Bước tới nội dung

Pháo dã chiến cấp sư đoàn 85 mm D-44

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ D-44)
Pháo cấp sư đoàn 85 mm D-44
Tập tin:D-44-beyt-hatotchan-1.jpg
Pháo cấp sư đoàn 85 mm D-44.
LoạiPháo dã chiến
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1946–nay
TrậnChiến tranh Việt Nam[1]
Nội chiến Campuchia
Nội chiến Liban
Nội chiến Ethiopia
Chiến tranh Iran–Iraq
Chiến tranh Nagorno-Karabakh thứ nhất
Chiến tranh Donbas
Chiến tranh Nagorno-Karabakh thứ hai
Nga xâm lược Ukraine
Lược sử chế tạo
Năm thiết kế1943–1944
Nhà sản xuấtUralmash
Giai đoạn sản xuất1946–1954
Số lượng chế tạo10.918 khẩu
Các biến thểD-44N
SD-44 (pháo tự hành)
Type 56 (Trung Quốc)
Thông số
Khối lượngD-44: 1.725 kg
(3.803 lbs)
SD-44: 2.250 kg
(4.960 lbs)
Chiều dài8,34 mét (27 ft 4 in)
Độ dài nòng4,7 m (15 ft 5 in) 55 lần cỡ nòng[2]
Chiều rộng1,78 mét (5 ft 10 in)
Chiều cao1,2 mét (3 ft 11 in)
Kíp chiến đấu8 pháo thủ

Đạn pháoĐạn cố định 85×629 mm R[2]
(R/112mm)
Cỡ đạn85 mm (3,34 in)
Khóa nòngKhối trượt đứng bán tự động[2]
Độ giậtThủy - khí[2]
Bệ pháoCàng xòe
Góc nâng−7° đến 35°
Xoay ngang54°
Tốc độ bắnlên tới 20 phát/phút (bắn cấp tập)
Sơ tốc đầu nòng1.030 m/s (3.379 ft/s)
Tầm bắn hiệu quả1.150 m (1.257 yds) (HVAP-T)
Tầm bắn xa nhất15,65 km (9,72 mi)
Ngắm bắnOP-2-7 (độ phóng đại 5,5x)

Pháo cấp sư đoàn 85 mm D-44 (tiếng Nga: 85-мм дивизионная пушка Д-44) là một loại pháo dã chiến cỡ nòng 85 mm cấp sư đoàn của Liên Xô, được sử dụng trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó được thiết kế nhằm thay thế cho khẩu pháo dã chiến cấp sư đoàn 76 mm M1942 (ZiS-3). Loại pháo này vốn đã không còn nằm trong biên chế tiền phương của Lục quân Nga, cho đến khi được đưa trở lại phục vụ trong cuộc Chiến tranh Nga-Ukraina vào năm 2023.[3] Trong lịch sử, loại pháo này từng được các lực lượng cộng sản sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam[4] và bởi các lực lượng Ả Rập trong các cuộc xung đột với Israel.

Tổng quan

Việc thiết kế D-44 được bắt đầu vào năm 1943 tại cục thiết kế của nhà máy số 9 "Uralmash" và bắt đầu sản xuất từ năm 1944. Chỉ số GRAU của nó là 52-P-367.[5] SD-44 là một biến thể từ những năm 1950 được trang bị thêm bộ phận tự hành phụ trợ và hòm đạn 10 viên; có 697 khẩu loại này đã được trang bị cho lực lượng đổ bộ đường không (VDV) từ năm 1954.[a] D-44N là biến thể từ những năm 1960 với thiết bị chiếu sáng hồng ngoại APN 3-7 hỗ trợ chiến đấu đêm. Trung Quốc đã tiếp nhận các khẩu D-44 trong Chiến tranh Triều Tiên và bắt đầu sản xuất một bản sao với tên gọi Kiểu 56 (Type 56) vào đầu những năm 1960.[b] Cuối cùng, Quân đội Ba Lan đã trang bị thêm các hệ thống phụ trợ điện tử cho một số khẩu D-44 của họ vào đầu những năm 1980 và đặt ký hiệu là D-44MD-44MN.[8]

Nòng pháo được phát triển dựa trên nòng của xe tăng T-34-85, có khả năng bắn từ 20–25 phát/phút với các loại đạn nổ mạnh (HE), xuyên giáp (AP) và xuyên lõm chống tăng (HEAT). Đạn xuyên giáp dưới cỡ sơ tốc cao có vạch đường BR-365P (HVAP-T) có khả năng xuyên thủng 100 mm giáp thép ở khoảng cách 1.000 mét với góc chạm vuông góc (90 độ), trong khi đạn BR-367P HVAP-T có thể xuyên tới 180 mm giáp trong cùng điều kiện.[8] Loại đạn nổ mạnh O-365K thời hậu chiến nặng 9,5 kg với liều nổ nạp 741 gram TNT, còn đạn xuyên lõm chống tăng ổn định bằng cánh đuôi (HEAT-FS) BK-2M có thể xuyên tới 300 mm giáp. Đạn xuyên lõm của Kiểu 56 (Trung Quốc) có tầm bắn tối đa 970 mét và xuyên được 100 mm giáp ở góc chạm 65 độ.[9]

Pháo sử dụng lốp xe của dòng GAZ-AA, thường được kéo bằng xe tải 2,5 tấn[10] hoặc xe kéo xích Ya-12 với tốc độ trung bình 20–25 km/h trên đường rải nhựa và 11 km/h trên địa hình dã chiến; tốc độ kéo tối đa trên đường nhựa có thể lên tới 55 km/h.[11] Động cơ phụ trợ M-72 công suất 14 mã lực của biến thể SD-44 có thể giúp pháo tự di chuyển trên đường với tốc độ lên đến 25 km/h.[12]

Pháo sử dụng kính ngắm OP-2-7 với độ phóng đại 5,5x cho tác chiến ban ngày, cho phép bắt mục tiêu ở khoảng cách 1.500 mét.[13]

Đặc tính của D-44 và các loại vũ khí tương đương
Đạn nổ và tầm bắn
Vũ khí Trọng lượng đạn (Liều nổ), kg Tầm bắn tối đa, mét
85 mm D-44 (bắn đạn O-365K) 9,5 (0,74) 15.650
25 Pounder Mk II (bắn đạn HE Mk. I D) 11,33 (0,82) 12.253
8.8 cm FlaK 18 (bắn đạn SprGr L4.5) 9,4 (0,87) 14.815
90 mm M3 (bắn đạn M71) 10,64 (0,93) 17.337
Dữ liệu trích dẫn từ Jane's (1982), The American Arsenal, German Artillery of World War Two, và tarrif.net.

Sản xuất

D-44 được sản xuất từ năm 1945 cho đến năm 1953. Trong giai đoạn 1948–1950, sản lượng đạt mức hơn 2.000 khẩu mỗi năm.[8] D-44 cũng phục vụ như một nền tảng cơ sở để phát triển pháo chống tăng 85 mm D-48; ngoài ra, khung bệ của D-44 cũng được tận dụng để chế tạo hệ thống pháo phản lực RPU-14.[cần dẫn nguồn]

Sử dụng tại các quốc gia khác

Tập tin:Type 56 85 mm gun MW side.JPG
Kiểu 56, một biến thể D-44 của quân đội Trung Quốc
Tập tin:16 18 057 D44.jpg
Một khẩu D-44 được trưng bày tại Công viên Bang Cựu chiến binh Georgia

Đến những năm 1950, D-44 đã được xuất khẩu sang các quốc gia thuộc Khối Warszawa,[14] trong đó khẩu pháo này duy trì biên chế trong Quân đội Nhân dân Quốc gia (NVA) của Đông Đức cho đến khi Cộng hòa Dân chủ Đức sụp đổ. Ngoài Đông Đức, các quốc gia khác đã hoặc đang sử dụng loại pháo này bao gồm: Albania, Algeria, Armenia, Azerbaijan, Bulgaria, Campuchia, Trung Quốc (Kiểu 56), Cuba, Ai Cập, Georgia, Guinea, Guinea-Bissau, Hungary, Iran, Iraq, Triều Tiên, Lào, Mali, Maroc, Mozambique, Ba Lan, Romania, Somalia, Sri Lanka, Sudan, Syria, Việt Nam[15] và Zambia.[16]

Lịch sử hoạt động

Nga đã triển khai các khẩu D-44 trong cuộc chiến tại Ukraine. Theo các đoạn phim được đăng tải trực tuyến, một khẩu pháo đã bị máy bay không người lái của Ukraine tiêu diệt vào ngày 27 tháng 9 năm 2023. Các cảnh quay trước đó cũng cho thấy phía Ukraine đã lắp đặt một khẩu D-44 lên xe máy kéo để làm pháo tự hành diệt tăng trong các cuộc giao tranh gần Kreminna.[17][18]

Các quốc gia vận hành hiện tại

Các quốc gia vận hành trước đây

Ghi chú

  1. ^ Sáu khẩu SD-44 được trang bị cho mỗi đại đội chống tăng trong mỗi trung đoàn đổ bộ đường không, tổng cộng có 18 khẩu trong một sư đoàn đổ bộ đường không.[6]
  2. ^ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc biên chế 12 khẩu Kiểu 56 cho mỗi trung đoàn pháo binh.[7]

Chú thích

  1. ^ a b "Đáng gờm khẩu pháo bắn 20 phát/phút bảo vệ đảo Việt Nam". danviet.vn. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
  2. ^ a b c d Foss, Christopher (1977). Jane's Pocket Book of Towed Artillery. New York: Collier. tr. 45. ISBN 0020806000. OCLC 911907988.
  3. ^ a b "Ukraine Update: Data shows Ukraine is laying down the heaviest firestorm of artillery in the war". Daily Kos (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
  4. ^ Off, David E. (1977). "Part VI Vietnamization" (PDF). Field Artillery Magazine: 42–47. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2011.
  5. ^ "Pushki". www.russianarms.ru (bằng tiếng Nga).
  6. ^ Jane's Armour and Artillery. 1982. tr. 525.
  7. ^ Brassey's Artillery of the World. 1991. tr. 124.
  8. ^ a b c Jane's Armour and Artillery 2008-2009. tr. 899.
  9. ^ Brassey's Artillery of the World. 1991. tr. 124..
  10. ^ Cả xe ZIL-157 và URAL-375D đều được sử dụng làm xe kéo. Xem tài liệu của Jane's và Kopenhagen.
  11. ^ "D-44". easyget.narod.ru (bằng tiếng Nga).
  12. ^ TRADOC Worldwide Equipment Guide. tr. 5–4.
  13. ^ TRADOC Worldwide Equipment Guide. tr. 5–4.
  14. ^ Ví dụ, lực lượng Đông Đức lần đầu tiên trưng bày công khai các khẩu SD-44 vào năm 1958. Kopenhagen, Wilfried (2003). Die Landstreitkräfte der NVA. tr. 48..
  15. ^ Jane's Armour and Artillery. 1982. tr. 526..
  16. ^ "Zambia: Golden Jubilee celebrations in pictures - Part 2 of 5". Lusaka Times. ngày 27 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
  17. ^ "Russian World War 2-era D-44 howitzer destroyed by Ukrainian drone". Army Recognition. ngày 28 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
  18. ^ Axe, David (ngày 5 tháng 8 năm 2023). "Ukraine's Latest Tank-Destroyer Is A 79-Year-Old Gun Bolted To A 50-Year-Old Tractor". Forbes. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
  19. ^ a b c d e f g h i j k l m n International Institute for Strategic Studies (2017). The Military Balance 2017. Routledge. ISBN 978-1857439007.
  20. ^ Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost (ngày 1 tháng 9 năm 2021). "The Tigray Defence Forces – Documenting Its Heavy Weaponry". Oryx Blog. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
  21. ^ @tom_nachtrab (ngày 18 tháng 10 năm 2022). "On 22nd September, Mali celebrated its National Independence Day..." (Tweet). Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026 – qua Twitter.
  22. ^ Axe, David (ngày 27 tháng 10 năm 2022). "Ukraine Is Collecting A Lot Of Russia's Old T-62 Tanks". Forbes. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
  23. ^ Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost (ngày 20 tháng 9 năm 2015). "The Oryx Handbook of Pre-war Yemeni Fighting Vehicles". Oryx. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
  24. ^ International Institute for Strategic Studies (2019). The Military Balance 2019. Routledge. ISBN 9781857439885.
  25. ^ "Vehicles and equipment captured and operated by the Islamic State inside Syria". Oryx Blog. ngày 31 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
  26. ^ "85 mm wz. 1944 D-44, D-48, armata dywizyjna, przeciwpancerna". www.2wojna.pl (bằng tiếng Ba Lan). Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
  27. ^ Stroea, Adrian; Bajenaru, Gheorghe (2010). Artileria romana in date si imagini (bằng tiếng Romania). Editura Centrului Tehnic-Editorial al Armatei. tr. 130. ISBN 978-606-524-080-3.
  28. ^ "4th Field Regiment Sri Lanka Artillery". army.lk. Sri Lanka Army. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.

Tham khảo

  • Brassey's Encyclopedia of Land Forces and Warfare, Brassey's Inc., Washington D.C., 2000, ISBN 1-57488-087-X.
  • Die Landstreitkräfte der NVA, Wilfried Kopenhagen, Motorbuch Verlag, Stuttart, 2003, ISBN 3-613-02297-4.
  • German Artillery of World War Two, Ian V. Hogg, Greenhill Books, London, 2002. ISBN 1-85367-480-X.
  • Foss, Christopher F. (ed.) Jane's Armour and Artillery 1981-1982, Jane's Publishing Company Ltd, London & New York, 1982. ISBN 978-0-531-03976-2
  • Foss, Christopher F. (ed.) Jane's Armour and Artillery 2007-2008, Jane's Publishing Company Ltd, Coulsdon, 2007. ISBN 978-0-7106-2794-0
  • Shunkov V. N. The Weapons of the Red Army, Mn. Harvest, 1999 (Шунков В. Н. - Оружие Красной Армии. — Мн.: Харвест, 1999.) ISBN 985-433-469-4.
  • The American Arsenal, Ian V. Hogg (introduction), Greenhill Books, London, 2001. ISBN 1-85367-470-2.
  • TRADOC Worldwide Equipment Guide

Liên kết ngoài