Thân vương quốc Montenegro (tiếng Serbia: Књажевина Црнa Горa/Knjaževina Crna Gora) là một vương quốc cũ ở Đông Nam Châu Âu đã tồn tại từ ngày 13 tháng 3 năm 1852 đến ngày 28 tháng 8 năm 1910. Sau đó nó được công nhận là một vương quốc của Nikola I, người sau đó trở thành vua.

Thân vương quốc Montenegro
Tên bản ngữ
  • Књажевина Црнa Горa
    Knjaževina Crna Gora
1852–1910

Thân vương quốc Montenegro vào năm 1890.
Tổng quan
Thủ đôCetinje
Ngôn ngữ thông dụngtiếng Serbia
Tôn giáo
Kitô giáo Đông phương
Chính trị
Chính phủThân vương quốc
Hoàng tử 
• 1852–1860
Danilo I
• 1860–1910
Nikola I
Thủ tướng 
• 1879–1905
Božo Petrović-Njegoš
• 1905–1906
Lazar Mijušković
• 1906–1907
Marko Radulović
• 1907
Andrija Radović
• 1907–1910
Lazar Tomanović
Lập phápQuốc hội
Lịch sử
Lịch sử 
13 tháng 3 1852
1 tháng 5 năm 1858
18 tháng 7 năm 1876
13 tháng 7 năm 1878
1905
28 tháng 8 1910
Địa lý
Diện tích 
• 1852
5.475 km2
(2.114 mi2)
• 1878
9.475 km2
(3.658 mi2)
Dân số 
• 1909
317,856
Kinh tế
Đơn vị tiền tệKrone Áo-Hung, Perper Montenegro
Mã ISO 3166ME
Tiền thân
Kế tục
Tập tin:Flag of the Prince-Bishopric of Montenegro2.svg Hoàng tử-Giám mục Montenegro
Vương quốc Montenegro Tập tin:Flag of the Kingdom of Montenegro.svg
Hiện nay là một phần của Montenegro

Thủ đô là Cetinje và Montenegro perper đã được sử dụng như tiền tệ nhà nước từ năm 1906. Lãnh thổ tương ứng với khu vực trung tâm của Montenegro hiện đại. Đó là chế độ quân chủ lập hiến, nhưng thực tếchuyên chế.

Tên gọi

Trong Bộ luật Danilo I năm 1855, ông khẳng định rõ vị thế của mình là "knjaz và gospodar của Crna GoraBrda" (tiếng Serbia: књаз и господар Црне Горе и Брда / knjaz i gospodar Crne Gore i Brda; nghĩa là "Thân vương và Lãnh chúa của Montenegro và Brda", hoặc "Công tước và Lãnh chúa của Montenegro và Brda").[1] Đến năm 1870, Nikola mang tước hiệu "knjaz của Crna Gora và Brda" (књаз Црне Горе и Брда / knjaz Crne Gore i Brda; "Thân vương của Montenegro và Brda", hoặc "Công tước của Montenegro và Brda"); trong khi đó, hai năm sau, quốc hiệu được gọi là "Knjaževina Crna Gora" (Књажевина Црна Гора; tức "Công quốc Montenegro").[2]

Lịch sử

Tập tin:Danilo Petrović Njegoš.jpg
Giám mục vương quyền Danilo I

Thời kỳ trị vì của Danilo

Công quốc được thành lập vào ngày 13 tháng 3 năm 1852 khi Danilo I Petrović-Njegoš (trước đó được gọi là Vladika Danilo II) quyết định từ bỏ cương vị Thân vương - Giám mục và kết hôn. Hiến pháp đầu tiên của Montenegro được công bố vào năm 1855, được biết đến với tên gọi "Bộ luật Danilo". Sau nhiều thế kỷ dưới chế độ thần quyền, sự kiện này đã chuyển đổi Montenegro thành một công quốc thế tục.

Đại Công tước Mirko Petrović, anh trai của Danilo I, đã lãnh đạo một đội quân tinh nhuệ gồm 7.500 người và giành chiến thắng quyết định trước quân Thổ Nhĩ Kỳ (với lực lượng từ 7.000 đến 13.000 quân) tại Grahovac vào ngày 13 tháng 5 năm 1858. Lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ đã bị đánh tan tác. Chiến thắng này buộc các Cường quốc phải chính thức phân định biên giới giữa Montenegro và Thổ Nhĩ Kỳ, qua đó công nhận trên thực tế nền độc lập kéo dài nhiều thế kỷ của Montenegro. Montenegro đã giành được quyền kiểm soát Grahovo, Rudine, Nikšić, hơn một nửa vùng Drobnjaci, Tušina, Uskoci, Lipovo, Thượng Vasojevići, cùng một phần các vùng bộ lạc Kuči và Dodoši.

Thời kỳ trị vì của Nikola

Sau vụ ám sát Danilo I vào ngày 13 tháng 8 năm 1860, Nikola I, cháu trai của Danilo, trở thành người cai trị tiếp theo của Montenegro. Nikola đã gửi viện trợ cho quân nổi dậy người Serb trong Cuộc khởi nghĩa Herzegovina (1875–1878), và sau đó lãnh đạo một cuộc chiến chống lại người Ottoman, tức Chiến tranh Montenegro–Ottoman (1876–1878). Sự tiến công của quân đội Nga về phía Thổ Nhĩ Kỳ buộc Constantinople phải ký hiệp ước hòa bình vào ngày 3 tháng 3 năm 1878, công nhận nền độc lập của Montenegro, cũng như của RomaniaSerbia, đồng thời mở rộng lãnh thổ Montenegro từ 4.405 km² lên 9.475 km². Montenegro cũng thu nhận các thị trấn Nikšić, Kolašin, Spuž, Podgorica, Žabljak, Bar, cũng như quyền tiếp cận biển. Đây là sự phân định chính thức của các Cường quốc giữa Montenegro và Đế quốc Ottoman, công nhận trên thực tế nền độc lập của Montenegro; Montenegro sau đó được Đế quốc Ottoman công nhận chính thức tại Hiệp ước Berlin (1878).

Dưới thời Nikola I, quan hệ ngoại giao đã được thiết lập với Đế quốc Ottoman. Ngoại trừ các cuộc giao tranh biên giới nhỏ, hoạt động ngoại giao đã mang lại khoảng 30 năm hòa bình giữa hai nước cho đến khi Abdul Hamid II bị phế truất.[3]

Kỹ năng chính trị của Abdul Hamid và Nikola I đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ hữu nghị song phương này. Quá trình hiện đại hóa nhà nước diễn ra sau đó, mà đỉnh cao là việc soạn thảo Hiến pháp năm 1905. Tuy nhiên, những rạn nứt chính trị đã xuất hiện giữa Đảng Nhân dân (phái nghị viện) - vốn ủng hộ quá trình dân chủ hóa và liên minh với Serbia, với những người thuộc Đảng Nhân dân Chân chính - phái chủ trương độc lập và trung thành với Thân vương Nikola cùng vương triều Petrović-Njegoš.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Stvaranje, 7–12. Obod. 1984. tr. 1422. Црне Горе и Брда историјска стварност коЈа се не може занема- рити, што се види из назива Законика Данила I, донесеног 1855. године који гласи: "ЗАКОНИК ДАНИЛА I КЊАЗА И ГОСПОДАРА СЛОБОДНЕ ЦРНЕ ГОРЕ И БРДА".
  2. ^ Čedomir Popov (2000). Istorija srpske državnosti: Srbija i Crna Gora : novovekovne srpske države. Srpska akademija nauka i umetnosti. tr. 254.
  3. ^ Uğur Özcan, II. Abdülhamid Dönemi Osmanlı-Karadağ Siyasi İlişkileri(Political relations between the Ottoman Empire and Montenegro in the Abdul Hamid II era)Türk Tarih Kurumu, Ankara 2013. ISBN 9789751625274