HMS Spearfish (69S)
HMS Spearfish (69S) (tên tiếng Anh đặt theo một chi thuộc họ Cá cờ), là một tàu ngầm lớp S (1931) thuộc Nhóm II, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo vào khoảng giữa thập niên 1930 trong giai đoạn hiện đại hóa lực lượng tàu ngầm. Hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Spearfish đã thực hiện được bảy chuyến tuần tra tại vùng biển nhà, và từng gây hư hại nặng cho chiếc tàu tuần dương hạng nặng Lützow, trước khi bị tàu ngầm Đức U-34 phóng ngư lôi đánh chìm tại Bắc Hải vào ngày 1 tháng 8, 1940.
Tàu ngầm HMS Sealion, một chiếc lớp S Nhóm II tiêu biểu
| |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Spearfish (69S) |
| Đặt tên theo | một chi thuộc họ Cá cờ |
| Đặt hàng | 18 tháng 2, 1935 |
| Xưởng đóng tàu | Cammell Laird, Birkenhead |
| Đặt lườn | 23 tháng 5, 1935 |
| Hạ thủy | 21 tháng 4, 1936 |
| Nhập biên chế | 11 tháng 12, 1936 |
| Số phận | Bị tàu ngầm U-34 đánh chìm tại Bắc Hải, 1 tháng 8, 1940 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp S nhóm II |
| Kiểu tàu | tàu ngầm Diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 208 ft 8 in (63,6 m) |
| Sườn ngang | 24 ft (7,3 m) |
| Mớn nước | 11 ft 10 in (3,61 m) |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa |
|
| Độ sâu thử nghiệm | 300 foot (91 m) |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 40 |
| Vũ khí |
|
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế
Là một kiểu tàu ngầm nhỏ để tuần tra tại vùng biển bị giới hạn như Bắc Hải, Baltic và Địa Trung Hải, lớp tàu ngầm S nhóm II được thiết kế lớn hơn tàu ngầm nhóm I và yêu cầu một thủy thủ đoàn đông hơn, nhưng vẫn trang bị vũ khí tương tự. Chúng còn có trữ lượng nhiên liệu nhiều hơn giúp nâng cao tầm xa hoạt động.[1] Chúng có trọng lượng choán nước 780 tấn (768 tấn Anh) khi nổi và 975 tấn (960 tấn Anh) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 208 ft 8 in (63,60 m), mạn tàu rộng 24 ft (7,3 m) và mớn nước sâu 11 ft 10 in (3,61 m).[2] Con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m), và có một thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 40 sĩ quan và thủy thủ.[3]
Lớp S trang bị hai động cơ diesel công suất 775 mã lực phanh (578 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 650 mã lực (485 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 13,75 hải lý trên giờ (25,47 km/h; 15,82 mph) và 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) khi lặn dưới nước.[4] Tầm xa hoạt động của Nhóm II là 6.000 hải lý (11.000 km; 6.900 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph), và có thể lặn xa 64 nmi (119 km; 74 mi) ở tốc độ 2 hải lý trên giờ (3,7 km/h; 2,3 mph).[3]
Các con tàu có sáu ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), tất cả được bố trí trước mũi, và có sáu quả ngư lôi dự phòng, nâng tổng số ngư lôi mang theo là 12 quả. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo 3 inch (76 mm) cùng một pháo phòng không Oerlikon 20 mm.[2]
Chế tạo
Spearfish được đặt hàng vào ngày 18 tháng 2, 1935 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1934, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Cammell Laird ở Birkenhead vào ngày 23 tháng 5, 1935. Nó được hạ thủy vào ngày 21 tháng 4, 1936, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 11 tháng 12, 1936.[5][6]
Lịch sử hoạt động
1939
Vào lúc Chiến tranh Thế giới thứ hai sắp bắt đầu, Spearfish phục vụ trong thành phần Chi hạm đội Tàu ngầm 2. Từ ngày 23 đến ngày 26 tháng 8, 1939, Chi hạm đội đã di chuyển đến căn cứ của đơn vị tại Dundee, Scotland và Blyth, Northumberland, Anh.[7] Trên đường đi, Spearfish tách ra khỏi đồng đội vào ngày 25 tháng 8 để hoạt động tại vùng biển Bắc Hải về phía Tây Nam Stavanger, Na Uy.[6]
Chuyến tuần tra thứ nhất
Sau khi Anh Quốc tuyên chiến với Đức Quốc xã vào ngày 3 tháng 9, chuyến đi này trở thành chuyến tuần tra đầu tiên của Spearfish trong chiến tranh. Trong ngày hôm nó nhìn thấy sóng của một quả ngư lôi băng qua trước mũi tàu, nên cho rằng đã bị tấn công, nhưng thực ra không có tàu ngầm đối phương nào tại khu vực. Nó kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Dundee vào ngày 7 tháng 9.[6]
Chuyến tuần tra thứ hai
Spearfish xuất phát từ Dundee vào ngày 20 tháng 9 cho chuyến tuần tra thứ hai, và đã hoạt động tại khu vực Bắc Hải về phía Đông Đan Mạch. Đến ngày 24 tháng 9, nó bị tàu chiến đối phương thả mìn sâu tấn công ở vị trí ngoài khơi bãi đá ngầm Horns Rev, và bị hư hại nặng đến mức không thể lặn, nhưng vẫn xoay sở tìm cách rút lui dọc theo bờ biển Đan Mạch để quay trở về căn cứ. Một chiến dịch giải cứu được các tàu chiến thuộc Hạm đội Nhà tiến hành, bao gồm cả tàu sân bay HMS Ark Royal, tàu chiến-tuần dương HMS Hood và thiết giáp hạm HMS Nelson. Lực lượng này bị máy bay ném bom Junkers Ju 88 của Không quân Đức Quốc xã tấn công, và một quả bom ném trúng đã gây hư hại nhẹ cho Hood. Spearfish cuối cùng về được đến cảng Rosyth vào ngày 27 tháng 9.[6]
Spearfish được sửa chữa tại Newcastle từ cuối tháng 9, 1939 đến giữa tháng 3, 1940.[6]
1940
Chuyến tuần tra thứ ba
Spearfish xuất phát từ Blyth vào ngày 5 tháng 4, 1940 cho chuyến tuần tra thứ ba, và hoạt động tại lối tiếp cận phía Tây của eo biển Skagerrak. Vào ngày 7 tháng 4, nó bị hư hại nhẹ bởi không kích của đối phương. Đến ngày 11 tháng 4, tại khu vực eo biển Kattegat, nó phóng ngư lôi tấn công và gây hư hại cho chiếc Lützow, buộc chiếc tàu tuần dương hạng nặng Đức phải ngừng hoạt động trong hơn một năm.[6] Vào lúc đó người ta tin rằng Spearfish đã đánh chìm được tàu chị em của Lützow, chiếc Admiral Scheer.[8] Spearfish kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Blyth vào ngày 17 tháng 4.[6]
Chuyến tuần tra thứ tư
Spearfish khởi hành từ Blyth vào ngày 12 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ tư, và đã hoạt động tại khu vực giữa Bắc Hải. Tại đây vào ngày 20 tháng 5, nó đã bắn hải pháo đánh chìm hai tàu đánh cá Đan Mạch S.130 / Orkney và S.175 / Söstjernen, rồi quay trở về Blyth vào ngày 24 tháng 5.[6]
Chuyến tuần tra thứ năm và thứ sáu
Từ căn cứ hoạt động Blyth, Spearfish tiếp tục thực hiện thêm hai chuyến tuần tra tại các vùng biển giữa Bắc Hải và về phía Bắc Hà Lan, lần lượt diễn ra từ ngày 3 đến ngày 18 tháng 6 và từ ngày 3 đến ngày 17 tháng 7.[6]
Chuyến tuần tra thứ bảy – Bị mất
Spearfish xuất phát từ Rosyth vào ngày 31 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ bảy, cũng là chuyến cuối cùng, để hoạt động ngoài khơi Stavanger, Na Uy. Trong khi đang di chuyển trên mặt biển vào ngày hôm sau 1 tháng 8, nó bị tàu ngầm U-34, dưới quyền chỉ huy của Đại úy Hải quân Wilhelm Rollmann, phát hiện. U-34 đã phóng ngư lôi đánh chìm Spearfish ở vị trí cách Stavanger 180 nmi (330 km) về phía Tây Nam, tại tọa độ 57°50′B 11°00′Đ / 57,833°B 11°Đ.[6][9] 41 người trong số thành viên thủy thủ đoàn của Spearfish đã tử trận, chỉ có một thủy thủ duy nhất sống sót được U-34 cứu vớt và bắt làm tù binh chiến tranh.[10]
Tóm tắt chiến công
Spearfish đã gây hư hại cho một tàu chiến tải trọng 12.100 tấn.[6]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 11 tháng 4, 1940 | Lützow | Hải quân Đức Quốc xã | 12.100 | Bị hư hại |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ^ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- ^ Harrison, A. N. (tháng 1 năm 1979). "The Development of HM Submarines From Holland No. 1 (1901) to Porpoise (1930) (BR3043)". RN Subs. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2022.
- ^ a b Chesneau (1980), tr. 49.
- ^ a b McCartney (2006), tr. 6.
- ^ Bagnasco (1977), tr. 110.
- ^ Akermann (2002), tr. 334.
- ^ a b c d e f g h i j k Helgason, Guðmundur. "HMS Spearfish (N 69) – Submarine of the S Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
- ^ Rohwer (2005), tr. 1.
- ^ "I Was There! – We Knew We Had Hit The 'Scheer'". The War Illustrated. ngày 3 tháng 5 năm 1940. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2011.
- ^ Helgason, Guðmundur. "HMS Spearfish (N 69) – British Submarine". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Submarine losses 1904 to present day". RN Submarine Museum, Gosport. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Hutchinson, Robert (2005). Submarines, War Beneath The Waves, From 1776 To The Present Day. Harper Paperback. ISBN 978-0060819002.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "HMS Spearfish (N 69) – Submarine of the S Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Spearfish (N 69) – British Submarine". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- Harrison, A. N. (tháng 1 năm 1979). "The Development of HM Submarines From Holland No. 1 (1901) to Porpoise (1930) (BR3043)". RN Subs. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2022.