Football League First Division 1990–91

Mùa giải Football League First Division 1990–91 là mùa giải thứ 92 của hạng đấu cao nhất bóng đá Anh.

Football League First Division
Mùa giải1990–91
Vô địchArsenal
danh hiệu Anh thứ 10
Xuống hạngSunderland
Derby County
European CupArsenal
European Cup Winners' CupManchester United
Cúp UEFALiverpool[1]
Số trận đấu380
Số bàn thắng1.049 (2,76 bàn mỗi trận)
Vua phá lướiAlan Smith
(22 bàn)[2]
Chiến thắng sân
nhà đậm nhất
Nottingham Forest 7–0 Chelsea
(20 tháng 4 năm 1991)
Chiến thắng sân
khách đậm nhất
Derby County 1–7 Liverpool
(23 tháng 3 năm 1991)
Trận có nhiều bàn thắng nhấtDerby County 4–6 Chelsea
(15 tháng 12 năm 1990)
Chuỗi thắng dài nhất8 trận
Liverpool
Chuỗi bất bại dài nhất23 trận
Arsenal
Chuỗi thua dài nhất8 trận
Queens Park Rangers

Tổng quan

Các câu lạc bộ bóng đá First Division tại Đại Luân Đôn

Arsenal giành danh hiệu vô địch quốc gia thứ hai trong ba mùa giải, dù mùa giải này nhiều thời điểm tưởng như những điểm tiêu cực sẽ lấn át các điểm tích cực. Một vụ ẩu đả giữa cầu thủ trong trận đấu tại giải gặp Manchester United vào tháng 10 khiến Arsenal bị trừ hai điểm, và vài tuần sau, đội trưởng Tony Adams bị kết án bốn tháng tù vì lái xe khi say rượu; cuối cùng ông thụ án 8 tuần. Tuy nhiên, Arsenal vẫn duy trì phong độ rất tốt trong suốt mùa giải và đăng quang vô địch quốc gia khi chỉ thua một trận tại giải trong cả mùa.

Ngày 6 tháng 5 năm 1991, Arsenal chính thức vô địch sau khi đánh bại Manchester United 3–1, trong khi đối thủ cạnh tranh danh hiệu Liverpool, đội kết thúc ở vị trí thứ hai, thua 1–2 trước Nottingham Forest. Liverpool dẫn đầu bảng xếp hạng trong phần lớn nửa đầu mùa giải nhưng bị choáng váng vào tháng 2 bởi quyết định từ chức đột ngột của huấn luyện viên Kenny Dalglish. Huấn luyện viên Rangers Graeme Souness được đưa về làm người kế nhiệm nhưng không thể mang một danh hiệu lớn nào về Anfield. Vị trí thứ ba tại giải thuộc về Crystal Palace, đội đạt thứ hạng cao nhất trong lịch sử câu lạc bộ, nhưng bị từ chối suất tham dự UEFA Cup do Liverpool được trở lại đấu trường châu Âu sớm hơn một năm so với dự kiến.

Đội mới thăng hạng Leeds United có một mùa giải tốt khi trở lại First Division, kết thúc ở vị trí thứ tư nhưng chưa bao giờ thật sự cho thấy khả năng cạnh tranh chức vô địch. Tuy nhiên, họ vào đến bán kết League Cup, nơi họ thua Manchester United. Howard Kendall trở lại Everton trong nhiệm kì thứ hai với tư cách huấn luyện viên vào tháng 11, trong khi người kế nhiệm ông tại Manchester City, Peter Reid, có khởi đầu thuận lợi trong nghiệp huấn luyện khi dẫn dắt đội bóng ở Maine Road về thứ năm tại giải – vị trí chung cuộc cao nhất của họ trong hơn một thập kỉ. Wimbledon tiếp tục vượt qua mọi dự đoán và kết thúc trên các đội có nguồn lực lớn hơn với vị trí thứ bảy trên bảng xếp hạng cuối cùng.

Phong độ tại giải của Manchester United quá thất thường để họ có thể cạnh tranh chức vô địch, nhưng họ cải thiện bảy bậc so với vị trí chung cuộc mùa giải trước để kết thúc thứ sáu, đồng thời đánh dấu sự trở lại thắng lợi của các đội Anh tại đấu trường châu Âu bằng chức vô địch European Cup Winners' Cup.

Tottenham Hotspur khởi đầu mùa giải tốt, không thua tại giải cho đến tháng 11, nhưng nửa sau mùa giải sa sút khiến họ kết thúc ở vị trí thứ 10, dù họ giành Cúp FA lần thứ tám, một kỉ lục khi đó.

Ở cuối bảng, Derby County xếp cuối với chỉ năm chiến thắng trong cả mùa, bất chấp 17 bàn thắng tại giải của tiền đạo người Wales Dean Saunders, người sau đó được bán cho Liverpool. Việc xuống hạng của họ được xác nhận vào ngày 20 tháng 4 năm 1991, sau thất bại 1–2 trước Manchester City. Suất xuống hạng cuối cùng thuộc về Sunderland trong ngày cuối mùa, khi họ thua Manchester City 2–3, trong khi Luton Town trụ hạng nhờ đánh bại Derby County, đội đã xuống hạng, với tỉ số 2–0.

Sheffield United khởi đầu mùa giải thảm họa, chỉ có bốn điểm sau mười sáu trận đầu tiên, trước khi giành chiến thắng đầu tiên, 3–2 trên sân nhà trước Nottingham Forest ngay trước Giáng sinh. Chuỗi phong độ ấn tượng với 13 chiến thắng trong 22 trận cuối, gồm bảy trận thắng liên tiếp, giúp họ kết thúc an toàn ở vị trí thứ 13, cách xa khu vực xuống hạng.

Aston Villa, á quân mùa giải trước, mất huấn luyện viên Graham Taylor khi ông chấp nhận lời đề nghị của Football Association để dẫn dắt đội tuyển Anh. Villa chuyển sang huấn luyện viên người Tiệp Khắc Jozef Venglos, huấn luyện viên nước ngoài đầu tiên tại First Division, nhưng phong độ tại giải của họ sa sút và họ kết thúc ở vị trí thứ 17.

Khi mới 31 tuổi, cựu hậu vệ đội tuyển Anh Terry Butcher trở thành huấn luyện viên trẻ nhất tại Football League vào tháng 11 khi chấp nhận lời đề nghị của Coventry City để trở thành cầu thủ kiêm huấn luyện viên sau khi John Sillett bị sa thải.

Thay đổi huấn luyện viên

Đội bóng Huấn luyện viên rời đi Cách thức rời chức Ngày bỏ trống vị trí Vị trí trên bảng xếp hạng Huấn luyện viên đến Ngày bổ nhiệm
Wimbledon   Bobby Gould Từ chức 18 tháng 6 năm 1990 Trước mùa giải   Ray Harford 18 tháng 6 năm 1990
Aston Villa   Graham Taylor Được đội tuyển Anh kí hợp đồng 10 tháng 7 năm 1990   Jozef Vengloš 19 tháng 7 năm 1990
Everton   Colin Harvey Bị sa thải 30 tháng 10 năm 1990 Thứ 17   Howard Kendall 10 tháng 11 năm 1990
Manchester City   Howard Kendall Được Everton kí hợp đồng 10 tháng 11 năm 1990 Thứ 3   Peter Reid 10 tháng 11 năm 1990
Coventry City   John Sillett Bị sa thải 12 tháng 11 năm 1990 Thứ 18   Terry Butcher 15 tháng 11 năm 1990
Liverpool   Kenny Dalglish Từ chức 21 tháng 2 năm 1991 Thứ 1   Ronnie Moran 21 tháng 2 năm 1991
Liverpool   Ronnie Moran Kết thúc giai đoạn tạm quyền 15 tháng 4 năm 1991 Thứ 2   Graeme Souness 15 tháng 4 năm 1991
Southampton   Chris Nicholl Bị sa thải 1 tháng 5 năm 1991 Thứ 14   Ian Branfoot 3 tháng 6 năm 1991
Chelsea   Bobby Campbell Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 5 tháng 5 năm 1991 Thứ 11   Ian Porterfield 6 tháng 6 năm 1991

Bảng xếp hạng

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
hoặc xuống hạng
1 Arsenal (C) 38 24 13 1 74 18 +56 83[a] Giành quyền tham dự vòng Một European Cup
2 Liverpool 38 23 7 8 77 40 +37 76 Giành quyền tham dự vòng Một Cúp UEFA
3 Crystal Palace 38 20 9 9 50 41 +9 69
4 Leeds United 38 19 7 12 65 47 +18 64
5 Manchester City 38 17 11 10 64 53 +11 62
6 Manchester United 38 16 12 10 58 45 +13 59[a] Giành quyền tham dự vòng Một Cup Winners' Cup
7 Wimbledon 38 14 14 10 53 46 +7 56
8 Nottingham Forest 38 14 12 12 65 50 +15 54
9 Everton 38 13 12 13 50 46 +4 51
10 Tottenham Hotspur 38 11 16 11 51 50 +1 49 Giành quyền tham dự vòng loại Cup Winners' Cup
11 Chelsea 38 13 10 15 58 69 −11 49
12 Queens Park Rangers 38 12 10 16 44 53 −9 46
13 Sheffield United 38 13 7 18 36 55 −19 46
14 Southampton 38 12 9 17 58 69 −11 45
15 Norwich City 38 13 6 19 41 64 −23 45
16 Coventry City 38 11 11 16 42 49 −7 44
17 Aston Villa 38 9 14 15 46 58 −12 41
18 Luton Town 38 10 7 21 42 61 −19 37
19 Sunderland (R) 38 8 10 20 38 60 −22 34 Xuống hạng Second Division
20 Derby County (R) 38 5 9 24 37 75 −38 24
Nguồn: World Football
Quy tắc xếp hạng: 1) điểm; 2) hiệu số bàn thắng bại; 3) số bàn thắng ghi được
(C) Vô địch; (R) Xuống hạng
Ghi chú:
  1. ^ a b Arsenal bị trừ hai điểm; Manchester United bị trừ một điểm do một vụ ẩu đả trong trận đấu giữa hai đội.

Kết quả

Nhà \ Khách ARS AST CHE COV CRY DER EVE LEE LIV LUT MCI MUN NWC NOT QPR SHU SOU SUN TOT WDN
Arsenal 5–0 4–1 6–1 4–0 3–0 1–0 2–0 3–0 2–1 2–2 3–1 2–0 1–1 2–0 4–1 4–0 1–0 0–0 2–2
Aston Villa 0–0 2–2 2–1 2–0 3–2 2–2 0–0 0–0 1–2 1–5 1–1 2–1 1–1 2–2 2–1 1–1 3–0 3–2 1–2
Chelsea 2–1 1–0 2–1 2–1 2–1 1–2 1–2 4–2 3–3 1–1 3–2 1–1 0–0 2–0 2–2 0–2 3–2 3–2 0–0
Coventry City 0–2 2–1 1–0 3–1 3–0 3–1 1–1 0–1 2–1 3–1 2–2 2–0 2–2 3–1 0–0 1–2 0–0 2–0 0–0
Crystal Palace 0–0 0–0 2–1 2–1 2–1 0–0 1–1 1–0 1–0 1–3 3–0 1–3 2–2 0–0 1–0 2–1 2–1 1–0 4–3
Derby County 0–2 0–2 4–6 1–1 0–2 2–3 0–1 1–7 2–1 1–1 0–0 0–0 2–1 1–1 1–1 6–2 3–3 0–1 1–1
Everton 1–1 1–0 2–2 1–0 0–0 2–0 2–3 2–3 1–0 2–0 0–1 1–0 0–0 3–0 1–2 3–0 2–0 1–1 1–2
Leeds United 2–2 5–2 4–1 2–0 1–2 3–0 2–0 4–5 2–1 1–2 0–0 3–0 3–1 2–3 2–1 2–1 5–0 0–2 3–0
Liverpool 0–1 2–1 2–0 1–1 3–0 2–0 3–1 3–0 4–0 2–2 4–0 3–0 2–0 1–3 2–0 3–2 2–1 2–0 1–1
Luton Town 1–1 2–0 2–0 1–0 1–1 2–0 1–1 1–0 3–1 2–2 0–1 0–1 1–0 1–2 0–1 3–4 1–2 0–0 0–1
Manchester City 0–1 2–1 2–1 2–0 0–2 2–1 1–0 2–3 0–3 3–0 3–3 2–1 3–1 2–1 2–0 3–3 3–2 2–1 1–1
Manchester United 0–1 1–1 2–3 2–0 2–0 3–1 0–2 1–1 1–1 4–1 1–0 3–0 0–1 3–1 2–0 3–2 3–0 1–1 2–1
Norwich City 0–0 2–0 1–3 2–2 0–3 2–1 1–0 2–0 1–1 1–3 1–2 0–3 2–6 1–0 3–0 3–1 3–2 2–1 0–4
Nottingham Forest 0–2 2–2 7–0 3–0 0–1 1–0 3–1 4–3 2–1 2–2 1–3 1–1 5–0 1–1 2–0 3–1 2–0 1–2 2–1
Queens Park Rangers 1–3 2–1 1–0 1–0 1–2 1–1 1–1 2–0 1–1 6–1 1–0 1–1 1–3 1–2 1–2 2–1 3–2 0–0 0–1
Sheffield United 0–2 2–1 1–0 0–1 0–1 1–0 0–0 0–2 1–3 2–1 1–1 2–1 2–1 3–2 1–0 4–1 0–2 2–2 1–2
Southampton 1–1 1–1 3–3 2–1 2–3 0–1 3–4 2–0 1–0 1–2 2–1 1–1 1–0 1–1 3–1 2–0 3–1 3–0 1–1
Sunderland 0–0 1–3 1–0 0–0 2–1 1–2 2–2 0–1 0–1 2–0 1–1 2–1 1–2 1–0 0–1 0–1 1–0 0–0 0–0
Tottenham Hotspur 0–0 2–1 1–1 2–2 1–1 3–0 3–3 0–0 1–3 2–1 3–1 1–2 2–1 1–1 0–0 4–0 2–0 3–3 4–2
Wimbledon 0–3 0–0 2–1 1–0 0–3 3–1 2–1 0–1 1–2 2–0 1–1 1–3 0–0 3–1 3–0 1–1 1–1 2–2 5–1
Nguồn: [cần dẫn nguồn]
Màu sắc: Xanh = đội nhà thắng; Vàng = hòa; Đỏ = đội khách thắng.

Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất

Hạng Cầu thủ Câu lạc bộ Bàn thắng
1   Alan Smith Arsenal 22
2   Lee Chapman Leeds United 21
3   Niall Quinn Manchester City 20
=   John Fashanu Wimbledon 20
5   Matt Le Tissier Southampton 19
=   David Platt Aston Villa 19
7 Hoa Kỳ Roy Wegerle Queens Park Rangers 18
8   Dean Saunders Derby County 17
9   John Barnes Liverpool 16
=   Ian Rush Liverpool 16
=   David White Manchester City 16

Hat-trick

Cầu thủ Cho Trước Kết quả Ngày Tham khảo
  Paul Gascoigne Tottenham Hotspur Derby County 3–0 (H) 8 tháng 9 năm 1990
  Peter Beardsley Liverpool Manchester United 4–0 (H) 16 tháng 9 năm 1990
  Lars Elstrup Luton Town Norwich City 3–1 (A) 29 tháng 9 năm 1990
  Paul Walsh Tottenham Hotspur Sheffield United 4–0 (H) 20 tháng 10 năm 1990
  Dean Saunders Derby County Sunderland 3–3 (H) 2 tháng 3 năm 1991
  David Platt Aston Villa Tottenham Hotspur 3–2 (H) 16 tháng 3 năm 1991
  Niall Quinn Manchester City Crystal Palace 3–1 (H) 1 tháng 4 năm 1991
  Lee Chapman Leeds United Liverpool 4–5 (H) 13 tháng 4 năm 1991
  David White (4) Manchester City Aston Villa 5–1 (A) 23 tháng 4 năm 1991
  Paul Williams Derby County Southampton 6–2 (H) 4 tháng 5 năm 1991
  Ian Wright Crystal Palace Wimbledon 3–0 (A) 4 tháng 5 năm 1991
  Alan Smith Arsenal Manchester United 3–1 (H) 6 tháng 5 năm 1991
  Anders Limpar Arsenal Coventry City 6–1 (H) 11 tháng 5 năm 1991
Ghi chú: (H) – Sân nhà; (A) – Sân khách

Tham khảo

  1. ^ Do lệnh cấm của UEFA năm 1985, không có câu lạc bộ Anh nào thi đấu tại châu Âu từ mùa giải 1985–86 đến mùa giải 1989–90, và vì vậy Anh được xếp hạng thứ 33 Lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2015 tại Wayback Machine cho mùa giải 1991–92 tại châu Âu, qua đó chỉ có 1 suất tham dự UEFA Cup.
  2. ^ "English League Leading Goalscorers". RSSSF. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010.

Bản mẫu:Bóng đá Anh 1990–91