HMS Thetis (N25)
HMS Thetis (N25)[Ghi chú 1] là một tàu ngầm lớp T thuộc Nhóm I, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1936 trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Thetis gặp tai nạn và đắm trong khi chạy thử máy vào ngày 1 tháng 6, 1939. Nguyên nhân của tai nạn là do cửa bên trong của một ống phóng ngư lôi vô tình mở ra trong khi cửa bên ngoài đã được mở, khiến ngập nước khoang ngư lôi không thể kiểm soát. Tai nạn đã khiến 99 người là thành viên thủy thủ đoàn, chuyên gia và công nhân xưởng tàu cùng các sĩ quan khác thiệt mạng, và chỉ có bốn người sống sót.[3]
| Tập tin:HMSM Thunderbolt.jpg Tàu ngầm HMS Thunderbolt đang hoạt động trong Thế Chiến II, năm 1940
| |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Thetis (N25) |
| Đặt tên theo | Thetis |
| Đặt hàng | 10 tháng 8, 1936 |
| Xưởng đóng tàu | Cammell Laird, Birkenhead |
| Đặt lườn | 21 tháng 12, 1936 |
| Hạ thủy | 29 tháng 6, 1938 |
| Nhập biên chế | 4 tháng 3, 1939 |
| Số phận | |
| Tên gọi | HMS Thunderbolt (N25) |
| Nhập biên chế | 26 tháng 10, 1940 |
| Số phận | Bị tàu corvette Ý Cicogna đánh chìm ngoài khơi Sicilia, 14 tháng 3, 1943 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp T |
| Kiểu tàu | tàu ngầm diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 276 ft 6 in (84,3 m)[1] |
| Sườn ngang | 25 ft 6 in (7,8 m) |
| Mớn nước |
|
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph) |
| Tầm hoạt động | 131 tấn nhiên liệu |
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m)[2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 59[1] |
| Vũ khí |
|
Sau khi được trục vớt và sửa chữa, chiếc tàu ngầm nhập biên chế trở lại năm 1940 như là chiếc HMS Thunderbolt, và đã phục vụ trong Thế Chiến II tại các khu vực Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Chiếc tàu ngầm đã thực hiện được mười lăm chuyến tuần tra, đánh chìm được một tàu chiến tải trọng 1.030 tấn cùng sáu tàu buôn và ba tàu chiến phụ trợ có tổng tải trọng 8.978 GRT; nó cũng đã gây hư hại cho một tàu buôn 300 GRT cùng một tàu chiến phụ trợ 180 GRT. Trong chuyến tuần tra sau cùng Thunderbolt bị tàu corvette Ý Cicogna đánh chìm ngoài khơi Sicilia vào ngày 14 tháng 3, 1943.[4]
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế
Lớp tàu ngầm T được thiết kế nhằm mục đích thay thế cho các các lớp Odin, Parthian và Rainbow. Chúng có trọng lượng choán nước 1.090 tấn Anh (1.107 t) khi nổi và 1.575 tấn Anh (1.600 t) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 276 ft 6 in (84,28 m), mạn tàu rộng 26 ft 6 in (8,08 m) và mớn nước sâu 14 ft 7 in (4,45 m). Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ, và con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m).[1]
Tàu ngầm lớp T được trang bị hai động cơ diesel có tổng công suất 2.500 mã lực phanh (1.864 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 725 mã lực (541 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15,25 hải lý trên giờ (28,24 km/h; 17,55 mph) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn dưới nước. Chúng có tầm xa hoạt động đến 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph).[1]
Thetis trang bị mười ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống bên trong và bốn ống bên ngoài, tất cả đều hướng ra phía trước, và mang theo tổng cộng 16 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng ba khẩu súng máy .303-calibre cho mục đích phòng không.[1]
Chế tạo
Thetis được đặt hàng vào ngày 10 tháng 8, 1936 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1936, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Cammell Laird ở Birkenhead vào ngày 21 tháng 12, 1936. Nó được hạ thủy vào ngày 29 tháng 6, 1938, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 4 tháng 3, 1939, dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Guy Howard Bolus.[4] Nó là chiếc tàu chiến thứ mười hai của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.[cần dẫn nguồn]
HMS Thetis
Sau khi hoàn tất, việc chạy thử máy bị chậm trễ do sự cố bánh lái ngang phía mũi bị kẹt. Thetis cuối cùng tiến hành lặn thử nghiệm trong vịnh Liverpool, có chiếc tàu kéo Grebe Cock tháp tùng, và thực hiện một đợt lặn lúc 14 giờ 00 ngày 1 tháng 6, 1939. Trên tàu có tổng cộng 103 người: ngoài 59 thành viên thủy thủ đoàn như thường lệ còn có chuyên gia và công nhân của các hãng đóng tàu Cammell Laird và Vickers-Armstrong, 8 sĩ quan thực tập, 7 sĩ quan giám sát thuộc Bộ Hải quân Anh, một hoa tiêu cùng những người khác.[3]
Chiếc tàu ngầm đã không đủ nặng để lặn xuống, nên bắt đầu quy trình kiểm tra mực nước trong các thùng chứa và thùng dằn, bao gồm nước ngập bên trong các ống phóng ngư lôi bên trong tàu. Đại úy Frederick Woods, sĩ quan ngư lôi của Thetis, đã mở các khóa van để kiểm tra, nhưng ống phóng số 5 đã không có nước mà nguyên nhân lại do khóa van bị kẹt do dính sơn. Do nhầm lẫn vị trí của khóa cửa với các ống phóng lân cận, cửa phía sau của ống phóng số 5 vô tình được mở trong khi cửa nắp phía mũi tàu đã mở sẵn, khiến làm ngập nước phòng ngư lôi. Phần mũi tàu nhanh chóng chìm xuống đến tận đáy biển ở độ sâu 150 ft (46 m).[3][5]
HMS Thunderbolt
1940
Sau khi được trục vớt và sửa chữa, chiếc tàu ngầm nhập biên chế trở lại cùng Hải quân Hoàng gia dưới tên gọi HMS Thunderbolt vào ngày 26 tháng 10, 1940, dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Cecil Crouch.[4] Nó là chiếc tàu chiến thứ tư của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.
Chuyến tuần tra thứ nhất
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland trong suất tháng 11, 1940, Thunderbolt xuất phát từ Holy Loch vào ngày 3 tháng 12 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động trong khu vực vịnh Biscay ngoài khơi cửa sông Gironde. Tại đây vào ngày 15 tháng 12, nó phóng ngư lôi tấn công và đánh chìm chiếc tàu ngầm Capitano Tarantini (1.030 tấn) của Hải quân Ý ở vị trí gần Bordeaux, tại tọa độ 45°25′B 01°22′T / 45,417°B 1,367°T. Thunderbolt kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Holy Loch vào ngày 21 tháng 12.[4]
1941
Chuyến tuần tra thứ hai
Thunderbolt khởi hành từ Holy Loch vào ngày 10 tháng 1, 1941 cho chuyến tuần tra thứ hai, và đã tiếp tục hoạt động tại khu vực vịnh Biscay. Nó được lệnh ngăn chặn chiếc tàu tuần dương hạng nặng Đức Admiral Hipper ngoài khơi Brest, nhưng không tìm thấy mục tiêu, và kết thúc chuyến tuần tra tại Holy Loch vào ngày 30 tháng 1.[4]
Chiếc tàu ngầm sau đó rời Holy Loch vào ngày 19 tháng 2 để hộ tống các đoàn tàu vận tải vượt Đại Tây Dương để đi sang Bắc Mỹ. Nó đi đến cảng Halifax, Canada vào ngày 5 tháng 3.[4]
Chuyến tuần tra thứ ba
Thunderbolt khởi hành từ Halifax vào ngày 10 tháng 3 cho chuyến tuần tra thứ ba, và đã hộ tống Đoàn tàu SC-25, trong một giai đoạn mà các thiết giáp hạm Đức Scharnhorst và Gneisenau tích cực đánh phá tàu bè Đồng Minh tại Bắc Đại Tây Dương. Thunderbolt tiếp tục hộ tống cho Đoàn tàu HX-115 đi đến Reykjavik, Iceland, rồi quay trở về Halifax vào ngày 7 tháng 4.[4]
Chuyến tuần tra thứ tư
Thunderbolt xuất phát từ Halifax vào ngày 29 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ tư, với nhiệm vụ hộ tống Đoàn tàu SC-30 đi đến một điểm giữa Bắc Đại Tây Dương. Nó tách khỏi đoàn tàu vào ngày 10 tháng 5 và quay trở về Halifax vào ngày 18 tháng 5.[4]
Chuyến tuần tra thứ năm
Thunderbolt lại khởi hành từ Halifax vào ngày 25 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ năm. Nó có nhiệm vụ canh phòng tại vị trí khoảng 50 nmi (93 km) về phía Đông Nam Newfoundland, sau khi thiết giáp hạm Bismarck và tàu tuần dương Prinz Eugen đột phá vào Đại Tây Dương. Sau khi Bismarck bị đánh chìm, chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Halifax vào ngày 31 tháng 5.[4]
Chuyến tuần tra thứ sáu
Thunderbolt tiếp tục xuất phát từ Halifax vào ngày 11 tháng 6 cho chuyến tuần tra thứ sáu, và hoạt động chống tàu ngầm tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương về phía Đông Nam Newfoundland. Vào ngày 15 tháng 6, nó đã phóng một loạt sáu quả ngư lôi tấn công tàu ngầm Đức U-557 nhưng không trúng đích. Thunderbolt kết thúc chuyến tuần tra tại Halifax vào ngày 28 tháng 6.[4]
Sau đó Thunderbolt di chuyển đến St. John's, Newfoundland, rồi lên đường vào ngày 8 tháng 7 và vượt Đại Tây Dương để đi sang Gibraltar. Trên đường đi vào ngày 18 tháng 7, nó chuyển hướng để cứu vớt những người sống sót từ chiếc tàu buôn Anh Guelma, vốn bị đắm do trúng ngư lôi từ tàu U-boat đối phương vào ngày hôm trước. Thunderbolt đi đến Gibraltar vào ngày 21 tháng 7.[4]
Thunderbolt rời Gibraltar vào ngày 1 tháng 8 để hướng sang khu vực Đông Địa Trung Hải. Nó có chặng dừng tại Malta từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 8 để chuyển giao hàng tiếp liệu, và đi đến Alexandria, Ai Cập vào ngày 18 tháng 8.[4]
Chuyến tuần tra thứ bảy
Thunderbolt xuất phát từ Alexandria vào ngày 29 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ bảy, và đã hoạt động trong vùng biển Địa Trung Hải tại khu vực vịnh Sirte. Tại đây vào ngày 7 tháng 9, nó phóng ngư lôi đánh chìm chiếc tàu vận tải Ý Sirena 974 GRT ở vị trí khoảng 50 nmi (93 km) về phía Tây Benghazi, Libya. Đến ngày 10 tháng 9, nó đánh chìm chiếc tàu tuần tra phụ trợ Ý V 224 / Svam I 388 GRT bằng hải pháo trong vịnh Sirte ngoài khơi Marsa el Auegia. Sang ngày hôm sau 11 tháng 9, nó lại phóng ngư lôi đánh chìm chiếc tàu vận tải Ý Livorno GRT 1829 ở vị trí khoảng 10 nmi (19 km) về phía Tây Bắc Benghazi. Đến ngày 14 tháng 9, nó phòng ba quả ngư lôi tấn công chiếc tàu vận tải Đức Tinos ở vị trí khoảng 30 nmi (56 km) về phía Tây Bắc Benghazi, nhưng không trúng đích. Thunderbolt kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Alexandria vào ngày 20 tháng 9. [4]
Chuyến tuần tra thứ tám
Thunderbolt khởi hành từ Alexandria vào ngày 5 tháng 10 cho chuyến tuần tra thứ tám để hoạt động tại khu vực biển Aegea. Vào ngày 9 tháng 10, nó đã cho đổ bộ một đội tình báo lên đảo Crete, rồi sang ngày hôm sau 10 tháng 10 đã bắn hải pháo đánh chìm thuyền buồm Ý Citta di Simi 25 GRT ở vị trí khoảng 12 nmi (22 km) về phía Đông Bắc mũi Sidero, Crete. Đến ngày 13 tháng 10, chiếc tàu ngầm lại cho đổ bộ hai nhóm tình báo lên bãi Marathon trong khuôn khổ Chiến dịch Fleshpots, rồi vào các ngày 15 và 18 tháng 10 đã phóng ngư lôi tấn công các đoàn tàu vận tải nhưng không thành công. Nó kết thúc chuyến tuần tra và đi đến Malta vào ngày 25 tháng 10.[4]
Chuyến tuần tra thứ chín
Sau khi được bảo trì tại Malta cho đến ngày 10 tháng 11, Thunderbolt xuất phát từ đây vào ngày 15 tháng 11 cho chuyến tuần tra thứ chín, và đã hoạt động tại khu vực biển Ionia. Vào ngày 25 tháng 11, nó đã đánh chìm tàu schooner Đức L VII 300 GRT bằng hải pháo ở vị trí ngoài khơi đảo Kythira, Hy Lạp. Nó quay trở về Alexandria vào ngày 8 tháng 12.[4]
Chuyến tuần tra thứ mười
Thunderbolt xuất phát từ Alexandria vào ngày 22 tháng 12 cho chuyến tuần tra thứ mười để hoạt động tại khu vực biển Ionia dọc bờ biển phía Tây của Hy Lạp. Tại đây vào ngày 2 tháng 1, 1942, nó đã gây hư hại cho chiếc tàu buôn Ý Anna Capano 1.216 GRT bằng hải pháo ngoài khơi Agostoli thuộc đảo Keffalonia, và chỉ hai ngày sau đó lại bắn hải pháo đánh chìm tàu quét mìn phụ trợ Ý R 195 / Nouvo San Pietro 32 GRT ngoài khơi đảo Keffalonia. Chiếc tàu ngầm quay trở về Alexandria vào ngày 9 tháng 1.[4]
1942
Chuyến tuần tra thứ mười một
Thunderbolt lại khởi hành từ Alexandria vào ngày 21 tháng 1 cho chuyến tuần tra thứ mười một, và tiếp tục hoạt động tại khu vực biển Ionia dọc bờ biển phía Tây Hy Lạp. Vào ngày 30 tháng 1, nó phóng ngư lôi tấn công tàu vận tải Đức Thessalia ở vị trí 7 nmi (13 km) về phía Tây mũi Dukato, Hy Lạp, nhưng trượt mục tiêu. Sang ngày 1 tháng 2, nó phóng ngư lôi đánh chìm chiếc tàu vận tải Ý Absirtea 4.170 GRT ở vị trí khoảng 4,4 nmi (8,1 km) ngoài khơi mũi Dukato. Hai ngày sau đó, nó bắn hải pháo và gây hư hại cho chiếc tàu săn ngầm phụ trợ Ý AS 80 / Lanciotto Piero 180 GRT ở vị trí ngoài khơi Gheregambe. Đến ngày 6 tháng 2, ở vị trí về phía Tây Nam Crete, nó phóng tám quả ngư lôi tấn công tàu ngầm U-431, và bị đối thủ phản công bằng một quả ngư lôi, nhưng không có quả nào trúng đích. Thunderbolt kết thúc chuyến tuần tra tại Alexandria vào ngày 9 tháng 2.[4]
Sau đó Thunderbolt rời Alexandria vào ngày 1 tháng 3 để quay trở về Anh cho một lượt đại tu. Nó ghé đến Malta vào ngày 7 tháng 3 để vận chuyển hàng tiếp liệu, rồi có chặng dừng tại Gibraltar từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 3 trước khi tiếp tục hành trình, và về đến Holy Loch vào ngày 27 tháng 3.[4]
Sau khi được đại tu tại Xưởng tàu Devonport từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 10, Thunderbolt đi đến Holy Loch vào giữa tháng 10 rồi đến Port HHZ vào cuối tháng 10 để huấn luyện cho hoạt động chuyên chở và phóng ngư lôi có người lái Chariot. Nó khởi hành từ đây vào ngày 10 tháng 11 để đi sang Malta. Con tàu mang theo ngư lôi Chariot trong thùng chứa đặt phía sau tháp chỉ huy, và không ghé đến Gibraltar do muốn giữ bí mật không để tình báo Ý khám phá ra mục đích của chuyến đi. Thunderbolt đi đến Malta vào ngày 28 tháng 11.[4]
1943
Chuyến tuần tra thứ mười hai
Thunderbolt xuất phát từ Malta vào ngày 29 tháng 12, 1942 cho chuyến tuần tra thứ mười hai để thực hiện Chiến dịch Principal tại khu vực Palermo, Sicilia. Vào ngày 2 tháng 1, 1943, nó đã thả hai ngư lôi có người lái Chariot tấn công cảng Palermo, đánh chìm chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ Ý Ulpio Traiano đang được đóng tại xưởng tàu ở Palermo. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra tại Malta vào ngày 6 tháng 1.[4]
Chuyến tuần tra thứ mười ba
Thunderbolt khởi hành từ Malta vào ngày 17 tháng 1 cho chuyến tuần tra thứ mười ba để thực hiện Chiến dịch Welcome tại khu vực Tripoli, Libya. Nó thả hai ngư lôi có người lái Chariot tấn công tàu bè trong cảng Tripoli vào ngày 18 tháng 1, rồi quay trở về Malta hai ngày sau đó.[4]
Chuyến tuần tra thứ mười bốn
Sau khi được bảo trì tại Malta vào cuối tháng 1, Thunderbolt lại xuất phát từ Malta vào ngày 5 tháng 2 cho chuyến tuần tra thứ mười bốn để hoạt động trong khu vực biển Adriatic. Vào ngày 8 tháng 2, nó bắn hải pháo và gây gây hư hại cho chiếc thuyền buồm Ý Maria Grazia Siliato khoảng 300 GRT ở vị trí khoảng 12 nmi (22 km) về phía Đông Brindisi, Ý. Hai ngày sau đó, nó phóng hai quả ngư lôi tấn công chiếc tàu vận tải Ý Totonno nhưng đều bị trượt. Sang ngày 13 tháng 2, nó lại dùng hải pháo đánh chìm chiếc tàu quét mìn phụ trợ Ý Số 12 / Mafalda 44 GRT ở vị trí ngoài khơi Croatia. Đến ngày 15 tháng 2, ba quả ngư lôi nhắm vào chiếc tàu chở hành khách Ý Sebenico đã không trúng đích. Vào ngày 19 tháng 2, nó gây hư hại nhẹ cho một tàu kéo và ba sà lan bằng hải pháo, rồi sang ngày hôm sau đã tiếp tục gây hư hại cho chiếc thuyền buồm Albania Villanzen Veli bằng hải pháo ngoài khơi Bari, nhưng buộc phải lặn xuống né tránh phản công từ các khẩu đội pháo bờ biển và tàu chiến đối phương.[6] Thunderbolt kết thúc chuyến tuần tra tại Malta vào ngày 24 tháng 2.[4]
Chuyến tuần tra thứ mười lăm
Thunderbolt khởi hành từ Malta vào ngày 9 tháng 3 cho chuyến tuần tra thứ mười lăm, để hoạt động trong vùng biển Tyrrhenum dọc bờ biển phía Bắc đảo Sicilia về phía Tây đảo Marettino. Vào ngày 12 tháng 3, chiếc tàu ngầm có thể đã tấn công một đoàn tàu vận tải Ý ở vị trí khoảng 6 nmi (11 km) về phía Đông mũi San Vito, Sicilia, khi chiếc tàu buôn Đức Esterel 3.100 GRT (nguyên của Pháp) trúng ngư lôi và là một tổn thất toàn bộ, nhưng không rõ ngư lôi đánh trúng được phóng từ máy bay hay tàu ngầm.[4]
Thunderbolt đã không quay trở về căn cứ, và được cho là đã mất với tổn thất toàn bộ thành viên thủy thủ đoàn tại vùng biển phía Bắc Sicilia, nhưng không thể biết chính xác hoàn cảnh cụ thể. Vào ngày 13 tháng 3, tàu phóng lôi Ý Libra phát hiện một mục tiêu ngầm dưới nước, nên đã thả bảy loạt mìn sâu tấn công tại tọa độ 38°17′B 12°57′Đ / 38,283°B 12,95°Đ, nhưng không biết chắc chắn kết quả. Đến ngày 14 tháng 3, tàu corvette Ý Cicogna lại thả mìn sâu đánh chìm một mục tiêu ngoài khơi Sicilia, tại tọa độ 38°14′B 12°42′Đ / 38,233°B 12,7°Đ. Do đó Thunderbolt có thể bị Libra hoặc Cicogna đánh chìm, hoặc có thể đắm do trúng thủy lôi hay một tai nạn nào khác.[4]
Tóm tắt chiến công
Thunderbolt đã đánh chìm được một tàu chiến tải trọng 1.030 tấn cùng sáu tàu buôn và ba tàu chiến phụ trợ có tổng tải trọng 8.978 GRT. Nó cũng đã gây hư hại cho một tàu buôn 300 GRT cùng một tàu chiến phụ trợ 180 GRT.[4]
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 2] | Số phận |
|---|---|---|---|---|
| 15 tháng 12, 1940 | Capitano Tarantini | Hải quân Ý | 1.030 | Bị đánh chìm |
| 7 tháng 9, 1941 | Sirena | Ý | 974 | Bị đánh chìm |
| 10 tháng 9, 1941 | V 224 / Svam I | Hải quân Ý | 388 | Bị đánh chìm |
| 11 tháng 9, 1941 | Livorno | Ý | 1.829 | Bị đánh chìm |
| 10 tháng 10, 1941 | Citta di Simi | Ý | 25 | Bị đánh chìm |
| 25 tháng 11, 1941 | L VII | Đức Quốc xã | 300 | Bị đánh chìm |
| 2 tháng 1, 1942 | Anna Capano | Ý | 1.216 | Bị đánh chìm |
| 4 tháng 1, 1942 | R 195 / Nouvo San Pietro | Hải quân Ý | 32 | Bị đánh chìm |
| 1 tháng 2, 1942 | Absirtea | Ý | 4.170 | Bị đánh chìm |
| 3 tháng 2, 1942 | AS 80 / Lanciotto Piero | Hải quân Ý | 180 | Bị hư hại |
| 8 tháng 2, 1942 | Maria Grazia Siliato | Ý | 300 | Bị hư hại |
| 13 tháng 2, 1942 | Số 12 / Mafalda | Hải quân Ý | 44 | Bị đánh chìm |
Tham khảo
Ghi chú
- ^ Tên được đặt theo nữ thần biển Thetis trong Thần thoại Hy Lạp
- ^ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- ^ a b c d e f g h i j k l m n Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2026.
- ^ Kemp (1990), tr. 22, 26.
- ^ a b c "Moments that shocked North Wales: The sinking of HMS Thetis in 1939". Daily Post. ngày 17 tháng 4 năm 2013.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y Helgason, Guðmundur. "HMS Thunderbolt (N 25) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2026.
- ^ Booth (2008).
- ^ Colombo, Lorenzo (ngày 26 tháng 12 năm 2017). "Brindisi". Con la pelle appesa a un chiodo (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Booth, Tony (2008). Thetis Down - The Slow Death of a Submarine. Pen & Sword Maritime. ISBN 978-1844158591.
- Caruana, Joseph (2012). "Emergency Victualling of Malta During WWII". Warship International. Quyển LXIX số 4. tr. 357–364. ISSN 0043-0374.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Hutchinson, Robert (2001). Jane's Submarines: War Beneath the Waves from 1776 to the Present Day. London: HarperCollins. ISBN 978-0-00-710558-8. OCLC 53783010.
- Kemp, Paul J. (1990). The T-class Submarine: The Classic British Design. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-826-7. OCLC 22575300.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Roberts, David (1999). HMS Thetis: Secrets and Scandal, Aftermath of a Disaster. Bebington: Avid Publications. ISBN 0-9521020-0-5. OCLC 58998174.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
- Roskill, Stephen Wentworth (1956). The War at Sea, 1939–1945: The Period of Balance. History of the Second World War; United Kingdom military series. London: H.M. Stationery Office. OCLC 236145.
- Warren, Charles Esme Thornton; Benson, James D. (1997) [1958]. Thetis: Disaster in Liverpool Bay: The Admiralty regrets. Bebington: Avid Publications. ISBN 0-9521020-8-0. OCLC 43201102.
Đọc thêm
- Freghieri, Cristina (2009). HMS Thunderbolt. Vissuto e morto due volte (bằng tiếng Ý). Addictions-Magenes Editoriale. ISBN 978-88-87376-45-6.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "T class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2026.
- Helgason, Guðmundur. "HMS Thunderbolt (N 25) – Submarine of the T Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2026.
- Report on the events surrounding the Thetis disaster of 2 June 1939 held at the National Archives of the United Kingdom
- HMS Thetis launch British Pathe newsreel 1938 Lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2011 tại Wayback Machine
- Maeshyfryd Cemetery Memorial in the Imperial War Museum register
- The Sinking of the Submarine HMS Thetis Ships Timbers Maritime museum page, with many photos
- HMS Thetis Roll of Honour