HQ-10
HQ-10 (giản thể: 红旗-10; phồn thể: 紅旗-10; bính âm: Hóng Qí-10; nghĩa đen 'Hồng Kỳ-10') là tên lửa đất đối không tầm ngắn do Tập đoàn Khoa học và Công nghệ Hàng không Vũ trụ Trung Quốc (CASC) phát triển, hiện trang bị trên các tàu của Hải quân Trung Quốc với vai trò hệ thống phòng thủ tầm gần.
| HHQ-10 / FL-3000N | |
|---|---|
| Tập tin:Type 056 corvette FL-3000N 8-round SAM launcher.jpg Hệ thống HHQ-10 với 8 ống phóng được trang bị trên tàu hộ tống Type 056 | |
| Loại | Hệ thống phòng thủ tầm gần dựa trên tên lửa đất đối không |
| Nơi chế tạo | Trung Quốc |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | Năm 2013 |
| Sử dụng bởi | Trung Quốc |
| Lược sử chế tạo | |
| Nhà sản xuất | Shanghai Academy of Spaceflight Technology (SAST) |
| Thông số | |
| Khối lượng | 20 kg |
| Chiều dài | 2 m |
| Đường kính | 127 mm |
| Đầu nổ | 3 kg chất nổ mạnh văng mảnh (HE FRAG) |
| Cơ cấu nổ | Ngòi nổ cận đích hồng ngoại |
| Động cơ | Động cơ tên lửa |
| Chất nổ đẩy đạn | Nhiên liệu rắn |
| Tầm hoạt động | 0,5 km tới 9 km |
| Độ cao bay | 1,5 m đến 6 km |
| Hệ thống chỉ đạo | Đầu dò hồng ngoại ảnh nhiệt (IIR) |
Phát triển
Hệ thống này lần đầu được triển khai là khoảng năm 2011, được trang bị trên tàu sân bay Liêu Ninh và tàu hộ tống Type 056.[1]
Thiết kế
HQ-10 được thiết kế với vai trò tương tự hệ thống RAM (Rolling Airframe Missile) của Mỹ, cả hai đều là hệ thống phòng thủ điểm tầm gần.
Tên lửa HQ-10 có chiểu dài khoảng 2 m và đường kính khoảng 0,12 m. Tên lửa có tầm bắn 9 km với mục tiêu cận âm và 6 km với mục tiêu bay siêu âm. Độ cao bay tối thiểu của tên lửa là 1,5 m.[2]
Hệ thống dẫn đường của tên lửa được cho là đầu dò ảnh nhiệt hồng ngoại IIR.[3] Ngoài ra phần đầu tên lửa có cấu trúc giống như ăng-ten có thể là đầu dò radar thụ động hoặc radar bán chủ động. Thông tin về đầu dò tên lửa chưa được công bố chính thức.
Tên lửa được triển khai trên tàu chiến linh hoạt theo từng tàu.[2] Các cấu hình phổ biến là mang 8, 15, 18, và 24 ống phóng. Thời gian phản ứng nhanh, có thể phóng tên lửa trong khoảng 10 giây.[1]
Các phiên bản
HQ-10 và HQ-10A là các tên gọi chung của tên lửa phòng thủ Hải quân Trung Quốc, được công bố lần đầu vào tháng 9 năm 2025.[4]
HHQ-10 là tên định danh của Quân đội Trung Quốc dành cho phiên bản triển khai trên tàu hải quân.
FL-3000N
FL-3000N là một loại tên lửa thường được sử dụng để thay thế HQ-10 trên các tàu chiến xuất khẩu, vì vậy nó thường được gọi là phiên bản xuất khẩu của HQ-10, mặc dù đây không phải là tên gọi chính thức. Trên thực tế, dù có nhiều điểm tương đồng, FL-3000N và HQ-10 không phải là cùng một loại tên lửa.
FL-3000N do Tập đoàn Khoa học và Công nghiệp Hàng không Vũ trụ Trung Quốc (CASIC) phát triển, với mục tiêu cạnh tranh trực tiếp với HQ-10 của Tập đoàn Khoa học và Công nghệ Hàng không Vũ trụ Trung Quốc (CASC). Trong quá trình lựa chọn, FL-3000N đã không giành được hợp đồng, và sau đó được cấp phép xuất khẩu, từ đó dần trở thành phương án thay thế mang tính “thực tế” cho HQ-10 trên thị trường quốc tế.[3]
Giữa hai hệ thống này tồn tại một số khác biệt đáng chú ý. Cánh của tên lửa FL-3000N có dạng tam giác, trong khi HQ-10 sử dụng cánh hình chữ nhật. Dù cả hai đều có cấu hình bệ phóng tối đa 24 quả, thiết kế tổng thể của bệ phóng và cách bố trí tên lửa có sự khác biệt nhất định.
Về hệ dẫn đường, FL-3000N sử dụng hệ thống kết hợp giữa dẫn đường hồng ngoại ảnh nhiệt (ImIR) và radar sóng milimet (MMW). Ở phần đầu tên lửa có hai cấu trúc giống như “sừng”, thực chất là các đầu dò radar thụ động. Ngoài ra, hệ thống cũng có tùy chọn chỉ sử dụng dẫn đường hồng ngoại, và tên lửa hoạt động theo nguyên tắc “bắn và quên”.
Hệ thống điều khiển hỏa lực của FL-3000N có thể điều khiển đồng thời hai bệ phóng, đồng thời có thể tích hợp với các hệ thống điều khiển khác trên tàu hoặc nhận điều khiển trực tiếp từ chúng. Trong điều kiện thông thường, hệ thống vận hành hoàn toàn tự động mà không cần can thiệp của con người, nhưng vẫn có thể chuyển sang điều khiển thủ công khi cần thiết.[3]
Đối với các tàu chiến cỡ lớn, hệ thống có thể trang bị thêm kho đạn dự trữ với cơ chế nạp tự động nếu không gian cho phép. Ngược lại, trên các tàu nhỏ hơn, kho đạn bổ sung này thường bị loại bỏ và việc nạp đạn được thực hiện thủ công. Để phù hợp với không gian hạn chế, FL-3000N còn có các biến thể bệ phóng nhỏ hơn như loại 8 ống, bệ phóng bốn ống, và thậm chí cả bệ phóng đơn có thể lắp trên các giá pháo hải quân hiện có.
Triển khai
Phiên bản hải quân HHQ-10 hiện đang được triển khai trên nhiều tàu chiến của Hải quân Trung Quốc, bao gồm các tàu hộ tống Type 056, khinh hạm Type 054, các tàu khu trục Type 956E (sau nâng cấp), khu trục hạm Type 052D, khu trục hạm Type 055, cũng như tàu sân bay Liêu Ninh và tàu sân bay Sơn Đông. Trong tương lai, hệ thống này cũng dự kiến được trang bị trên các tàu tấn công đổ bộ Type 075.
Đối với FL-3000N, hệ thống này đã được xuất khẩu sang một số quốc gia như Bangladesh và Nigeria, nơi nó được sử dụng như một hệ thống phòng thủ tầm gần trên các tàu chiến do Trung Quốc đóng hoặc cung cấp.
Các nước trang bị
- Algeria
- Tập tin:Flag of the People's Republic of China.svg Trung Quốc[5]:261–262
- Bangladesh
- FL-3000N[5]
- Nigeria
- FL-3000
Tham khảo
- ^ a b "China unveils new missile defence system". Rediff.
- ^ a b "HHQ-10 - Naval short-range air defense system". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2020.
- ^ a b c KENHMANN, Henri (ngày 27 tháng 2 năm 2017). "Et si le Mistral égyptien se dote du FL-3000N chinois ?".
- ^ "PHOTOS: China's military parade reveals new hypersonic missiles, drone submarines and ICBMs". PBS. ngày 3 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.
- ^ a b International Institute for Strategic Studies (2020). "Chapter Six: Asia". The Military Balance. 120 (1): 255. doi:10.1080/04597222.2020.1707967. S2CID 219627149.