Hồ Thị Chỉ
Hồ Thị Chỉ (chữ Hán: 胡氏芷; 1902 - 1982), là Nhất giai Ân phi (一階恩妃) của hoàng đế Khải Định thuộc triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Sau khi bà phủ thiếp Trương Như Thị Tịnh, nguyên phối của vua bỏ đi tu, bà được phong làm Nhất giai Ân phi, đứng đầu trong hậu cung của Khải Định.
| Nhất giai Ân phi 一階恩妃 | |
|---|---|
| Khải Định Đế Nhất giai phi | |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 1902 Huế, Việt Nam |
| Mất | 1982 ( 79-80 tuổi) Bệnh viện Trung ương Huế |
| An táng | Lăng mộ dòng tộc Hồ Đắc |
| Phu quân | Khải Định Hoàng đế Nguyễn Phúc Bửu Đảo |
| Tước hiệu | Nhất giai Ân phi (一階恩妃) |
| Hoàng tộc | Nhà Nguyễn |
| Thân phụ | Hồ Đắc Trung |
| Thân mẫu | Châu Thị Ngọc Lương |
Bà nổi tiếng vì ban đầu được hoàng đế Duy Tân có ý định nạp vào nội cung nhưng cuối cùng bà lại trở thành hoàng phi của vua Khải Định. Bà sống cuộc sống tẻ nhạt bên cạnh Khải Định, không con cái, cho đến lúc ông mất thì bà lặng lẽ dọn ra khỏi hoàng cung, sống thủ tiết cho đến cuối đời.
Tiểu sử
Theo tộc phả của dòng họ Hồ Đắc ở làng An Truyền (làng Chuồn); nay là phường Mỹ Thượng, thành phố Huế, thì bà Hồ Thị Chỉ là con gái của ông Thượng thư bộ Học, sau được vua Bảo Đại truy tặng tước Khánh Mỹ Quận công Hồ Đắc Trung và bà kế thất Châu Thị Ngọc Lương; cháu nội của Hầu tước Hồ Đắc Tuấn và Quận chúa Công nữ Thức Huấn, con gái của Tùng Thiện vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm – Hoàng tử thứ 10 của vua Minh Mạng. Các anh em trai của bà là Hồ Đắc Khải, Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Ân, Hồ Đắc Lân và Hồ Đắc Thứ. Các chị em gái là Hồ Thị Hạnh, Hồ Thị Huyên và Hồ Thị Phương.
Câu chuyện liên quan đến vua Duy Tân
Theo như em gái bà là Hồ Thị Hạnh (tức sư bà Diệu Không) thuật lại, vào khoảng năm 1913, khi vua Duy Tân 14 tuổi, ở ngôi được 6 năm, để nhà vua ở tuổi thiếu niên không vướng vào chính trị như vua cha Thành Thái, người Pháp cho xây tòa Thừa Lương ở Cửa Tùng (Quảng Trị). Vào mùa hè hàng năm, nhà vua ra nghỉ ngơi tắm biển. Cùng tháp tùng nhà vua trong mỗi lần ra Cửa Tùng có ông Hồ Đắc Trung, Thượng thư bộ Học, cùng 4 người con: Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di, Hồ Thị Chỉ, Hồ Thị Hạnh, để nhà vua có bạn trò chuyện, nô đùa. Lúc ấy, Hồ Thị Chỉ mới 12 tuổi mà đã có nhiều nét xuân thì, vừa xinh xắn yểu điệu, vừa hay thẹn thùng e lệ trông rất dễ thương, dễ mến. Ngay từ phút đầu, nàng đã làm cảm động vị vua trẻ.[1]
- "Mỗi buổi sáng, mặt trời vừa mọc, vua cho đòi đám trẻ đến để cùng đi ra biển bơi lội. Thầy tôi căn dặn chúng tôi phải giữ lễ vua tôi, không được tự do cười nói như đối với người thường, nhưng nhà vua lại rất dung dị, gọi các anh tôi bằng anh, gọi tôi bằng em. Ngài ít nói chuyện với chị tôi. Mỗi khi vui đùa cùng hai anh tôi và tôi, ở những trò chơi con nít, vua chỉ nhìn chị tôi mà không mời chơi. Khi nào Ngài cũng tỏ ra vui vẻ, song vẫn nghiêm trang. Chúng tôi rất mến Ngài, nhưng vẫn không dám cười đùa nhiều, sợ thầy chúng tôi quở. Khi mùa hè gần hết, vua tôi chia tay, chị tôi khóc. Ngài nói nhỏ với tôi: Dỗ chị đi em, rồi sang năm chúng ta gặp lại", sư bà Diệu Không (tức Hồ Thị Hạnh, em ruột Hồ Thị Chỉ) viết trong hồi ký.
Năm sau gần đến hè, vì Hồ tiểu thư đã lớn nên không được phép cùng các anh ra chơi Cửa Tùng. Hồ Thị Chỉ thương nhớ vua nên cứ giọt ngắn giọt dài, vậy mà vẫn không lay chuyển được quyết định của mẹ. Còn vua Duy Tân cũng rất buồn nhớ, luyến tiếc hè năm ngoái... Do vậy, khi vua được hai bà Hoàng đích mẫu và Hoàng sinh mẫu cho phép nạp phi, ông đã chọn tiểu thư họ Hồ.
Sư bà Diệu Không kể:
- "Mãn hè một tháng, một hôm có thị vệ đến xin ảnh chị tôi đem vào nội cho hai ngài Thái hậu xem mặt. Một tuần sau, hai Ngài cho đòi thầy mạ tôi vào chầu và sau đó, tôi thấy kiệu vua đệ ra nhà tôi một đôi bông tai và một đôi vòng vàng cho chị tôi, thầy mạ tôi quỳ lễ bái lãnh... Đó là lễ hỏi của vua dành cho chị tôi. Chị tôi cũng ra lạy tạ ân vua hạ cố".
Thế nhưng, trớ trêu là cuối năm 1915, vua Duy Tân đã mời Thượng thư Hồ Đắc Trung gặp riêng và nói lời rút lui việc hôn nhân với Hồ Thị Chỉ mà không cho biết lý do. Đầu năm 1916, lễ nạp phi diễn ra, người ngồi kiệu hoa vào cung là tiểu thư Mai Thị Vàng, con gái ông Mai Khắc Đôn, thầy dạy chữ Hán cho vua Duy Tân.
Gia đình Thượng thư Hồ Đắc Trung, nhất là Hồ Thị Chỉ đã rất thất vọng và buồn chán. Đến tháng 5/1916, vua Duy Tân bị Pháp bắt vì tham dự cuộc khởi nghĩa vũ trang do Việt Nam Quang phục hội lãnh đạo. Từ biến cố này, nguyên nhân của việc nhà vua từ hôn với Hồ Thị Chỉ đã được sáng tỏ. Theo lời khai của nhà vua với người Pháp, sở dĩ ông thay đổi ý định kết hôn với con gái Thượng thư Hồ Đắc Trung vì lúc bấy giờ, ông đã nhận lời tham dự cuộc khởi nghĩa vũ trang do Quang Phục hội lãnh đạo, nên không muốn người yêu là Hồ Thị Chỉ và gia đình đông con của Thượng thư Hồ Đắc Trung phải gánh chịu liên lụy.
Lại nói, ban đầu, người Pháp cũng đặt Hồ Đắc Trung vào vị trí số người có nghi vấn liên quan đến cuộc khởi nghĩa bất thành, nên nhờ lời khai đó, ông được công nhận là vô can. Tiểu thư Hồ Thị Chỉ càng thêm cảm phục quý mến tình cảm của Duy Tân và nguyện một đời sống chết vì vua.
Tuy nhiên, trên thực tế các sự việc có phần khác hoàn toàn, và huống hồ, những điều được sư bà Diệu Không kể lại trong bài hầu hết đều do bà nghe cha mình thuật lại và viết vào hồi ký khi đã 80 tuổi, nên phần lớn có thể là ông Hồ Đắc Trung tự biên tự diễn, chứ không hoàn toàn đúng với sự thật. Việc vua Duy Tân không tín nhiệm, từ chối nạp bà Chỉ phần lớn là vì Hồ Đắc Trung là tay sai đầu sỏ, thân cận, bợ đỡ, khiếp nhược với người Pháp, bè cánh với những tên đại Việt gian như Nguyễn Hữu Bài, thậm chí ngay dưới triều Duy Tân, Hồ Đắc Trung nhiều lần được giới cai trị Pháp tín nhiệm, cùng với Hữu Bài được cử vào những vị trí quan trọng trong bộ máy thực dân, điển hình là lần được bổ nhiệm làm hội viên bổ sung của Hội đồng Bảo hộ Bắc Kỳ năm 1914 (Theo "Đại Nam thực lục đệ lục kỷ phụ biên"), chưa nói đến ông cũng là người đầu tiên ký vào tờ dụ phế truất vua Duy Tân sau này.
Trong hồi ký "Lạc Viên tiểu sử" của Hình bộ Thượng thư Tôn Thất Đàn cũng có nhắc đến Hồ Đắc Trung trong sự kiện đám tang vua Khải Định về sau:
"Đến ngày cử hành tang lễ, các quan sắp hàng ở sân giữa đợi Hoàng thượng hành lễ ở sân trên, bách quan làm lễ tứ bái ở sân giữa nhưng các quan Tây, nhà buôn Tây, phụ nữ Tây dắt con cái và vú em, thằng bồi đều lên sân trên đứng xem rất lộn xộn. Bộ Lễ truyền bách quan sắp hàng hành lễ. Tôi nói đợi bàn với quý quan đuổi các người đi xem ra rồi sẽ sắp hàng. Cụ Thượng Lễ[2] nói: "Ai dám đuổi?". Tôi nói có cụ lớn tiếp tân và quan Thương tá Viện Cơ mật (là Nguyễn Đăng Tam). Trong lúc đang trao đổi thì bộ Lễ xướng: "Các quan đứng trật tự, cúc cung bái.". Tôi nói "Ở trên sân lộn xộn như thế mà cúc cung bái là không hợp, xin đợi một chút.". Quan Thượng Lễ nói: "Hoàng thượng đã hành lễ, các quan không thể hoãn.". Tôi nói: "Hoàng thượng đứng trước linh cữu làm lễ, bách quan thì có các vú em ngồi ở sân trên, mà đứng lạy ở dưới thì là lạy ai? Còn gì là thể thống nữa!". Cụ Thân thần nói: "Hướng về bậc thềm đá mà lạy.", rồi dẫn các quan ra lạy. Tôi đứng không lạy mà kêu to: "Trời ơi! Trời ơi! Sao lại cẩu thả quá vậy?". Quan Toàn quyền nghe tiếng la khóc, hỏi có chuyện gì. Có người thuật lại: "Tổng đốc Nghệ An phàn nàn các quan lạy ở dưới sân mà sân trên lại có các quan Tây bà đầm ngồi xem nên ông bất bình kêu khóc.". Quan Toàn quyền nói: "Tôi không được biết nên không ra lệnh, đó là lỗi của tôi.". Rồi ngài xin lỗi cụ Thân thần. Viện trưởng Viện cơ mật cũng nói qua vài lời rồi đều rút lui".[3]
Hồ Đắc Trung, "cha vợ" của vua Khải Định, khi đó là Thượng thư bộ Lễ nhưng không chỉ không làm tròn trách nhiệm tổ chức tang lễ cho chu tất, nghiêm trang, mà còn dung túng, ve vuốt người Pháp, để họ biến đám tang thành một vở hài kịch lộn xộn, bát nháo, làm nhục quốc thể. Bên cạnh đó, ông còn thiếu lễ ở chỗ bất hoà, xem nhẹ đồng liêu là Tôn Thất Đàn khi đó đang là Tổng đốc Nghệ An, có lẽ là vì tư thù do Tôn thất Đàn từng vạch trần chuyện Hồ Đắc Trung bè cánh với Nguyễn Hữu Bài, "kinh doanh riêng trục lợi, dẫn dụng người ngoài, bày bố khắp trong ngoài, tổn hại dưới, bổ ích trên, kết oán cho dân".
Trở thành Ân phi của vua Khải Định
Hoàng đế Khải Định, tên Nguyễn Phúc Bửu Đảo, còn có tên là Nguyễn Phúc Tuấn; là con trưởng của hoàng đế Đồng Khánh và bà Tiệp dư Dương Thị Thục (tức bà Tiên Cung). Dân gian thường gọi Bửu Đảo là ông Hoàng Cả. Giống vua cha, Khải Định nổi tiếng là một ông vua bù nhìn theo Pháp, ham chơi, thích trang điểm lòe loẹt, nửa cổ nửa kim. Theo giai thoại được truyền tụng trong dân gian thì Khải Định là người đồng tính nhưng lại có tất cả 12 bà vợ, ngoài bà phủ thiếp Trương Như Thị Tịnh được nạp khi ông còn là Phụng Hóa công và đã xuất gia tu hành trước khi Khải Định lên ngôi, thì bà Hồ Thị Chỉ là người đầu tiên được nạp sau ngày ông lên ngôi.
Năm 1917, Khải Định ngự giá lễ đặt viên đá đầu tiên xây trường nữ sinh Đồng Khánh. Vua thấy một nữ sinh xinh đẹp, khoan thai kính cẩn dâng lên ngài một chiếc kéo mới tinh đặt trên một cái khay phủ gấm điều. Hoàng thượng nhận chiếc kéo để cắt giải lụa hồng, buộc ngang cổng trường, trước khi tiến vào sân hành lễ. Thế rồi, cô thiếu nữ sau này được đưa vào nội cung làm hoàng phi.
Hồi ký của sư bà Diệu Không ghi lại cuộc gặp ngỏ lời cầu hôn với Hồ Thị Chỉ giữa vua Khải Định và Thượng thư Hồ Đắc Trung:
- "Tôi cần một người vợ nói tiếng Pháp giỏi để làm các việc cơ mật, mà người đó là con gái Thầy - ông gia hụt của Duy Tân. Trước đây, tôi đã có người vợ con cụ Trương Như Cương nhưng bà ấy đã xin về ba năm nay rồi. Tôi sẽ cưới con Thầy làm Hoàng phi vợ chính. Thật ra, tôi cũng đã có một người hầu và một con mới 4 tuổi, nó sẽ là con của bà Hoàng phi".
Đối với ông Hồ Đắc Trung, đây là một tin sét đánh vì ông biết con gái ông rất nặng tình với cựu hoàng Duy Tân, không dễ gì chấp nhận làm vợ Khải Định. Và đúng như thế, khi nghe cha nói lại ý định của vua, cô Hồ Thị Chỉ đã vừa khóc vừa thưa: "Con xin nguyện ở với cha mẹ trọn đời không lấy ai nữa hết!".
Ông bà Hồ Đắc Trung, anh cả Hồ Đắc Khải, em gái Hồ Thị Hạnh đã họp bàn tìm cách thuyết phục Hồ Thị Chỉ vì họ thừa biết, tuy Khải Định mới ngỏ ý nhưng đây đã là "khẩu dụ" của nhà vua, nếu không nghe theo thì cả nhà không tránh khỏi tội khi quân, kháng chỉ, tai họa khôn lường. Họ đã nghĩ đến chuyện hai cha con Hồ Đắc Trung, Hồ Đắc Khải xin từ quan về làm ruộng.
Liền mấy ngày đêm, cả nhà ra sức khuyên giải Hồ Thị Chỉ. Cô em Hồ Thị Hạnh đêm nằm bên chị rỉ rả thuyết phục: "Thầy và anh Khải đều là văn nhơn, nay về làm ruộng sao được. Huống nữa còn 4 anh em đang học ở Hà Nội, vậy ai là người nuôi các anh nên tương lai? Nếu chị mà không biết hy sinh thì chị còn thua nàng Kiều đã bán mình chuộc cha. Còn Ngài (Duy Tân) đã vị quốc gia, vậy sao chị không vị gia đình như Ngài đã hy sinh vì nước?". Cuối cùng, sáng hôm sau, đôi mắt còn sưng húp, nét mặt buồn phiền, Hồ Thị Chỉ sang phòng cha và thưa: "con xin nghe lời Thầy và anh!".[1]
Ngày 3 tháng 12 cùng năm, lễ tấn nội đình đã diễn ra và Hồ Thị Chỉ được phong làm Ân phi, thuộc hàng Nhất giai Phi là bậc đầu trong hàng "Cửu giai" do triều Nguyễn ban tặng cho các bà phi tần của vua trong nội cung, chỉ dưới Hoàng quý phi, cùng Hoàng hậu là chính thất của nhà vua. Dụ rằng:
"Vương hóa bắt đầu từ nội bộ, Quan thư, Thước sào xếp thứ nhất trong nhị Nam; Trị nước trước hết phải tề gia, hiền phụ Ấp Khương cùng dự vào hàng Thập loạn. Xét nay ngôi Phi nắm giữ việc nội chính từ lâu vẫn còn để khuyết. Chưa tìm được người thì biết trao cho ai. Vị trí này để trống là để đợi tìm được người hiền biết làm vui lòng bề trên, đồng thời chu toàn tứ đức, tránh cho trẫm khỏi phải áy náy mà đề tâm vào việc nội trị bên trong, thì sẽ tấn phong cho cấp bậc cao quý. Làm như thế cốt để nghiêm giáo hóa trong nhà vậy. Nay kính nhận được Từ dụ của Lưỡng cung nói rằng, nhà vua đã vất vả vào việc cơ vụ, thì nội chính không thể thiếu người phụ tá để trông nom sai khiến nội thuộc, nên chọn một người cung phi thay mặt trông nom hầu hạ già này, đỡ cho nhà vua khỏi phải bận tâm lo nghĩ. Nghe nói quan Cơ mật Đại thần, Hiệp tả Đại học sĩ, lãnh Học bộ Thượng thư, kiêm Lễ bộ sự vụ Khánh Mỹ tử Hồ Đắc Trung có người con gái thứ ba là Hồ Thị Chỉ rất có dung nhan đức hạnh, nên tuyến sung vào nội cung tấn thăng làm hàng Phi để nghiêm phép tắc trong cung và giữ thể thống, Kính vâng ngọc chỉ không dám chậm trễ trái lời, truyền cung lục Từ dụ chuyển cho viên Đại thần ấy tuân mệnh. Đồng thời truyền báo cho Khâm thiên giám chọn ngày lành để vào ngày đó đưa tiến vào Đại nội kính yết đúng nghi thức. Lại kính vâng theo Ý chỉ, rộng lượng gia ân, truyền chuẩn tấn phong cho thị ấy làm Nhất giai Ân phi, để thị sớm được đội ơn vinh sủng, mãi mãi giữ thuần phụ đạo. Truyền Hữu ti tuân theo lệ cũ xưa nay đệ phiến phúc tâu từng khoản đợi chuẩn thi hành".[4]
Bà thường hay xuất hiện cùng vua Khải Định trong những lần tiếp tân, yến tiệc với quan khách trong ngoài nước. Bà xinh đẹp, thông thái, am hiểu văn hóa, ứng xử với phương Đông phương Tây, vừa biết chơi đàn lại nói tiếng Pháp rất thông thạo, thường làm phiên dịch thông ngôn cho nhà vua, chính vì vậy nên trong tư duy của người phương Tây lúc bấy giờ, bà được hình dung là chính thất Hoàng hậu của nhà vua dù thực tế bà chỉ là cung tần bình thường, dẫn tới sự nhầm lẫn của hậu thế sau này về vai trò của bà.
"Tuy được gả cho vua mà tình người con gái vẫn còn quyến luyến vua cũ không nguôi, còn thầy tôi làm quốc trượng... mà lòng vẫn buồn nên thường lui tới chùa Trúc Lâm để tâm sự với hòa thượng Giác Tiêu cho vơi bớt nỗi sầu thế sự", sư bà Diệu Không cho biết.
Như đã nói, những điều được thuật lại của bởi sư bà Diệu Không chỉ là từ một phía do bà nghe cha kể lại, nếu đem so với thực tế thì có phần khác xa hoàn toàn, đặc biệt là việc vua Khải Định nói sẽ cưới bà Chỉ làm vợ chính và người con của ông sẽ được đem làm con của bà. Căn cứ vào lời dụ tấn phong Ân phi, vua cho biết “nhận được từ dụ của lưỡng cung nói rằng, nhà vua đã vất vả vào việc cơ vụ, thì nội chính không thể thiếu NGƯỜI PHỤ TÁ để trông nom sai khiến nội thuộc, nên chọn một người cung phi thay mặt trông nom hầu hạ già này, đỡ cho nhà vua khỏi phải bận tâm lo nghĩ…”, bấy giờ vua giao tiếp việc cơ mật với người Pháp cần có người thông ngôn, tìm người ngoài chi bằng chọn con gái của Hồ Đắc Trung, một ông quan thân Pháp. Ngoài ra, chính bà Ân phi trong cuộc phỏng vấn với nhà báo người Mỹ năm 1973 cũng cho biết bà “được cha dâng vào cung”, và bà được nhập cung theo hình thức phổ biến lúc bấy giờ là vào hầu hai bà Thánh Cung, Tiên Cung một thời gian rồi mới được làm lễ tấn nội đình rồi đưa vào nội cung của vua, không phải vào bằng lễ rước vinh hiển như lễ tấn nội đình của bà Thánh Cung thời Đồng Khánh hay Hoàng hậu Nam Phương thời Bảo Đại, chưa kể sau bà cũng có thêm các bà Dụ tần Võ Thị Dung và Điềm tần Nguyễn Đình Thị Liên đều là hầu hạ lưỡng cung rồi mới được nạp vào nội đình. Trên thực tế, phận sự của bà cũng như bao bà hoàng phi khác là hầu hạ lưỡng tôn cung, riêng bà thì kiêm thêm chức nữ quan thông ngôn cho nhà vua. Năm 1923, nhân sự kiện Vĩnh Thụy được thụ phong Hoàng thái tử, bà Nhị giai Huệ phi Hoàng Thị Cúc được vua sách phong làm Nhất giai Hậu phi, chính thức ngang hàng với bà Ân phi.
Trong di chiếu của vua Khải Định, về gia đình ông có viết: “Ta chỉ có một đông cung còn thơ ấu hiện đang du học bên nước Pháp. Nếu lên nối ngôi thì cho phép Hậu phi được gọi là Hoàng mẫu. Nội cung gồm 10 người, một nửa lo việc chầu hầu Thánh cung, một nửa chầu hầu Tiên cung sớm hôm cho hết lòng kính lễ. Nếu đông cung vì thời cuộc thay đổi mà không được nối ngôi báu thì rước Thánh Cung lên an dưỡng ở điện Ngưng Hy (trong Tư Lăng của Đồng Khánh), rước Tiên Cung về tịnh dưỡng tại tiềm để An Định… khi ta lâm băng thì nên cử hành lễ tang nhất thiết phải giản lược, không nên phiền hà…”. Trong di chiếu không có một chữ đề cập gì đến bà Nhất giai Ân Phi, người được cho là "hoàng phi vợ chính" hay "chính thất" của ông, qua đó càng cho thấy rõ địa vị thực tế của bà Ân phi chỉ là một bà cung tần bình thường không hơn không kém chứ không như lời ông Hồ Đắc Trung đã kể lại.
Cuối đời và thực tế về lời đồn phát bệnh tâm thần
Sau ngày Khải Định qua đời (1925), bà Ân phi không có được mụn con với nhà vua. Thái tử Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy lên nối ngôi, đặt niên hiệu Bảo Đại. Vua Bảo Đại lập lại các danh hiệu Hoàng thái hậu, Hoàng hậu, Hoàng thái tử và tôn mẹ đẻ là bà Nhất giai Hậu phi Hoàng Thị Cúc làm Đoan Huy Hoàng thái hậu, tức bà Từ Cung.
Căn cứ tạp chí Huế Xưa & Nay số 107, xuất bản năm 2011, bà Ân phi dời ra ở lầu Khải Tường thuộc cung An Định dưới triều Bảo Đại ở được một thời gian thì mua một căn biệt thự ở số 79D Phan Đình Phùng (sau này được bà Từ Cung mua lại), đến năm 1968 thì lại chuyển vào ở lầu Khải Tường. Theo nhà nghiên cứu Phạm Đức Thành Dũng thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế thì giai đoạn từ sau năm Mậu Thân bà Ân phi chuyển chỗ ở rất nhiều lần, chỉ ở mỗi chỗ một thời gian lại chuyển đi chỗ khác, có dạo bà ở trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế phía sau cung An Định, có dạo được em gái là sư bà Diệu Không đưa lên chùa Hồng Ân phụng dưỡng. Có thời gian quả thật bà được đưa vào nhà thương điên, tạp chí Huế Xưa & Nay có đề cập việc bà có dấu hiệu trầm cảm nhẹ, thường đi lại trong nhà miệng lầm bầm tiếng Pháp và được em trai là ông Hồ Đắc Ân đưa vào Sài Gòn chữa trị. Giai đoạn sau năm 1975, khoản tiền trợ cấp mỗi tháng của Viện Bảo tàng Huế do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tài trợ cho các bà hoàng phi bị cắt thì bà Ân phi có làm mấy món bánh nậm, bột lọc, chả giò để đi bán rồi sẵn tiện đem lên cho hai ông anh là Hồ Đắc Điềm và Hồ Đắc Di ở nhà khách số 2 và số 5 đường Lê Lợi. Khoảng năm 1980, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên đã thu xếp cho bà một căn hộ trên đường Phan Châu Trinh và bà yên tâm ở cho đến khi mất năm 1985. Cuộc sống của bà về cuối đời có các anh và em gái kề cận chăm sóc chứ không hề cô đơn nghèo túng hay phát bệnh tâm thần như lời đồn thổi. Tạp chí Xưa & Nay cũng cho biết “Ôn lại những kỷ niệm xưa, bà nhớ rất kỹ, thỉnh thoảng trong câu chuyện bà lại dùng tiếng Pháp đệm vào khá dài để diễn đạt ý mình muốn nói”.
Trong bài phỏng vấn hai bà Ân phi và bà Từ Cung của phóng viên người Mỹ năm 1973, bà Ân phi được miêu tả như sau:
(...) Nói chuyện phiếm được nửa giờ, Thái hậu nói cảm thấy mệt, lấy cớ đi hút thuốc lá. Trong lúc bà đi khỏi, Bà Phi (Nguyên văn: Ba Phi, tác giả chú thêm là "Madame Concubine"), trước là bà Nhất giai Phi trong hậu cung, bước vào và ngồi thế chỗ bà Thái hậu trên trường kỷ. Vẻ khó chịu mà Bà Phi nhận được khi Thái hậu quay lại đã thể hiện rõ những người đàn bà này vẫn rất xem trọng tôn ti vị thế của mình.
Bà Phi miêu tả Thái hậu là một người tốt bụng, nhưng khó tính, dễ cáu và thường thích làm theo ý của mình.
Bà Phi nói bằng tiếng Pháp rất trôi chảy: “Hồi trước mấy ông giám của Ngài thường tâu với Ngài chuyện Đức Vua dành nhiều thời gian với bà nào nhất và tôi là một trong những bà được Ngài yêu quý.”
Cuộc sống hiện nay của Bà Phi, 72 tuổi, rất khác với trước kia. Thuở còn trong cung, bà có chỗ ở riêng, người hầu kẻ hạ riêng và không thiếu một thứ gì. Giờ đây, bà ở chung một căn phòng ở nhà sau với những người lánh nạn khác và sống dựa vào món tiền cấp dưỡng 7.000 đồng Đông Dương (14 đô) mỗi tháng. Người thân duy nhất của bà ấy đang ở Sài Gòn, quá xa để bà ấy có thể tiện đi lại thăm nom.
Một số người trong triều đình lúc trước đã bị sốc khi bà bỏ đạo Phật để chuyển sang Công giáo La Mã. Riêng Bà Phi lại thích lang thang quanh nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế phía sau cung An Định, cách đó vài trăm thước (cung đã bị phá hủy một phần trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968). Bà giải thích rằng bà cảm thấy lễ bên Công giáo nhẹ nhàng và cũng có thiện cảm với các nữ tu.
Mặc dù đã rời xa chốn lễ nghi, nhưng Bà Phi vẫn ý thức được bổn phận của mình đối với hoàng tộc. Bà chưa bao giờ tái hôn bởi theo truyền thống, các cung tần phải thủ tiết với Hoàng đế ngay cả sau khi ông qua đời. Khi Hoàng đế băng hà, các cung tần khác nán lại hoàng cung với bà Thái hậu suốt thời Bảo Đại. Riêng Bà Phi, rõ ràng là rất gắn bó với cha của Bảo Đại, đã chọn đi trông giữ lăng tẩm của ông.
“Tôi chỉ mới 16 tuổi lúc cha đưa vào Nội,” bà nhớ lại. “Thái hậu chọn một số bà làm cung tần dựa vào vẻ duyên dáng, xinh đẹp và cách cư xử. Nhưng nhiều vị quan, như cha tôi trước là một quan lớn, được đặc cách dâng con gái cho Đức Vua. Chúng tôi phải hầu các Ngài thái hậu trước, nếu mấy Ngài ưng, chúng tôi mới được đưa đi trình diện Đức Vua.
Tôi và Đức Khải Định hợp nhau lắm, chúng tôi ở bên nhau rất vui. Ngài ăn diện cũng đẹp, tôi biết nhiều người sẽ cho rằng Ngài là một công tử diêm dúa. Ngài không hứng thú chuyện gái trai. Về sau Ngài bị suy nhược và rồi mất vì bệnh lao. Hoàng cung rất to lớn, nhưng tôi ghét lễ nghi cứng nhắc, ở đó không được tự do mấy. Ai cũng phải cư xử đúng mực nhất mọi lúc mọi nơi."
Bà cũng nói thêm rằng các quan Pháp thường gọi điện cho nhà Vua và nói chuyện thông qua một ông thông ngôn. Bà nói: “Ai cũng phải lịch thiệp với người Pháp, nhưng chúng tôi thì không."
Hiện những người trông lăng tẩm có ba bà lão, là con cháu bên ngoại trong hoàng tộc. Họ cũng như Bà Phi, nói rằng nhiệm vụ của họ là trông coi hương hỏa của Đức Vua. Các bà đã sống an phận trong lăng suốt 20 năm qua.
Bà mất vào năm 1985 vì suy kiệt và tiêu chảy cấp tại bệnh viện Trung ương Huế, hưởng thọ 83 tuổi. Mộ phần của bà được an táng bên cạnh song thân trong khuôn viên lăng mộ Hồ Đắc trên ngọn đồi thông gần chùa Hồng Ân do ni trưởng Thích Nữ Diệu Không (tức sư bà Diệu Không, em gái của bà) sáng lập và trụ trì. Hiện nay tại khu vực này có nhà Tưởng niệm họ Hồ và gia tộc Hồ Đắc mới được xây cất bên cạnh bảo tháp của sư bà Diệu Không.[5]
Trong văn hoá đại chúng
| Năm | Tác Phẩm | Diễn Viên | Nhân Vật |
| Chưa rõ | Mây toả đỉnh hồ | Tường Vi | Ân Phi |
Chú thích
- ^ a ă "Những cuộc tình éo le trong sử Việt: Bi kịch lầu son". Thanh Niên. ngày 5 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2024.
- ^ Tức ông Hồ Đắc Trung, đương là Lễ bộ Thượng thư
- ^ Lạc Viên tiểu sử quyển 4, tờ 112-114, người dịch Trần Đại Vinh, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 103
- ^ Theo Khải Định chính yếu, quyển II, phần Gia pháp, Quốc sử quán triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thời Đại.
- ^ "Bí ẩn vợ vua phải làm bánh bán dạo - Kỳ 4: Mấy mươi năm 'đối thoại' với phu quân đã khuất". Tuổi trẻ. ngày 22 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2024.
Tham khảo
- Tình buồn của bà hoàng yêu vua Duy Tân
- Có một gia đình họ Hồ Lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2013 tại Wayback Machine