháp đã chịu áp lực buộc phải đóng cửa các công xưởng này. Kể từ sau ngày 15 tháng 5, chính quyền cũng bắt đầu đàn áp phe cánh tả bằng cách bỏ tù các thủ lĩnh, đình chỉ hoạt động của các câu lạc bộ và báo chí, đồng thời giải tán Ủy ban Luxembourg.[100] Ngày 21 tháng 6, các công xưởng quốc gia chính thức bị đóng cửa, châm ngòi cho một cuộc nổi dậy quy mô lớn của công nhân chống lại chính phủ, đi vào lịch sử với tên gọi cuộc Khởi nghĩa "Những ngày tháng Sáu". Cuộc nổi dậy bị dập tắt trong biển máu bởi Tướng Louis-Eugène Cavaignac. Ông được Quốc hội Lập hiến trao quyền độc tài để vãn hồi trật tự, với mục tiêu trấn áp không chỉ bao gồm quân khởi nghĩa mà còn cả toàn bộ lực lượng đối lập cánh tả nói chung.[101]

 
Vụ xử tử Robert Blum, một đặc phái viên của Quốc hội Frankfurt, vào ngày 9 tháng 11, đánh dấu sự kết thúc của cuộc Khởi nghĩa Viên

Tại Đế quốc Áo, công cuộc phản cách mạng chủ yếu do quân đội và phe bảo thủ trong triều đình Habsburg tiến hành.[102] Thắng lợi đầu tiên của nhà Habsburg là việc dập tắt cuộc Khởi nghĩa tháng Sáu ở Praha, vốn bùng phát do sự khiêu khích của vị tướng phản động Alfred I, Thân vương xứ Windisch-Grätz.[103] Bất chấp những nỗ lực hòa giải từ chính phủ tự do của Nam tước Franz von Pillersdorf, cuộc khởi nghĩa đã bị đè bẹp khi thành phố này hứng chịu những trận pháo kích dữ dội.[104] Quan trọng hơn, tại miền Bắc nước Ý, quân đội dưới quyền chỉ huy của Joseph Radetzky đã đánh bại lực lượng thiếu tổ chức của Piedmont trong Trận Custoza vào tháng 7, giúp Áo gần như giành lại toàn quyền kiểm soát các tỉnh Ý của mình.[105] Khi củng cố lại được thế lực, phe bảo thủ đã huy động Josip Jelačić, vị Ban của Croatia (tức Thống đốc), tiến quân xâm lược Hungary nhằm chấm dứt nền chủ quyền của quốc gia này.[106] Sự bùng nổ của cuộc Chiến tranh giành độc lập Hungary vào ngày 11 tháng 9 đã kéo theo cuộc Khởi nghĩa Viên vào tháng 10. Phe cấp tiến đã chiếm giữ thành phố trong suốt ba tuần, cho đến khi bị lực lượng liên hợp của Jelačić và Windisch-Grätz nghiền nát vào ngày 31 tháng 10.[107]

 
Bức tranh biếm họa trên ấn bản số 28 năm 1848 của tờ Satyrische Zeitbilder vẽ cảnh Vua Friedrich Wilhelm IV cùng Thống chế Friedrich von Wrangel, Tổng tư lệnh quân đội Phổ, đang cố gắng đóng sập cửa trước mặt các đại biểu mang theo bản Hiến pháp. Dòng chú thích bên dưới viết: "Sẽ không có một tờ giấy nào được phép chen ngang giữa ta và thần dân của ta."

Tại Đức, làn sóng phản cách mạng bắt đầu vào đầu mùa thu năm 1848 từ những phản ứng gay gắt đối với Hiệp định đình chiến Malmö, một thỏa thuận giữa Phổ và Đan Mạch nhằm tạm đình chỉ cuộc Chiến tranh Schleswig. Dù hành động đơn phương này của Phổ đã làm suy yếu quyền lực tối cao của nghị viện Frankfurt, cơ quan này vẫn buộc phải chấp thuận hiệp định đình chiến do lo ngại nguy cơ nổ ra chiến tranh với các cường quốc, đặc biệt là với Nga.[108] Sự phẫn nộ lan rộng trước hành động bị xem là "phản bội" cách mạng Đức của nghị viện Frankfurt, cộng hưởng với nỗi thất vọng của tầng lớp bình dân trước nhịp độ cải cách chậm chạp, đã châm ngòi cho hàng loạt cuộc nổi dậy mới bùng phát ở miền tây nước Đức vào tháng 9.[109] Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa cấp tiến này nhanh chóng bị dập tắt, với sự hậu thuẫn từ chính chính phủ trung ương do nghị viện Frankfurt lập nên.[110] Sau vụ quân đội Áo xử tử nghị sĩ Robert Blum vào cuối cuộc khởi nghĩa tháng 10, uy tín và tuyên bố của nghị viện Frankfurt về việc thực thi quyền lực trên toàn nước Đức càng trở nên mất giá trị.[111]

Đến cuối năm 1848, "mùa xuân của các dân tộc" gần như đã khép lại, và các chính phủ mang đậm khuynh hướng bảo thủ lần lượt lên nắm quyền trên khắp châu Âu. Tại Phổ, với sự hậu thuẫn của quân đội, Vua Friedrich Wilhelm IV đã tiến hành một cuộc đảo chính, phế truất các bộ trưởng tự do do chính ông bổ nhiệm hồi mùa xuân và áp đặt một bản hiến pháp bảo thủ.[112] Tại Áo, Hoàng đế Ferdinand I bị ép thoái vị để nhường ngôi cho cháu trai là Franz Joseph I, với kỳ vọng rằng vị tân hoàng đế sẽ không bị ràng buộc bởi những nhượng bộ lập hiến đã được hứa hẹn trong thời kỳ cách mạng.[113] Tại Pháp, Louis Napoléon Bonaparte, cháu trai của vị hoàng đế Pháp Napoleon I, đã đắc cử tổng thống, phần lớn nhờ vào sự ủng hộ của phe bảo thủ – những người kỳ vọng ông sẽ thiết lập lại sự ổn định sau những biến động của phong trào tháng Sáu.[114]

Làn sóng cách mạng thứ hai (1849)

 
Lễ tuyên bố thành lập Cộng hòa La Mã vào tháng 2 năm 1849

Cuối năm 1848, các cuộc cách mạng đã tàn lụi tại chính nơi chúng bùng phát, khi các trung tâm cách mạng lớn như Paris, Viên, Berlin và Milano phần lớn đã bị bình định. Tuy nhiên, sự mở rộng các hoạt động chính trị trong năm 1848 đã tạo điều kiện cho phe cấp tiến bắt đầu tổ chức lực lượng tại những vùng đất mới, nằm ngoài các đô thị lớn.[115] Tại Pháp và Đức, các tổ chức cánh tả mở rộng tầm ảnh hưởng về các tỉnh lẻ và giành được sự ủng hộ mạnh mẽ hơn từ giới công nhân nông thôn trong các cuộc bầu cử nghị viện năm 1849.[116] Trong khi đó, tại miền Trung nước Ý và Hungary, ngọn lửa cách mạng lại bùng lên mạnh mẽ, thiết lập nên các chính quyền mới nhằm thách thức trật tự cũ.

Tại miền Trung nước Ý, phe cấp tiến đã nắm quyền ở Đại công quốc ToscanaLãnh địa Giáo hoàng, qua đó tuyên bố thành lập Cộng hòa Toscana và Cộng hòa La Mã vào tháng 2. Cùng với Piedmont–Sardegna, nơi phe cấp tiến giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử nghị viện, những chính quyền cách mạng mới ở Ý bắt đầu lên kế hoạch thành lập một quốc hội lập hiến cho toàn nước Ý (tương tự như mô hình đã được thành lập ở Đức) và tái diễn cuộc chiến với Áo.[117] Tuy nhiên, Piedmont–Sardegna một lần nữa phải chuốc lấy thất bại nặng nề trước Áo trong Trận Novara vào tháng 3, dẫn đến việc Vua Carlo Alberto của Piedmont phải thoái vị và cuộc chiến chính thức khép lại vào tháng 8.[118]

 
Nikolai I của Nga, "hiến binh của châu Âu"

Làn sóng phản cách mạng tiếp diễn tại đế quốc Habsburg dưới thời tân hoàng đế Franz Joseph, khi chính phủ đế quốc giải tán Hội nghị Đế chế (Reichstag) và bác bỏ bản dự thảo hiến pháp của cơ quan này để áp đặt Hiến pháp Tháng Ba mang tính bảo thủ rõ rệt. Bản hiến pháp mới này được áp dụng trên toàn cõi đế quốc, qua đó chấm dứt quyền tự trị của Hungary và buộc vùng đất này phải bị chia tách thành nhiều quân khu.[119] Để đáp trả, Hungary tuyên bố độc lập hoàn toàn khỏi đế quốc Habsburg.[120] Xuyên suốt mùa xuân, Hungary đã phát động một chiến dịch quân sự giúp họ tái chiếm gần như toàn bộ lãnh thổ từ tay quân đội Habsburg.[121] Đứng trước cuộc khủng hoảng mới tại Hungary, đế quốc Habsburg đã khẩn cầu sự can thiệp của Nga trong "cuộc thánh chiến chống lại tình trạng vô chính phủ".[122] Nga đã huy động 200.000 quân tràn vào Hungary, hội quân cùng 175.000 lính Habsburg để đối đầu với 170.000 quân Hungary, những người mà phần lớn đã kiệt sức và thiếu thốn trang bị.[123] Đổi lại sự hỗ trợ của Nga, Áo không đưa ra bất kỳ nhượng bộ nào, và bản thân Nga cũng không hề đòi hỏi.[124]

 
Lễ đầu hàng tại Világos của quân cách mạng Hungary vào ngày 13 tháng 8. Những lực lượng Hungary cuối cùng đã đầu hàng vào tháng 10 tại pháo đài Komárom.

Tại Đức, sau nhiều lần cân nhắc, Quốc hội Frankfurt đã thông qua Hiến pháp Frankfurt cho Đế quốc Đức mới vào tháng 3 năm 1849 và bầu Friedrich Wilhelm IV làm Hoàng đế của người Đức. Tuy nhiên, ông đã cự tuyệt vương miện với lý do Quốc hội không có thẩm quyền trao nó, đồng thời còn lên án Hiến pháp Frankfurt và từ chối mọi nỗ lực hạn chế quyền lực quân chủ của mình.[125] Đáp lại, một làn sóng khởi nghĩa mới đã càn quét nước Đức khi phe cấp tiến, với sự hậu thuẫn lớn từ giới bình dân, tìm cách ép buộc giới cầm quyền phải chấp nhận Hiến pháp Frankfurt. Cuộc đấu tranh kéo dài từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1849 này cuối cùng cũng chuốc lấy thất bại, đặt dấu chấm hết cho phong trào cách mạng ở Đức.[126]

Qua mùa hè năm 1849, các chính quyền cách mạng cuối cùng chỉ còn trụ lại ở Rome, Venezia và Hungary. Cộng hòa Rome cách mạng bị đánh bại vào tháng 7 trước sự can thiệp của Pháp, còn Venezia cũng phải đầu hàng vào tháng 8 sau khi cầm cự hơn một năm trong vòng vây hãm và cô lập.[127] Với sự tham chiến của quân đội Nga, nhà nước cách mạng cuối cùng là Hungary đã bị đẩy vào thế phòng ngự và phải hứng chịu hàng loạt thất bại từ cuối tháng 6 đến tháng 8. Ngày 13 tháng 8, Hungary đầu hàng Áo và Nga, chính thức kết thúc cuộc chiến tranh giành độc lập; những cứ điểm phòng ngự cuối cùng của Hungary tại pháo đài Komárom cũng buông súng từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 10, khép lại hoàn toàn các cuộc cách mạng năm 1848.[128]

Hậu quả và di sản

Chúng ta đã bị đánh bại và làm cho nhục nhã ... bị phân tán, tống giam, bị tước vũ khí và bịt miệng. Vận mệnh của nền dân chủ châu Âu đã tuột khỏi tầm tay chúng ta.

Pierre-Joseph Proudhon[129]

Những người dân chủ tự do nhìn nhận năm 1848 như một cuộc cách mạng dân chủ, về lâu dài đã bảo đảm các giá trị tự do, bình đẳng và bác ái. Đối với những người theo chủ nghĩa dân tộc, 1848 là mùa xuân của hy vọng, khi các dân tộc mới trỗi dậy khước từ ách thống trị của các đế quốc đa sắc tộc cằn cỗi, dù kết quả mang lại không được trọn vẹn như nhiều người mong đợi. Những người cộng sản thì lên án cách mạng 1848 là sự phản bội lại lý tưởng của giai cấp công nhân, do giai cấp tư sản đã làm ngơ trước những đòi hỏi chính đáng của giai cấp vô sản.[130] Quan điểm coi cuộc cách mạng năm 1848 là một cuộc cách mạng tư sản cũng khá phổ biến trong các nghiên cứu học thuật phi Marxist.[131][132][133] Những căng thẳng xoay quanh sự khác biệt về đường lối giữa các nhà cách mạng tư sản và phe cấp tiến đã đóng một vai trò lớn dẫn đến sự thất bại của các phong trào này.[134]

Nhiều chính phủ đã tiến hành đảo ngược một phần các cải cách cách mạng của giai đoạn 1848–1849, đồng thời gia tăng sự đàn áp và kiểm duyệt. Năm 1851, giới quý tộc Hannover đã kháng cáo thành công lên Quốc hội Liên bang (Đức) về việc họ đã bị tước đoạt các đặc quyền trước cách mạng, trong khi giới điền chủ Junker Phổ cũng khôi phục được quyền lực cảnh sát điền trang của mình từ năm 1852 đến năm 1855.[135][136] Tại Đế quốc Áo, Sắc lệnh Sylvester (1851) đã bãi bỏ bản hiến pháp tiến bộ của Franz Stadion cùng Quy chế về Quyền Cơ bản, trong khi số vụ bắt bớ tại các vùng lãnh thổ của vương triều Habsburg tăng vọt từ 70.000 vụ vào năm 1850 lên đến 1 triệu vụ vào năm 1854.[137] Sự cai trị của Sa hoàng Nikolai I tại Nga sau năm 1848 đặc biệt hà khắc, đánh dấu bằng sự bành trướng của lực lượng cảnh sát mật cùng chế độ kiểm duyệt gắt gao; trong giai đoạn ngay sau năm 1848, số lượng người Nga làm việc cho các cơ quan kiểm duyệt thậm chí còn nhiều hơn số lượng sách thực tế được xuất bản.[138][139] Tại Pháp, các tác phẩm của Charles Baudelaire, Victor Hugo, Alexandre Ledru-Rollin và Pierre-Joseph Proudhon đều bị chính quyền tịch thu.[140]

Trong thập kỷ hậu cách mạng sau năm 1848, diện mạo xã hội dường như không có nhiều thay đổi rõ rệt. Do thiếu vắng những biến đổi cấu trúc mang tính vĩnh viễn, nhiều sử gia coi các cuộc cách mạng này là một thất bại. Tuy nhiên, gần đây hơn, Christopher Clark đã nhìn nhận thời kỳ sau năm 1848 bị chi phối bởi một cuộc cách mạng trong chính bộ máy chính quyền. Các chính phủ hậu 1848 buộc phải quản lý không gian công cộng và quần chúng một cách bài bản, hiệu quả hơn. Điều này dẫn đến sự lên ngôi của các cơ quan kiểm soát, điển hình như Zentralstelle für Pressangelegenheiten (Cục Báo chí Trung ương, thành lập năm 1850) của Phổ, Zensur- und Polizeihofstelle (Văn phòng Kiểm duyệt và Cảnh sát) của Áo, hay Direction Générale de la Librairie (Tổng cục Xuất bản, 1856) của Pháp.[141] Thủ tướng bảo thủ của nước Phổ, Otto von Manteuffel, từng tuyên bố rằng nhà nước không còn có thể được điều hành như một điền trang của giới quý tộc.[142] Cùng lúc đó, các liên minh ôn hòa – bao gồm những người tự do và bảo thủ hợp lực bởi nỗi lo sợ chung trước chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân – cũng nắm quyền sau các cuộc cách mạng, tiêu biểu như liên minh Connubio do Camillo Benso, Bá tước xứ Cavour lãnh đạo tại Piedmont–Sardegna.[143][144] Nhà sử học Priscilla Robertson cho rằng nhiều mục tiêu của các nhà cách mạng đã thực sự đạt được vào thập niên 1870, dù phần lớn lại do chính những kẻ thù của cách mạng thực hiện. Đến năm 1850, ÁoPhổ đã xóa bỏ chế độ phong kiến, trong khi Nga bãi bỏ chế độ nông nô vào năm 1861, giúp cải thiện đáng kể điều kiện sống của nông dân. Tầng lớp trung lưu châu Âu giành được nhiều thành tựu về chính trị và kinh tế trong 20 năm tiếp theo; Pháp vẫn duy trì quyền phổ thông đầu phiếu cho nam giới được thiết lập từ thời Đệ Nhị Cộng hòa. Đế quốc Áo được tái cơ cấu thành nền quân chủ kép, trao cho Hungary nhiều quyền tự quyết hơn thông qua bản Thỏa hiệp (Ausgleich) năm 1867 – một quá trình được dẫn dắt bởi chính các nhà cách mạng Gyula Andrássy và Ferenc Deák.[145][146]

 
Bức tranh biếm họa của Ferdinand Schröder về sự thất bại của các cuộc cách mạng 1848–1849 ở châu Âu (được xuất bản trên tờ Düsseldorfer Monatshefte, tháng 8 năm 1849)

Karl Marx bày tỏ sự thất vọng trước tính chất tư sản của các cuộc cách mạng năm 1848.[147][148] Trong bản "Diễn văn của Ủy ban Trung ương gửi Liên đoàn Những người Cộng sản" năm 1850, Marx đã phác thảo chi tiết học thuyết về cách mạng không ngừng. Theo đó, giai cấp vô sản cần phải củng cố các lực lượng cách mạng dân chủ tư sản cho đến khi bản thân giai cấp vô sản đã sẵn sàng để nắm lấy chính quyền.[149]

Nhà sử học người Đức Reinhard Rürup nhận định các cuộc cách mạng năm 1848 là một bước ngoặt trong sự phát triển của chủ nghĩa bài Do Thái hiện đại. Điều này được thể hiện qua sự xuất hiện của các thuyết âm mưu mô tả người Do Thái như những đại diện cho cả lực lượng cách mạng xã hội (với các trường hợp điển hình như Joseph Goldmark và Adolf Fischhof ở Viên) lẫn tư bản quốc tế. Minh chứng là bản báo cáo năm 1848 của Eduard von Müller-Tellering, thông tín viên tại Viên cho tờ Neue Rheinische Zeitung của Marx, trong đó tuyên bố rằng "sự bạo ngược xuất phát từ tiền bạc, và tiền bạc thì lại thuộc về người Do Thái".[150]

Khoảng 4.000 người lưu vong đã trốn sang Hoa Kỳ để lánh nạn khỏi các cuộc thanh trừng của phe phản động. Trong số đó, 100 người đã đến vùng Texas Hill Country và trở thành người Texas gốc Đức.[151] Người Mỹ gốc Đức sau này sẽ đóng một vai trò quan trọng trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Nhìn rộng hơn, nhiều nhà cách mạng bị vỡ mộng và bức hại, đặc biệt (dù không phải tất cả) là từ Đức và Đế quốc Áo, đã rời bỏ quê hương để sống lưu vong tại Tân Thế giới hoặc các quốc gia châu Âu có nền chính trị tự do hơn; những người di cư này được biết đến với tên gọi Phong trào 48 (Forty-Eighters). Tâm lý chung của người Mỹ gốc Đức phần lớn là chống lại chế độ nô lệ, đặc biệt là trong nhóm những người thuộc Phong trào 48.[152]

Trong văn hóa đại chúng

Cuốn tiểu thuyết thư tín Freedom & Necessity xuất bản năm 1997 của hai tác giả Steven Brust và Emma Bull lấy bối cảnh tại Anh vào thời kỳ hậu Cách mạng năm 1848.[153]

Loạt phim truyền hình Ukraina ra mắt năm 2021 mang tên Coffee with Cardamom khắc họa một câu chuyện tình yêu nảy nở giữa vòng xoáy của các cuộc cách mạng năm 1848.[154]

Chú thích

  1. ^ Broers lập luận rằng có một sự phân biệt lớn hơn giữa những người cấp tiến và những người theo chủ nghĩa xã hội, trong đó ông đặc trưng hóa những người cấp tiến nhìn chung mang tư tưởng tự do kinh tế so với những người theo chủ nghĩa xã hội có xu hướng can thiệp nhiều hơn.
  2. ^ Số liệu thống kê tại Đức có sự khác biệt giữa các nguồn: Clark 2023, tr. 47 ghi nhận 158 cuộc bạo loạn ở Phổ trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 5 năm 1847, trong khi Siemann 1998, tr. 39 thống kê được 103 cuộc biểu tình từ năm 1840 đến năm 1847.
  3. ^ Ngoại lệ duy nhất là Hà Lan. Berger và Spoerer lập luận rằng quốc gia này đã trải qua một cuộc cách mạng (thông qua việc phủ đầu ban hành Cải cách Hiến pháp năm 1848) mà không phải hứng chịu cú sốc công nghiệp nào.[71]
  4. ^ Thành phố Budapest hiện đại mãi đến năm 1873 mới được thành lập sau sự kiện hợp nhất ba thành phố Buda, Pest, và Óbuda.
  5. ^ Quy mô của quyền bầu cử có sự khác biệt đáng kể. Quốc hội Lập hiến Pháp được bầu trực tiếp theo chế độ phổ thông đầu phiếu cho nam giới. Quốc hội Quốc gia Frankfurt được bầu gián tiếp theo chế độ gần như phổ thông đầu phiếu cho nam giới. Hội nghị Đế chế Áo (Reichstag) được bầu qua một cơ chế mở rộng nhưng loại trừ những người lao động lưu động hoặc di cư, bao gồm cả nhiều thợ bạn. Các nghị viện ở Hungary, Croatia và Ý áp đặt những yêu cầu khắt khe về tài sản, tước đi quyền bỏ phiếu của một nửa đến hai phần ba số dân; Nghị viện Hungary thậm chí còn yêu cầu cử tri phải nói được tiếng Hungary, qua đó tước quyền bầu cử của những người không phải dân tộc Hungary.[85]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Không nhận diện được ngày tháng. Năm phải gồm 4 chữ số (để 0 ở đầu nếu năm < 1000).
    "Battle at Soufflot barricades-1848" Location:Bản mẫu:Placename/adr48°50′48″B 2°20′37″Đ / 48,846792°B 2,343473°Đ / 48.846792; 2.343473 (ngày 24 tháng 6 năm 1848: Battle at Soufflot barricades-1848) (linkback:https://wikibeta.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_1848)
  2. ^ Mike Rapport (2009). 1848: Year of Revolution. Basic Books. tr. 201. ISBN 978-0-465-01436-1. The first deaths came at noon on 23 June.
  3. ^ Merriman, John, A History of Modern Europe: From the French Revolution to the Present, 1996, p. 715
  4. ^ R.J.W. Evans and Hartmut Pogge von Strandmann, eds., The Revolutions in Europe 1848–1849 (2000) pp. v, 4
  5. ^ Robert Bideleux and Ian Jeffries, A History of Eastern Europe: Crisis and Change, Routledge, 1998. ISBN 0415161118. pp. 295–96.
  6. ^ "Demands of the Communist Party in Germany," Marx-Engels Collected Works, vol 7, pp. 3ff (Progress Publishers: 1975–2005)
  7. ^ Clark 2023, tr. 81.
  8. ^ Sperber 2005, tr. 40.
  9. ^ Sperber 2005, tr. 40–41.
  10. ^ Clark 2023, tr. 43.
  11. ^ a b Sperber 2005, tr. 41.
  12. ^ Clark 2023, tr. 40.
  13. ^ Sperber 1991, tr. 75.
  14. ^ Clark 2023, tr. 41.
  15. ^ Blum 1978, tr. 332.
  16. ^ a b Blum 1978, tr. 340.
  17. ^
  18. ^ Sperber 2005, tr. 24–25.
  19. ^ Clark 2023, tr. 44–48.
  20. ^ Stearns 1974, tr. 21–22.
  21. ^ Stearns 1974, tr. 17.
  22. ^
  23. ^ Gouldner 1983, tr. 523.
  24. ^
  25. ^ Clark 2023, tr. 38.
  26. ^
  27. ^
  28. ^ O'Boyle 1970, tr. 471–72.
  29. ^ O'Boyle 1970, tr. 472.
  30. ^ a b O'Boyle 1966, tr. 833–34.
  31. ^ Gouldner 1983, tr. 526.
  32. ^ O'Boyle 1961, tr. 377.
  33. ^ Stearns 1974, tr. 37–39.
  34. ^
  35. ^ "Eyes Open!!!". German History in Documents and Images. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2025.
  36. ^ Clark 2023, tr. 109–110.
  37. ^ Broers 1996, tr. 36.
  38. ^
  39. ^ Sperber 2005, tr. 67.
  40. ^ Sperber 2005, tr. 71.
  41. ^
  42. ^ Broers 1996, tr. 48–50.
  43. ^
    .
  44. ^ Clark 2023, tr. 117.
  45. ^ Sperber 2005, tr. 81.
  46. ^ Clark 2023, tr. 114.
  47. ^
  48. ^ Sperber 2005, tr. 82–83.
  49. ^
  50. ^ Sperber 2005, tr. 89.
  51. ^ Sperber 2005, tr. 90.
  52. ^ Stanley Z. Pech, The Czech Revolution of 1848 (1969), p. 25, Wolfram Siemann, The German Revolution of 1848–1849 (London, 1998), p. 47
  53. ^ a b Sperber 2005, tr. 59.
  54. ^ Stearns 1974, tr. 36–37.
  55. ^ Broers 1996, tr. 47–49.
  56. ^ a b Sperber 2005, tr. 60–61.
  57. ^ Sperber 2005, tr. 63–64.
  58. ^
  59. ^ Sperber 2005, tr. 39.
  60. ^ Sperber 2005, tr. 151.
  61. ^
  62. ^ Clark 2023, tr. 90.
  63. ^ Clark 2023, tr. 54–55.
  64. ^ Sperber 2005, tr. 39, 203.
  65. ^ Clark 2023, tr. 45.
  66. ^ Clark 2023, tr. 44–47.
  67. ^ Sperber 2005, tr. 110.
  68. ^
  69. ^ Clark 2023, tr. 47.
  70. ^ Berger & Spoerer 2001, tr. 315.
  71. ^ Berger & Spoerer 2001, tr. 312.
  72. ^
  73. ^ Weyland 2009, tr. 411–14.
  74. ^ Traugott 2010, tr. 130–31.
  75. ^ Traugott 2010, tr. 138.
  76. ^ Weyland 2009, tr. 395.
  77. ^ Ellis 2002, tr. 28.
  78. ^ Traugott 2010, tr. 144.
  79. ^ Sperber 2005, tr. 121.
  80. ^ Siemann 1998, tr. 61–62.
  81. ^ Deák 1979, tr. 68–78.
  82. ^
  83. ^ Siemann 1998, tr. 64–67.
  84. ^ Sperber 2005, tr. 150.
  85. ^
  86. ^
  87. ^ Sperber 2005, tr. 160–67.
  88. ^ Sperber 2005, tr. 177–78.
  89. ^ Stadelmann 1975, tr. 48.
  90. ^ Stadelmann 1975, tr. 75.
  91. ^ Sperber 2005, tr. 123.
  92. ^ Sperber 2005, tr. 124–33.
  93. ^
  94. ^ Siemann 1998, tr. 143–45.
  95. ^ Clark 2023, tr. 539–40.
  96. ^ Clark 2023, tr. 543–44.
  97. ^ Kor̆alka 2008, tr. 148.
  98. ^ Sperber 2005, tr. 140–47.
  99. ^ Ellis 2002, tr. 36–38.
  100. ^ Fortescue 2005, tr. 104–105.
  101. ^ Fortescue 2005, tr. 110–14.
  102. ^ Judson 2016, tr. 215.
  103. ^ Sperber 2005, tr. 218.
  104. ^ Clark 2023, tr. 592–95.
  105. ^ Mack Smith 2002, tr. 65–74.
  106. ^ Deák 1979, tr. 155–57.
  107. ^ Clark 2023, tr. 606–16.
  108. ^ Siemann 1998, tr. 149–52.
  109. ^ Siemann 1998, tr. 156–57.
  110. ^ Sperber 2005, tr. 230–31.
  111. ^ Sperber 2005, tr. 233.
  112. ^ Siemann 1998, tr. 164–170.
  113. ^ Evans 2002, tr. 195.
  114. ^ Fortescue 2005, tr. 132–134.
  115. ^ Sperber 2005, tr. 203.
  116. ^ Sperber 2005, tr. 237.
  117. ^ Sperber 2005, tr. 238–39.
  118. ^ Sperber 2005, tr. 243.
  119. ^
  120. ^ Deák 1979, tr. 260–64.
  121. ^ Deák 1979, tr. 270–73, map 5.
  122. ^ Deák 1979, tr. 289.
  123. ^
  124. ^ Sperber 2005, tr. 244.
  125. ^ Siemann 1998, tr. 197–99.
  126. ^ Langewiesche 2008a, tr. 130.
  127. ^
  128. ^ Deák 1979, tr. 318–28.
  129. ^ Breunig, Charles (1977), The Age of Revolution and Reaction, 1789–1850 (ISBN 0-393-09143-0)
  130. ^ Evans & Pogge von Strandmann 2000, tr. 207–235.
  131. ^ History Today (1960). p. 668. "... the rising tide of revolutionary bourgeois liberalism in Austrian political life, as demonstrated by students' activities, the March riots of 1848, the rising in Hungary, the open revolt in Vienna itself in October 1848, and the course of the revolution."
  132. ^ Clark, T. J. (1982). The Absolute Bourgeois: Artists and Politics in France 1848–51 (paperback ed.). Princeton, New Jersey: Princeton University Press. ISBN 9780691003382.
  133. ^ Csizmadia, Andor (1983). "Hungarian Customary Law Before the Bourgeois Rebellion of 1848". The Journal of Legal History. 4 (2): 3–37. doi:10.1080/01440368308530781.
  134. ^ Columbia Encyclopedia (2020). "The discrepancy of aims between bourgeois revolutionaries such as Alphonse de Lamartine and A. T. Marie and the radicals, led by Louis Blanc, contributed to the eventual failure of the revolution."
  135. ^ Green, Abigail, Fatherlands: State-Building and Nationhood in Nineteenth-Century Germany (Cambridge, 2001), p. 75
  136. ^ Barclay, David, Friedrich Wilhelm IV and the Prussian Monarchy 1840–1861 (Oxford, 1995), pp. 190, 231
  137. ^ Deak, John. Forging a Multinational State: State Making in Imperial Austria from the Enlightenment to the First World War (Stanford, 2015), p. 105
  138. ^ Westwood, J. N. Endurance and Endeavour: Russian History, 1812–1980. Oxford (2002), p. 32
  139. ^ Goldfrank, David M. The Origins of the Crimean War. London: Longman, (1994), p. 21
  140. ^ Price, Roger. The French Second Empire: An Anatomy of Political Power (Cambridge, 2001), p. 327.
  141. ^ Clark 2023, tr. 184.
  142. ^ Brophy, James M. Capitalism, Politics and Railroads in Prussia 1830–1870 (Columbus, 1998), p. 1
  143. ^ Ferguson, Niall (2000). "The European economy, 1815–1914". Trong Blanning, T. C. W. (biên tập). The Nineteenth Century: Europe 1789-1914. Oxford University Press. tr. 121–22. ISBN 9780198731351.
  144. ^ Mack Smith, Denis (1985). Cavour: A Biography. Knopf. tr. 91. ISBN 9780394538853.
  145. ^ Robertson, Priscilla (1952). Revolutions of 1848: A Social History. Princeton University Press. tr. 412. ISBN 9780691007564.
  146. ^ Rapport 2009, tr. 359.
  147. ^ Gildea 2002, tr. 216.
  148. ^ Xem thêm
    • Beer, Max (tháng 7 năm 1923). "Selection from the Literary Remains of Karl Marx". Labour Monthly (III: England and Revolution): 30–36. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2021 – qua Marxists Internet Archive.
    • Marx, Karl (tháng 8 năm 2018). The Class Struggle in France, 1848–1850 (PDF). Kuhn, Henry biên dịch. Socialist Labor Party of America. tr. 13. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2021. And if then, as shown in the third article of Marx, in the spring of 1850 developments had concentrated the real ruling power in the bourgeois republic that had emanated from the 'social' revolution of 1848 in the hands of the big bourgeoisie ... .
  149. ^ Kamenka, Eugene; Smith, Francis Barrymore, biên tập (1980). Intellectuals and Revolution: Socialism and the Experience of 1848 (ấn bản thứ 1). New York: St. Martin's Press. tr. 131. ISBN 9780312418939.
  150. ^ "Progress and Its Limits: The Revolution of 1848 and European Jewry". Reinhard Rürup in Dowe, Dieter ed., Europe in 1848: Revolution and Reform (Oxford, 2001), pp. 758, 761
  151. ^ Forty-Eighters từ Handbook of Texas trực tuyến
  152. ^ Wittke, Carl (1952), Refugees of Revolution, Philadelphia: University of Pennsylvania Press
  153. ^ Brust, Steven; Bull, Emma (1997). Freedom and Necessity. New York: Tor Books. ISBN 9780812562613. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2017.
  154. ^ Osym, Yulia. "Coffee Melody in Cardamom Tone: A new show set in Lviv tells about the 'forbidden' love story". travel.tvoemisto.tv. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2026.

Thư mục

Sách

Chương sách

Tạp chí

Nguồn web

Đọc thêm

Khảo sát

Pháp

Đức và Áo

Ý

Khác

  • Kilich-Cafer Güler, Selda; Sezer Feyzioğlu, Hamiyet (2009). "Revolutions of 1848 and the Ottoman Empire". Bulgarian Historical Review. 37 (3–4): 196–205.

Sử học

Liên kết ngoài