Trang Bản mẫu:Plainlist/styles.css không có nội dung.Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.

H.O.T.
SinhLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Separated entries”.
Nguyên quánSeoul, Hàn Quốc
MấtLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Separated entries”.
Thể loạiTrang Bản mẫu:Hlist/styles.css không có nội dung.
Năm hoạt động1996–2001
2018–2019
Hãng đĩaSM Entertainment
Thành viên

H.O.T. (tiếng HànLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found. hoặc 에쵸티; từ viết tắt của Highfive Of Teenagers) là một nhóm nhạc nam Hàn Quốc được thành lập bởi SM Entertainment vào năm 1996. Họ được coi là nhóm nhạc thần tượng K-pop đầu tiên và công thức thành công của họ đã trở thành hình mẫu cho nhiều nhóm nhạc K-pop theo sau họ.[1][2] Nhóm bao gồm 5 thành viên Moon Hee-joon, Jang Woo-hyuk, Tony Ahn, KangtaLee Jae-won.

H.O.T. đã bán được hơn 6,4 triệu đĩa ở Hàn Quốc trong suốt sự nghiệp của họ.[3] Họ cũng thành công về mặt thương mại ở Trung QuốcNhật Bản, và là một trong những ngôi sao đầu tiên của làn sóng Hàn Quốc ở Châu Á.[4]

Nhóm tan rã vào năm 2001 sau bất đồng hợp đồng với SM Entertainment, khiến hàng trăm người hâm mộ biểu tình phản đối công ty.[5][6]

Thành viên

  • Moon Hee-joon (문희준; 文熙俊, Văn Hi Tuấn) – Trưởng nhóm, ca sĩ; Số/Màu trong Candy: 23/Yellow (vàng)
  • Jang Woo-hyuk (장우혁; 張佑赫, Trương Hựu Hách) – Rap chính tiếng Hàn; Số/Màu trong Candy: 35/Blue (xanh da trời)
  • Tony An (Tên thật là Ahn Seung-ho, 안승호; 安勝浩, An Thắng Hạo) – Rap chính tiếng Anh; Số/Màu trong Candy: 07/Red (đỏ)
  • Kangta (Tên thật Ahn Chil-hyun, 안칠현; 安七炫, An Thất Huyền) – Vocal chính; Số/Màu trong Candy: 27/Green (xanh lá cây)
  • Lee Jae-won (이재원; 李在元, Lý Tại Nguyên) – Ca sĩ; - Vocal phụ, Rap phụ; Số/Màu trong Candy: 48/Orange (da cam)

Kỷ lục

- Nghệ sĩ đầu tiên của Hàn Quốc tổ chức concert cho riêng mình tại sân vận động Seoul Olympic.

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên có vé được bán hết trong ṿòng 10 phút (Concert tại sân vận động Oplympic năm 2001 với sức chứa 50,000 người). Các concert khác bán hết vé trong vòng 1 tiếng.

- H.O.T là nhóm nhạc duy nhất khiến hệ thống tàu điện ngầm của Hàn Quốc phải kéo dài thêm giờ chạy.(Hệ thống tàu điện ngầm đã tới giờ chạy đến 2 giờ sáng để đưa đón các fans)

- Lần đầu tiên, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Hàn Quốc ra thông báo cấm học sinh không được nghỉ học, hay vắng mặt để đi xem concert.

- Nghệ sĩ đầu tiên có Fanclub chính thức vượt con số 150.000 thành viên (không chính thức là 250.000 thành viên).

- Ngôi sao Hàn Quốc đầu tiên có Fanclub được lập tại Trung Quốc (hơn 8 triệu thành viên).

- Tất cả album (từ album 1 đến 5) đều đạt con số tiêu thụ 100.000 bản ngay trong ngày phát hành. Và tính đến hiện tại, tất cả các album đều vượt qua con số 1 triệu bản, và tổng lượng album bán ra vượt qua 6 triệu bản.

- Nghệ sĩ đầu tiên có nước uống và nước hoa mang thương hiệu của họ.

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên có màu bóng và màu riêng cho mình, kể cả với fan, khởi xướng phong trò - Văn hóa FANDOM.

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên có chương trình truyền hình riêng cho mình.

- H.O.T. fans là những người đầu tiên viết fanfic (tại Hàn Quốc), mở ra khái niệm Fanfiction.

- H.O.T. fans là những người đầu tiên giúp đỡ tài chính và quảng cáo cho album của một ca sĩ (album thứ ba của Moon Hee-joon).

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên có chỗ trưng bày ưu tiên album chỉ sau 2 tháng ra mắt.

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên nhận 7 giải Daesang trong cùng 1 năm.

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên ngay lập tức dẫn thứ hạng đầu trong ngày đầu tiên trở lại.

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên có Music Video được dựng thành phim hoạt hình. (Video Music The Promise Of H.O.T. - sáng tác: Yoo Joung Jin & Kangta)

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên nhận giải Daesang của đài KBS.

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên tổ chức 'Fanmeeting'. Tất cả Fanmeeting của H.O.T. đều được tổ chức trên sân vận động lớn và thường kéo dài trong 2 ngày.

- Ca sĩ/nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên được biểu diễn với Michael Jackson.

- Đạt kỷ lục cao nhất về số lượng xe buýt và cảnh sát, số lượng bảo vệ, nhân viên an ninh được huy động trong những buổi Concert và buổi biểu diễn. (Trong Forever concert ngày 27.02.2001: hơn 400 xe buýt có trách nhiệm đưa đón fans).

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên tham gia hát trong 1 OST phim của Disney.

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên thành lập Fanclub (tại Hàn Quốc).

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên có phim hoạt hình 3D riêng (Age of peace).

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên có chương trrình truyền hình kéo dài 1 tiếng được phát trong show trở lại đặc biệt (Comeback Special).

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên có chương tŕnh truyền hình kéo dài 1 tiếng được phát trong show chia tay (Goodbye Special).

- Ca sĩ/nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên nhận giải thưởng MTV Awards (Video 'Line up' giành được giải thưởng của American MTV Video Award cho 'Video quốc tế xuất sắc nhất năm 1998').

- Ca sĩ/nhóm nhạc đầu tiên phá vỡ các kỷ lục trong nền công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc.

Lịch sử hoạt động

H.O.T. được thành lập bởi Lee Soo-man của SM Entertainment. Các bài nhạc của nhóm chủ yếu là hợp thể của nhạc rap, ballad, dance và đến năm 1999 là rock. Trưởng nhóm Moon Hee-joon cùng ca sĩ chính là Kangta đảm nhiệm các giai điệu ballad cho nhóm, Jang Woo-hyuk nhảy chính và Lee Jae-won phụ trách các đoạn rap tiếng Hàn còn Tony Ahn phụ trách các đoạn rap tiếng Anh trong các ca khúc. Trang phục của nhóm được cung cấp bởi công ty Zippy Zippy.

Các thành viên của H.O.T. không phải tự nhiên gặp nhau rồi thành lập nên một ban nhạc mà từng thành viên được quản lý của SM Entertainment chọn ra. Thành viên đầu tiên của nhóm là Ahn Chil-hyun (hay còn gọi là Kangta) đã lọt vào mắt xanh của quản lý SM Entertainment khi anh đang hát và nhảy ở khu giải trí Lotte World. 2 thành viên tiếp theo của nhóm là Moon Hee-joon và Lee Jae-won đã tham gia cuộc thi tuyển ca sĩ của SM Entertainment và đạt tiêu chuẩn để vào nhóm. Jang Woo-hyuk nhận được lời mời tham gia sau khi giành vị trí số một trong một cuộc thi nhảy. H.O.T. lúc bắt đầu vốn có 6 thành viên với 2 người cuối cùng là Tony AhnAndy Lee, tài năng của hai người được phát hiện bởi Brothers Entertainment rồi được chuyển sang SM. Nhưng trong quá trình thành lập, bố mẹ của Andy Lee đã từ chối bảo trợ cho con trai họ tham gia nhóm nên Andy đã rút khỏi nhóm. Sau này Andy trở thành thành viên của Shinhwa.

Trong album thứ ba Resurrection, họ đã viết đa số những bài hát trong album đó, và trong 2 album cuối cùng (I yah!, và Outside Castle) họ đã viết và phối nhạc gần như tất cả các bài hát. 2 thành viên của nhóm, Moon Hee-joon và Jang Woo-hyuk, là người biên đạo cho tất cả các bài hát của họ. H.O.T. cũng được các fan hâm mộ miêu tả như các thiên thần sau clip video của họ với cái tên "Promise of H.O.T.".

H.O.T. cũng là nhóm nhạc pop đầu tiên của Hàn Quốc được biểu diễn tại sân vận động Olympic Seoul bởi vì số lượng fan quá lớn của nhóm. Cũng bởi vì sự nổi tiếng của nhóm nên H.O.T. cũng trở thành một thương hiệu quảng cáo lớn trong thời gian nhóm hoạt động. Họ còn có cả một loại nước uống riêng với biểu ngữ "I only drink H.O.T.".

Các thành viên đã tham gia vào một bộ phim 3D với tên "Age of Peace". Bộ phim này được chiếu tại Nhật Bản nhằm quảng bá cho album thứ tư của nhóm phát hành ngay sau đó. Trong phim, tất cả mọi cảnh vật, người đều được tạo dựng bằng kỹ xảo vi tính ngoại trừ 5 thành viên của nhóm.

Họ đã chiến thắng trong vô số những giải thưởng của KMTV (MTV Hàn Quốc) và nhiều chương trình âm nhạc phổ biến khác của Hàn Quốc. Đặc biệt năm 1998, video clip "Line up" nhận được giải Video clip quốc tế hay nhất từ MTV Mỹ.

H.O.T. khá thân thiết với một số nhóm nhạc khác. Các thành viên của nhóm còn là bạn thân với Kim Hwan Sung của nhóm N.R.G.. Hwan Sung sau này qua đời vì viêm phổi chỉ một vài tuần trước sinh nhật 20 tuổi của anh, điều này đã khiến các thành viên của H.O.T. hết sức đau buồn đặc biệt là KangTa. Ngay trong album sau đó của N.R.G., Kangta đã viết bài nhạc chính của album cho nhóm này.

"A Song for Lady", một trong số các bài nhạc nổi tiếng của H.O.T. cũng được dùng làm bài nhạc chính của phim "Autumn in my Heart"

Tan rã

H.O.T. tuyên bố tan rã tại một cuộc họp báo ở Seoul vào tháng 5 năm 2001, một thời gian ngắn sau live show của nhóm. Các thành viên Tony Ahn, Jang Woo-hyuk, Lee Woo-hyun nói với báo chí rằng họ rời SM vì không thể đạt được thỏa thuận với công ty về hợp đồng mới. Trong những ngày tiếp theo, hàng trăm người hâm mộ của nhóm đã biểu tình bên ngoài trụ sở SM. Một số người hâm mộ đã chặn đường và ném đá vào cửa sổ trụ sở công ty để phản đối những hành động mà họ cho là bất công của SM đối với nhóm. Có thông tin cho rằng những bất đồng về hợp đồng giữa H.O.T. và SM liên quan đến tiền lương của các thành viên nhóm, chỉ khoảng 10.000 USD cho mỗi 1 triệu album bán được.[7]

Hoạt động sau khi tan rã

Sau khi nhóm tan rã, Kangta và Moon Hee-joon ở lại SM Entertainment và theo đuổi sự nghiệp solo. Trong khi Kangta chú tâm vào thể loại R&B thì Moon Hee-joon lại phát triển thiên về rock.

Ba thành viên còn lại của nhóm là Jang Woo-hyuk, Tony An và Lee Jae-won thành lập một nhóm nhạc mới với cái tên jTL. Các album của họ đã khá thành công.[8] Năm 2003, jTL cùng với "A Better Day" đã đạt giải Nhóm nhạc Hàn Quốc được yêu thích nhất châu Á tại MTV châu Á 2003.

Sau này, Jang Woo-hyuk mở một công ty chuyên đào tạo nhảy múa và một trường dạy nhảy tên là Newest. Anh phát hành album riêng đầu tiên của mình vào tháng 12 năm 2005 với cái tên "No More Drama".

Tony Ahn cũng ra album riêng, thành lập công ty TN Entertainment và cũng rất thành công trong sự nghiệp kinh doanh với công ty đồng phục học sinh Skoolooks.

Tháng 3 năm 2005, Lee Jae-won phát hành album riêng đầu tiên của mình "No Pain, No Gain".

Năm 2004, Moon Hee-joon rời SM và tự lập công ty riêng là PS Entertainment. Sau đó 1 năm, anh tạm thời dựng sự nghiệp ca hát để tham gia nghĩa vụ quân sự.

Hiện nay tất cả năm thành viên của H.O.T đều đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và tiếp tục sự nghiệp kinh doanh cũng như giải trí của bản thân thành viên

Tái hợp

Hôm 17 tháng 2 năm 2018, MBC đã đăng tải một loạt các video của idolgroup huyền thoại đời đầu H.O.T., từ lúc các thành viên gặp gỡ nhau sau 17 năm, cho đến lúc diễn tập cho ca khúc nổi tiếng "We Are The Future". Kangta chia sẻ rằng anh không trực tiếp liên lạc riêng với từng thành viên mà để từng người tự có quyết định khi nhận được lời đề nghị từ Infinity Challenge.[9]

Khi H.O.T. gặp lại nhau tại buổi chuẩn bị cho chương trình, các thành viên đã không kiềm được xúc động. Moon Hee-joon nhớ lại về concert cuối cùng của nhóm, nơi mà anh đã hứa với fan rằng "H.O.T. sẽ không bao giờ tan rã". Anh chia sẻ thêm: "Tôi cũng đã nghe điều đó rất nhiều lần từ người hâm mộ của mình. Tôi đã nói họ bảo vệ chúng tôi, vì thế tôi còn cảm thấy tiếc nuối hơn nữa. Vì tôi là người đã nói những lời đó nên cảm giác tội lỗi đang tràn ngập con người tôi."

Giải thưởng và đề cử

Danh sách

Tên đơn vị công bố, danh sách, năm và kết quả thứ hạng
Đơn vị Năm Danh sách Thứ hạng TK
The Dong-a Ilbo 2016 Những nghệ sĩ nam xuất sắc nhất theo chuyên gia 2 [10]
Golden Disc Awards 2025 Golden Disc Powerhouse 40 Được xếp hạng [11]
Mnet 2013 100 nghệ sĩ huyền thoại 43 [12][13]

Giải thưởng và đề cử

Giải thưởng Năm Hạng mục Đề cử Kết quả TK
Golden Disc Awards 1996 Best New Artist "Candy" Đoạt giải [14]
1997 Album of the Year (Daesang) Wolf and Sheep Đoạt giải [15]
Main Prize (Bonsang) Đoạt giải
1998 Resurrection Đoạt giải [16]
1999 I Yah! Đoạt giải
KBS Music Awards 1998 Grand Prize (Daesang) "Hope" Đoạt giải [17]
Singer of the Year (Bonsang) H.O.T. Đoạt giải [18]
KMTV Music Awards 1997 Grand Prize (Daesang) H.O.T. Đoạt giải [19]
ARS Most Popular Artist Đoạt giải
Popular Singer Award (Bonsang) Đoạt giải
1998 Grand Prize (Daesang) Đoạt giải [20]
ARS Most Popular Artist Đoạt giải
Popular Singer Award (Bonsang) Đoạt giải
1999 ARS Most Popular Artist Đoạt giải
Popular Singer Award (Bonsang) Đoạt giải
Best Male Dancer Đoạt giải
2000 Main Prize (Bonsang) Đoạt giải
Netizen Popularity Award Đoạt giải
Korea Entertainment Arts Awards 1999 Best Youth Singer H.O.T. Đoạt giải [21]
MBC Gayo Daejejeon 1997 Best Popular Song "Happiness" Đoạt giải [22]
1998 "Hope" Đoạt giải [23]
Popular Singer Award H.O.T. Đoạt giải
1999 Đoạt giải
Mnet Asian Music Awards 1999 Best Popular Music Video (Daesang) "I Yah!" Đoạt giải [24]
Best Group Đoạt giải
Best Dance Performance Đề cử
2000 Best Popular Music Video (Daesang) "Outside Castle" Đoạt giải [25]
Best Male Group Đề cử
Best Dance Performance Đề cử
2008 10th Anniversary Remember Award H.O.T. Đoạt giải [26]
MTV Video Music Awards 1998 International Viewer's Choice Award for MTV Asia "We Are the Future" Đề cử [3]
1999 International Viewer's Choice Award for MTV Korea "Line Up!" Đoạt giải
SBS Gayo Daejeon 1996 Rookie Award H.O.T. Đoạt giải [27]
1997 Grand Prize (Daesang) Đoạt giải [28]
Main Prize (Bonsang) Đoạt giải
1998 Grand Prize (Daesang) Đoạt giải
Main Prize (Bonsang) Đoạt giải
Seoul Music Awards 1997 Grand Prize (Daesang) H.O.T. Đoạt giải [29]
Main Prize (Bonsang) Đoạt giải
1998 Grand Prize (Daesang) H.O.T. (đồng giải với Sechs Kies) Đoạt giải [30]
Main Prize (Bonsang) H.O.T. Đoạt giải
1999 Đoạt giải

Danh sách đĩa nhạc

Album phòng thu

Nhan đề Chi tiết Vị trí cao nhất Doanh số
Hàn

[31]

We Hate All Kinds of Violence
Wolf and Sheep
  • Phát hành: 5 tháng 7 năm 1997
  • Hãng đĩa: SM Entertainment
  • Định dạng: CD, cassette, tải nhạc
Resurrection
  • Phát hành: 24 tháng 9 năm 1998
  • Hãng đĩa: SM Entertainment
  • Định dạng: CD, cassette, tải nhạc
1
I Yah!
  • Phát hành: 15 tháng 9 năm 1999
  • Hãng đĩa: SM Entertainment
  • Định dạng: CD, cassette, tải nhạc
2
Outside Castle
  • Phát hành: 29 tháng 9 năm 2000
  • Hãng đĩa: SM Entertainment
  • Định dạng: CD, cassette, tải nhạc
1

Album tuyển tập

Nhan đề Chi tiết Vị trí cao nhất Doanh số
Hàn

[31]

Đài

[38]

H.O.T. 史上最惡少年
  • Phát hành: 26 tháng 1 năm 1999 (Đài Loan)
  • Hãng đĩa: Rock Records
  • Định dạng: CD, tải nhạc
7
Age of Peace: The Original Soundtrack
  • Phát hành: 16 tháng 7 năm 2000 (Hàn Quốc)
  • Hãng đĩa: SM Entertainment
  • Định dạng: CD, tải nhạc
39

Đĩa đơn

Nhan đề Năm Album
"Warrior's Descendant" (전사의 후예 (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.; Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.)) 1996 We Hate All Kinds of Violence
"Candy"
"Wolf and Sheep" (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.) 1997 Wolf and Sheep
"Full of Happiness" (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.; Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.)
"We Are the Future"
"Line Up!" (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.) 1998 Resurrection
"Hope" (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.)
"I Yah!" (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.) 1999 I Yah!
"Git It Up" (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.; Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.)
"It's Been Raining Since You Left Me" (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.; Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.)
"Outside Castle" 2000 Outside Castle
"We Can Do It" (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.)
"A Song For Lady" (For Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.; Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.)

Người hâm mộ

Câu lạc bộ người hâm mộ (fan club) của H.O.T. được biết với cái tên Forever The White Angels (Mãi mãi các thiên thần trắng). H.O.T là nhóm nhạc đầu tiên có "màu fan" của riêng họ. Sau đó, các nhóm nhạc và ca sĩ khác của Hàn Quốc cũng theo trào lưu này. Thậm chí, sau khi H.O.T tan rã, các fan vẫn dùng những quả bóng trắng để cổ vũ cho những thành viên của nhóm trong các hoạt động cá nhân.

Các website, fanclub của H.O.T. vẫn còn hoạt động dù nhóm đã tan rã.

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  2. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  3. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  4. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  5. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  6. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  7. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  8. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  9. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  10. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  11. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  12. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  13. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  14. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  15. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  16. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  17. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  18. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  19. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  20. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  21. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  22. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  23. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  24. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  25. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  26. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  27. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  28. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  29. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  30. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  31. ^ a ă Peaks on the RIAK charts:
    • Resurrection: Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
    • Other albums: Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  32. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  33. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  34. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  35. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  36. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  37. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  38. ^ IFPI Taiwan album chart peaks:
    • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
    • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Liên kết ngoài