Hiệp ước Hai Cộng Bốn
Hiệp ước về Giải pháp cuối cùng đối với nước Đức (tiếng Đức: Vertrag über die abschließende Regelung in Bezug auf Deutschland),[a] thường được gọi là Hiệp ước Hai Cộng Bốn (Zwei-plus-Vier-Vertrag),[b] là một hiệp ước quốc tế được ký vào tháng 10 năm 1990, cho phép tái thống nhất nước Đức, thay thế Hiệp định Potsdam. Các bên tham gia hiệp ước gồm có Tây Đức, Cộng hòa Dân chủ Đức và bốn cường quốc Đồng Minh chiếm đóng Đức vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu: Pháp, Liên Xô, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Theo hiệp ước, bốn cường quốc Đồng Minh từ bỏ tất cả các quyền đối với Đức, cho phép hai nhà nước Đức tái thống nhất thành một quốc gia có chủ quyền hoàn toàn.[1][2][3] Ngoài ra, hai nhà nước Đức xác nhận lại biên giới hiện có với Ba Lan theo Hiệp ước Biên giới Đức-Ba Lan, chấp nhận rằng lãnh thổ Đức sau khi tái thống nhất sẽ chỉ bao gồm những lãnh thổ thuộc quản lý của Tây Đức và Cộng hòa Dân chủ Đức và từ bỏ tất cả yêu sách đối với những lãnh thổ phía đông cũ của Đức bao gồm Đông Phổ, phần lớn Silesia và các phần phía đông của Brandenburg và Pomerania.
| Ngày thảo | 13 tháng 2 năm 1990 |
|---|---|
| Ngày kí | 12 tháng 9 năm 1990 |
| Nơi kí | Moskva, CHXHCNXVLB Nga, Liên Xô |
| Ngày đưa vào hiệu lực | 15 tháng 3 năm 1991 |
| Bên kí | |
| Bên tham gia | |
| Người gửi lưu giữ | Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức |
| Ngôn ngữ | |
Bối cảnh
Ngày 1 tháng 8 năm 1945, Hội nghị Potsdam thông qua Hiệp định Potsdam, quyết định vấn đề chiếm đóng Đức sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Hiệp định quy định giới tuyến Oder-Neisse là đường biên giới tạm thời giữa Đức và Ba Lan và trao phần lớn các lãnh thổ phía đông cũ của Đức cho Ba Lan và Liên Xô. Người Đức ở những khu vực này bỏ chạy hoặc bị trục xuất. Năm 1950, Cộng hòa Dân chủ Đức ký Hiệp ước Zgorzelec với Ba Lan, chính thức chấp nhận giới tuyến Oder-Neisse là đường biên giới chính thức. Tuy nhiên, Tây Đức ban đầu tuyên bố hiệp ước là "vô hiệu" theo Học thuyết Hallstein và không công nhận đường biên giới mới. Năm 1970, Tây Đức ký Hiệp ước Warszawa với Ba Lan, chấp nhận giới tuyến Oder-Neisse là đường biên giới tạm thời cho đến khi "một giải pháp hòa bình về Đức được Chính phủ Đức chấp nhận khi một chính phủ đủ năng lực được thành lập" theo Hiệp định Potsdam. "Vấn đề Đức" là một trong những vấn đề nổi bật và quan trọng trong Chiến tranh Lạnh. Cho đến cuối thập niên 1980, tiến trình thành lập một chính phủ toàn Đức đủ năng lực để đạt được giải pháp cuối cùng vẫn còn rất hạn chế. Về một số khía cạnh (chủ yếu về mặt kỹ thuật), Đức không có chủ quyền hoàn toàn.[4]:42–43
Cuộc Cách mạng Hòa bình tại Cộng hòa Dân chủ Đức khiến Bức tường Berlin sụp đổ và Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức tan rã. Trong cuộc trò chuyện với Mikhail Sergeyevich Gorbachyov vào ngày 9 tháng 2 năm 1990 tại Moskva, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ James Baker ủng hộ tiến hành các cuộc đàm phán tái thống nhất nước Đức. Theo Nga và ghi chú của Baker, Baker cam kết NATO sẽ không mở rộng về phía đông "không một inch",[5][6][7] tức là nửa phía tây của nước Đức thống nhất sẽ tiếp tục là một phần của NATO nhưng nửa phía đông thì không. Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ chỉ ra rằng điều đó là bất khả thi. Cam kết sau đó được thu hẹp lại rằng NATO sẽ không đóng quân ở Đông Đức.[7]
Trong cuộc tổng tuyển cử Cộng hòa Dân chủ Đức năm 1990, một liên minh các đảng ủng hộ tái thống nhất nước Đức thắng cử.[4]:229–232[8][c] Để đạt được sự tái thống nhất và chủ quyền hoàn toàn, cả hai nhà nước Đức đều sẵn sàng chấp nhận các điều khoản của Hiệp định Potsdam về Đức.[4] Ngày 31 tháng 8 năm 1990, Tây Đức và Cộng hòa Dân chủ Đức ký Hiệp ước Thống nhất về cách thức, các chi tiết của việc Cộng hòa Dân chủ Đức gia nhập Tây Đức. Sau đó, tất cả các bên có thể bắt đầu đàm phán một giải pháp cuối cùng.[4]
Nội dung
Hiệp ước Hai Cộng Bốn được ký tại Moskva vào ngày 12 tháng 9 năm 1990,[4]:363 mở đường cho sự tái thống nhất nước Đức vào ngày 3 tháng 10 năm 1990.[9] Theo các điều khoản của hiệp ước, bốn nước chiếm đóng từ bỏ tất cả các quyền đối với Đức, bao gồm những quyền liên quan đến Berlin[4] Tây Đức và Cộng hòa Dân chủ Đức ký hiệp ước với tư cách là các quốc gia có chủ quyền riêng biệt, sau đó Cộng hòa Liên bang Đức thống nhất phê chuẩn hiệp ước. Sau khi nộp văn kiện phê chuẩn cuối cùng, Đức trở thành một quốc gia có chủ quyền hoàn toàn vào ngày 15 tháng 3 năm 1991, khi hiệp ước có hiệu lực.
Liên minh
Hiệp ước cho phép Đức thành lập, tham gia các liên minh mà không có ảnh hưởng nước ngoài đến chính trị đối nội. Tuy nhiên, Thủ tướng Tây Đức Helmut Kohl không hề giấu giếm rằng nước Đức thống nhất sẽ kế thừa tư cách thành viên của Tây Đức trong NATO và Các cộng đồng châu Âu.[10]
Quân đội và vũ khí hạt nhân
Tất cả các lực lượng Liên Xô đóng tại Đức phải rút quân vào cuối năm 1994. Trước khi Liên Xô rút quân, Đức chỉ triển khai các đơn vị phòng thủ lãnh thổ không được tích hợp vào cấu trúc liên minh. Lực lượng Đức ở phần còn lại của Đức được bố trí tại các khu vực nơi lực lượng Liên Xô đóng quân. Sau khi Liên Xô rút quân, Đức có thể tự do triển khai quân đội ở những khu vực đó, ngoại trừ vũ khí hạt nhân. Trong thời gian Liên Xô đóng quân, lực lượng Khối Đồng Minh sẽ tiếp tục đóng quân tại Berlin theo yêu cầu của Đức.[4]
Đức cam kết giảm quân số xuống dưới 370.000 quân nhân, trong đó không quá 345.000 quân nhân thuộc Lục quân và Không quân. Những giới hạn này bắt đầu có hiệu lực khi Hiệp ước về Lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu có hiệu lực. Hiệp ước cũng quy định các bên tham gia đàm phán khác dự kiến sẽ "đóng góp vào việc tăng cường an ninh và ổn định ở châu Âu, bao gồm các biện pháp hạn chế quân số".[11] Đức tái khẳng định việc từ bỏ sản xuất, sở hữu, kiểm soát vũ khí hạt nhân, sinh học và hóa học. Nước Đức thống nhất tiếp tục tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Nước ngoài không được bố trí, triển khai lực lượng vũ trang, vũ khí hạt nhân hoặc phương tiện mang vũ khí hạt nhân tại sáu bang (khu vực Berlin và Cộng hòa Dân chủ Đức cũ) cấu thành một khu vực phi vũ khí hạt nhân. Quân đội Đức có thể triển khai các hệ thống vũ khí thông thường với khả năng phi thông thường nếu được trang bị và thiết kế cho vai trò hoàn toàn thông thường. Đức cũng cam kết chỉ sử dụng quân đội theo Hiến chương Liên Hợp Quốc.[4]
Lãnh thổ
Đức xác nhận đường biên giới được quốc tế công nhận với Ba Lan, những thay đổi lãnh thổ khác kể từ năm 1945 và từ bỏ tất cả yêu sách lãnh thổ về phía đông giới tuyến Oder–Neisse. Hiệp ước quy định lãnh thổ của nước Đức thống nhất gồm lãnh thổ của Cộng hòa Dân chủ Đức, Tây Đức và Berlin. Đức cũng đồng ý ký một hiệp ước riêng với Ba Lan tái xác nhận đường biên giới chung. Ngày 14 tháng 11 năm 1990, Đức ký kết Hiệp ước Biên giới Đức-Ba Lan.[4]
Sau khi tái thống nhất, Đức sửa đổi Điều 23 Luật cơ bản, bãi bỏ điều khoản cho phép "những phần khác của Đức" gia nhập Đức. Năm 1992, nội dung Điều 23 được thay thế bằng nội dung hội nhập Liên minh châu Âu và thiết lập các quy tắc cơ bản cho việc chuyển giao chủ quyền ở cấp độ châu Âu. Lời mở đầu và Điều 146 Luật cơ bản được sửa đổi để xác định rằng Luật cơ bản bao gồm "toàn bộ dân tộc Đức" và phạm vi áp dụng của Luật cơ bản bao gồm 16 bang của Đức. Tuy nhiên, Luật cơ bản không đề cập cụ thể đến các chi tiết hoặc tính cuối cùng của phạm vi lãnh thổ của Đức.
Thi hành
Nga rút quân khỏi Đức
Sau khi Liên Xô giải thể, Nga tiếp quản Nhóm Lực lượng Liên Xô đóng tại Đức. Đức công nhận Nga là nước thừa kế của Liên Xô, bao gồm quyền đóng quân tại Đức cho đến cuối năm 1994. Tuy nhiên, do những khó khăn kinh tế nghiêm trọng, Tổng thống Nga Boris Yeltsin ra lệnh giảm lực lượng tại Đức xuống mức thấp hơn đáng kể so với mức hiệp ước cho phép. Nga rút quân hoàn toàn khỏi Đức vào ngày 31 tháng 8 năm 1994, bốn tháng trước thời hạn của hiệp ước.[12]
Giảm quân số
Vào đầu thế kỷ 21, Bundeswehr chuyển đổi dần dần thành một lực lượng chuyên nghiệp hoàn toàn. Ngày 1 tháng 7 năm 2011, Đức đình chỉ chế độ quân dịch bắt buộc. Khi đó, Bundeswehr chỉ có 250.000 quân nhân tại ngũ, bằng khoảng hai phần ba giới hạn quân số theo hiệp ước. Năm 2025, số lượng quân nhân tại ngũ của Bundeswehr giảm xuống dưới 183.000 quân nhân.[13] Sau khi Nga xâm lược Ukraina vào năm 2022, chính phủ Đức công bố mục tiêu tăng mạnh ngân sách quốc phòng, tuy chỉ tăng vừa phải tổng số quân nhân tại ngũ lên 260.000 quân nhân,[14] vẫn thấp hơn nhiều so với giới hạn của hiệp ước.
Diễn biến về sau
NATO và Khối Warszawa ký Hiệp ước về Lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu vào năm 1990. Năm 1991, Hiệp ước Hiến chương Năng lượng được ký kết, thiết lập khuôn khổ hợp tác xuyên biên giới đa phương trong công nghiệp năng lượng, chủ yếu là nhiên liệu hóa thạch; Nga sau đó hoãn phê chuẩn Hiệp ước Hiến chương Năng lượng cho đến khi Nghị định thư chuyển tiếp của Hiệp ước Hiến chương Năng lượng được thông qua. Năm 1994, Nga, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ ký Giác thư Budapest, cam kết đảm bảo an ninh cho Belarus, Kazakhstan và Ukraina nếu ba nước này giao nộp kho vũ khí hạt nhân kế thừa từ Liên Xô. Năm 1997, NATO và Nga ký kết Hiệp ước Thành lập Nga-NATO, công nhận quyền gia nhập liên minh của mỗi nước.[15] Từ năm 1999 đến năm 2024, 16 nước châu Âu gia nhập NATO.
Quan hệ NATO–Nga xấu đi nhanh chóng sau Cách mạng Cam ở Ukraina. Tháng 12 năm 2006, Nga cho biết việc phê chuẩn Hiệp ước Hiến chương Năng lượng khó có thể xảy ra do các điều khoản yêu cầu bên thứ ba tiếp cận các đường ống dẫn của Nga. Năm 2007, Nga đình chỉ tham gia Hiệp ước về Lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu. Sau khi Kosovo tuyên bố độc lập lần thứ hai năm 2008 và được một số nước phương Tây công nhận một phần, Nga phát động Chiến tranh Nam Ossetia vào tháng 8 năm 2008. Ngày 20 tháng 8 năm 2009, Nga chính thức thông báo sẽ không gia nhập Hiệp ước Hiến chương Năng lượng.[16] Ngày 1 tháng 4 năm 2014, NATO đình chỉ mọi hoạt động hợp tác với Nga sau khi Nga sáp nhập Krym, nhưng duy trì Hội đồng NATO-Nga.[17] Năm 2015, Nga chấm dứt tham gia Hiệp ước về Lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu. Ngày 18 tháng 2 năm 2017, Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergey Lavrov cho biết ông ủng hộ việc nối lại hợp tác quân sự với NATO.[18] Tháng 3 năm 2017, Hội đồng NATO-Nga họp trước thềm hội nghị các bộ trưởng ngoại giao NATO tại Bruxelles, Bỉ.[19]
Sau khi Nga xâm lược Ukraina vào năm 2022, NATO coi Hiệp ước Thành lập là bị Nga hủy bỏ hoàn toàn. Tại hội nghị thượng đỉnh NATO Madrid năm 2022, Nga bị coi là "mối đe dọa trực tiếp" đối với an ninh châu Âu - Đại Tây Dương.[20][21] Trong cùng năm, Nga rút khỏi Công ước châu Âu về Nhân quyền và bị trục xuất khỏi Ủy hội châu Âu.[22]
Sự mở rộng của NATO
Hiệp ước không đề cập đến khả năng gia nhập NATO của bất cứ nước nào khác.[23] Năm 2008, Mikhail Gorbachyov[24] khẳng định rằng Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ James Baker đã cam kết NATO sẽ không mở rộng "một inch về phía đông", mà theo ông có nghĩa là NATO sẽ không mở rộng đến Đông Âu.[25] Tuy nhiên, hiệp ước không có nội dung này, không có bên nào đề xuất hoặc yêu cầu bổ sung nội dung này vào hiệp ước và không có bản ghi âm hoặc biên bản nào về bình luận của Baker. Năm 2014, Gorbachyov nói rằng cam kết của Baker chỉ liên quan đến Đông Đức và NATO đã duy trì thỏa thuận.[21][26][27] Eduard Shevardnadze, trợ lý chính của Gorbachyov trong quá trình đàm phán, xác nhận rằng NATO không đưa ra bất kỳ cam kết nào như vậy về Đông Âu và sự mở rộng của NATO không được đề cập trong các cuộc đàm phán về tái thống nhất nước Đức.[28][29] Vào thời điểm đó, tất cả các nước được đề cập vẫn là thành viên Khối Warszawa và có các đơn vị đồn trú lớn của Liên Xô.[30][31] Gorbachyov và Boris Yeltsin cho rằng việc NATO kết nạp các nước như Ba Lan vi phạm tinh thần của các thỏa thuận trước đó.[26][32][33]
Xem thêm
Ghi chú
- ^ tiếng Pháp: Traité sur le règlement final en ce qui concerne l'Allemagne; tiếng Nga: Договор об окончательном урегулировании в отношении Германии, đã Latinh hoá: Dogovor ob okonchatel'nom uregulirovanii v otnoshenii Germanii
- ^ tiếng Pháp: Accord Deux Plus Quatre; tiếng Nga: Соглашение «Два плюс четыре», đã Latinh hoá: Soglasheniye «Dva plyus chetyre»
- ^ Điều 23 Luật cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức từng quy định một cơ chế thống nhất như vậy.
Tham khảo
- ^ Federal Republic of Germany (ngày 12 tháng 9 năm 1990). "Treaty on the Final Settlement with Respect to Germany". United Nations.
- ^ "Treaty on the Final Settlement with Respect to Germany". Foothill College. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2026.
- ^ Hailbronner, Kay. "Legal Aspects of the Unification of the Two German States" (PDF). European Journal of International Law.
- ^ a b c d e f g h i Zelikow, Philip; Rice, Condoleezza (1997). Germany Unified and Europe Transformed: A Study in Statecraft. Harvard University Press. ISBN 9780674353251.
- ^ Savranskaya, Svetlana; Blanton, Tom (ngày 12 tháng 12 năm 2017). "NATO Expansion: What Gorbachev Heard". National Security Archive. George Washington University. Briefing Book 613.
- ^ Majumdar, Dave (ngày 12 tháng 12 năm 2017). "Newly Declassified Documents: Gorbachev Told NATO Wouldn't Move Past East German Border". The National Interest. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
- ^ a b Sarotte, Mary Elise (September–October 2014), "A Broken Promise: What the West Really Told Moscow about NATO Expansion", Foreign Affairs, quyển 93 số 5, tr. 90–97, JSTOR 24483307
- ^ Charles S. Maier, Dissolution: The Crisis of Communism and the End of East Germany (Princeton University Press, 1997). ISBN 978-0691007465, pp. 211–214.
- ^ "The Two plus Four Treaty". Federal Foreign Office (Germany). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2013.
- ^ Costigliola, Frank (1994). "An 'Arm around the Shoulder': The United States, NATO and German Reunification, 1989-90". Contemporary European History. 3 (1): 99. doi:10.1017/S0960777300000643. ISSN 0960-7773. JSTOR 20081501.
- ^ "Treaty on the Final Settlement with Respect to Germany (two plus four)". ngày 12 tháng 9 năm 1990. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2014 – qua U.S. Diplomatic Mission to Germany.
- ^ Atkinson, Rick (ngày 1 tháng 9 năm 1994). "RUSSIAN TROOPS LEAVE GERMANY". The Washington Post (bằng tiếng Anh). ISSN 0190-8286. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
- ^ "Aktuelle Personalzahlen der Bundeswehr [Current personnel numbers of the Federal Defence]". Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2025.
- ^ "Was sehen die Pläne für den Wehrdienst vor? [What are the plans for the military service?]". Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
- ^ NATO. "Founding Act on Mutual Relations, Cooperation and Security between NATO and the Russian Federation". NATO.
- ^ "Arbitration Panel Holds That the 1994 Energy Charter Treaty Protects Foreign Energy Sector Investments in Former Soviet Union". Skadden, Arps, Slate, Meagher & Flom. ngày 5 tháng 2 năm 2010. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2010.
- ^ "NATO-Russia Relations: The Background" (PDF). NATO. tháng 3 năm 2020. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2021.
- ^ "Lavrov Says Russia Wants Military Cooperation With NATO, 'Pragmatic' U.S. Ties". Radio Free Europe/Radio Liberty. ngày 18 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2021.
- ^ Barnes, Julian E., "Russian, NATO Diplomats Discuss Military Deployments in Baltic Sea Region" (cần đăng ký mua), The Wall Street Journal, 30 March 2017. Retrieved 30 March 2017.
- ^ "NATO brands Russia the biggest 'direct threat' to Western security, as it eyes off 'serious challenges' posed by China". ABC News. ngày 30 tháng 6 năm 2022.
- ^ a b Kellerhoff, Sven Felix (ngày 18 tháng 2 năm 2022). "Archivfund: Was die Notiz über die Nato-Osterweiterung bedeutet". Die Welt (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2022.
- ^ "The Russian Federation is excluded from the Council of Europe". www.coe.int (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2026.
- ^ Robert B. Zoellick (ngày 22 tháng 9 năm 2000). "Two plus four: The lessons of German unification". The National Interest. 61: 17–28.
- ^ Blomfield, Adrian; Smith, Mike (ngày 6 tháng 5 năm 2008). "Gorbachev: US could start new Cold War". The Daily Telegraph. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2022.
- ^ "Memorandum of conversation between Baker, Shevardnadze and Gorbachev". National Security Archive. George Washington University. ngày 9 tháng 2 năm 1990. Briefing Book 613. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2022.
- ^ a b Kórshunov, Maxim (ngày 16 tháng 10 năm 2014). "Mikhail Gorbachev: I am against all walls". Russia Beyond. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2022.
- ^ Eckel, Mike (ngày 19 tháng 5 năm 2021). "Did The West Promise Moscow That NATO Would Not Expand? Well, It's Complicated". Radio Free Europe. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2022.
- ^ Kramer, Mark; Shifrinson, Joshua R. Itzkowitz (ngày 1 tháng 7 năm 2017). "NATO Enlargement—Was There a Promise?". International Security. 42 (1): 186–192. doi:10.1162/isec_c_00287. ISSN 0162-2889. S2CID 57571871.
- ^ Kramer, Mark (ngày 1 tháng 4 năm 2009). "The Myth of a No-NATO-Enlargement Pledge to Russia" (PDF). The Washington Quarterly. 32 (2): 39–61. doi:10.1080/01636600902773248. ISSN 0163-660X. S2CID 154322506.
- ^ Steven Pifer (ngày 6 tháng 11 năm 2014). "Did NATO Promise Not to Enlarge? Gorbachev Says 'No'". Brookings Institution.
- ^ Jack Matlock (ngày 3 tháng 4 năm 2014). "NATO Expansion: Was There A Promise?". JackMatlock.com.
- ^ Wiegrefe, Klaus (ngày 15 tháng 2 năm 2022). "NATO's Eastward Expansion: Is Vladimir Putin Right?". Der Spiegel. ISSN 2195-1349. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2022.
- ^ Kórshunov, Maxim (ngày 16 tháng 10 năm 2014). "Mikhail Gorbachev: I am against all walls". Russia Beyond the Headlines. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2022.
The topic of 'NATO expansion' was not discussed at all, and it wasn't brought up in those years. I say this with full responsibility. Not a single Eastern European country raised the issue, not even after the Warsaw Pact ceased to exist in 1991. Western leaders didn't bring it up, either. Another issue we brought up was discussed: making sure that NATO's military structures would not advance and that additional armed forces from the alliance would not be deployed on the territory of the then-GDR after German reunification. Baker's statement, mentioned in your question, was made in that context. Kohl and [German Vice Chancellor Hans-Dietrich] Genscher talked about it. Everything that could have been and needed to be done to solidify that political obligation was done. And fulfilled. The agreement on a final settlement with Germany said that no new military structures would be created in the eastern part of the country; no additional troops would be deployed; no weapons of mass destruction would be placed there. It has been observed all these years. So don't portray Gorbachev and the then-Soviet authorities as naïve people who were wrapped around the West's finger. If there was naïveté, it was later, when the issue arose. Russia at first did not object. The decision for the U.S. and its allies to expand NATO into the east was decisively made in 1993. I called this a big mistake from the very beginning. It was definitely a violation of the spirit of the statements and assurances made to us in 1990. With regards to Germany, they were legally enshrined and are being observed.
Đọc thêm
- Trachtenberg, Marc (tháng 1 năm 2021). "The United States and the NATO Non-extension Assurances of 1990: New Light on an Old Problem?". International Security (bằng tiếng Anh). 45 (3): 162–203. doi:10.1162/isec_a_00395. ISSN 0162-2889. and online commentary on H-DIPLO 2021
- Sarotte, M. E. (2021). Not one inch: America, Russia, and the making of post-Cold War stalemate. The Henry L. Stimson lectures series. New Haven: Yale University Press. ISBN 978-0-300-25993-3.
Liên kết ngoài
- Toàn văn Hiệp ước bằng tiếng Anh (PDF format; Published by Her Majesty's Stationery Office on the Foreign and Commonwealth Office website)
- Toàn văn Hiệp ước bằng tiếng Anh (HTML format; Published by U.S. Diplomatic Mission to Germany)