Gợi ý hay ám thị (Suggestion) là một quá trình tâm lý mà thông qua đó, một người định hướng những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi mong muốn của chính mình hoặc của người khác bằng cách đưa ra các kích thích có thể gợi lên chúng như những phản xạ thay vì dựa vào nỗ lực có ý thức.[1] Ngày nay, trên các ứng dụng mạng xã hội thường có tính năng gợi ý, nó dự đoán thứ người dùng muốn trước khi tìm kiếm theo cơ chế thu thập dữ liệu hành vi.

Tập tin:Red meat consumption in the UK 2x above government recommendation.jpg
Gợi ý về lượng thịt đỏ tiêu thụ bình quân của một người mỗi năm là 48kg

Đại cương

Các tác giả viết về tâm lý học vào thế kỷ XIX như William James đã sử dụng các từ "đề xuất" (suggest) và "gợi ý" (suggestion) trong bối cảnh một ý tưởng cụ thể được cho là sẽ gợi ý một ý tưởng khác khi nó mang ý tưởng khác đó vào tâm trí. Các nghiên cứu khoa học ban đầu về thôi miên của Clark Leonard Hull và những người khác đã mở rộng ý nghĩa của những từ này theo một nghĩa đặc biệt và mang tính kỹ thuật (Hull, 1933). Lý thuyết tâm lý học thần kinh ban đầu về ám thị thôi miên dựa trên phản ứng phản xạ sinh ý niệm (ideomotor reflex response) mà William B. Carpenter tuyên bố vào năm 1852,[2] là nguyên lý thông qua đó các hiện tượng thôi miên của James Braid được tạo ra.

Émile Coué (1857–1926) là một người tiên phong quan trọng trong việc phát triển sự hiểu biết về ứng dụng của ám thị trị liệu;[3] và, theo Cheek và LeCron, hầu hết kiến ​​thức hiện tại của chúng ta về ám thị "đều bắt nguồn từ Coué" (1968, tr. 60). Với ý định "bão hòa vi môi trường nhận thức của tâm trí", phương pháp tiếp cận trị liệu của Coué dựa trên bốn nguyên tắc không gây tranh cãi.[4] Charles Baudouin đưa ra "các định luật về ám thị", gồm bốn định luật về sự chú ý tập trung, cảm xúc phụ trợ, nỗ lực đảo ngược và mục đích tiềm thức.[5]

Nghiên cứu khoa học hiện đại về thôi miên, theo sau khuôn mẫu từ công trình của Hull, tách biệt hai yếu tố thiết yếu: "trạng thái thôi miên" (trance) và ám thị.[6] Phản ứng "kinh điển" đối với một lời ám thị được chấp nhận rằng cánh tay của một người đang bắt đầu lơ lửng trong không trung là việc đối tượng nhận thức được hiệu ứng dự kiến đang xảy ra một cách không tự nguyện.[7] Tuy nhiên, ám thị cũng có thể có tác dụng ngay cả khi không có sự thôi miên. Những cái gọi là "ám thị thức tỉnh" (waking suggestions) này được đưa ra theo cách giống hệt như "ám thị thôi miên" (tức là những ám thị được đưa ra trong quá trình thôi miên) và có thể tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong trải nghiệm tri giác. Các thí nghiệm về ám thị, trong trường hợp không có sự thôi miên, đã được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu thời kỳ đầu chẳng hạn như Hull (1933).[8] Gần đây hơn, các nhà nghiên cứu chẳng hạn như Nicholas Spanos và Irving Kirsch đã tiến hành các thí nghiệm điều tra về khả năng bị ám thị phi thôi miên như vậy và tìm thấy mối tương quan chặt chẽ giữa phản ứng của mọi người đối với ám thị cả ở trong và ngoài trạng thái thôi miên.[9]

Chú thích

  1. ^ Kandel ER, 2005 Psychiatry, Psychoanalysis, and the New Biology of Mind, New York: American Psychiatric Publishing, ISBN 978-1-585-62199-6.
  2. ^ Carpenter, W.B., "On the Influence of Suggestion in Modifying and directing Muscular Movement, independently of Volition", Royal Institution of Great Britain, (Proceedings), 1852, (12 March 1852), pp. 147–153.
  3. ^ Xem Yeates, 2016a, 2016b, và 2016c.
  4. ^ Yeates (2016b), p.48.
  5. ^ Suggestion and Autosuggestion, Baudouin, c. 1920: 117.
  6. ^ Heap, M (1996). "The nature of hypnosis". The Psychologist. 9 (11): 498–501.
  7. ^ Wetizenhoffer, A. M. (1980). "Hypnotic susceptibility revisited". American Journal of Clinical Hypnosis. 22 (3): 130–46. PMID 7386402.
  8. ^ Hull, C. L. (1933/2002). "Hypnosis and suggestibility: an experimental approach." Crown House Publishing.
  9. ^ Kirsch, I.; Braffman, W. (2001). "Imaginative suggestibility and hypnotizability". Current Directions in Psychological Science. 4 (2): 57–61.

Tham khảo

Liên kết ngoài