Hi phi
Hi phi Sát Cáp Lạp thị (chữ Hán: 禧妃察哈拉氏; 1 tháng 9 năm 1842 - 16 tháng 5 năm 1877), cũng viết là Sát Cáp Nhĩ thị (察哈尔氏). Là một phi tần của Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế. Bà là một trong Tứ Xuân nương nương trong hậu cung Hàm Phong, có phong hiệu Hải Đường Xuân (海棠春).
| Thanh Văn Tông Hi phi 清文宗禧妃 | |
|---|---|
| Hàm Phong Đế Phi | |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 1 tháng 9 năm 1842 |
| An táng | Phi viên tẩm của Định lăng (景陵) |
| Phối ngẫu | Thanh Văn Tông Hàm Phong Hoàng đế |
| Tước hiệu | Cung nữ tử (宮女子) Hi Quý nhân (禧贵人) Hoàng khảo Hi tần (禧嬪) Hoàng khảo Hi phi (皇考禧妃) |
| Thân phụ | Thường Thuận |
Thân thế
Hi phi sinh ngày mồng 1 tháng 9 năm Đạo Quang thứ 22 (1842), xuất thân từ họ Sát Cáp Lạp thị (察哈拉氏) thuộc Chính Hoàng kỳ Bao y của Nội vụ phủ. Thời Thanh, họ Sát Cáp Lạp thị cũng viết là Sát Cáp Nhĩ thị (察哈尔氏), nguồn gốc từ bộ lạc Sát Cáp Nhĩ (察哈尔部) Mông Cổ, người nổi danh nhất trong họ này chính là danh môn Văn Sách (文索) của Nội vụ phủ giai đoạn trung hậu kỳ thời Thanh. Tuy nhiên, gia tộc của Hi phi tuy cùng là họ Sát Cáp Lạp thị thuộc Chính Hoàng kỳ Bao y Quản lĩnh, nhưng lại không nằm trong cùng một Quản lĩnh, cũng không phải là người cùng tộc.
Căn cứ theo hồ sơ, Hi phi là “con gái của Thường Thuận thuộc Chính Hoàng kỳ Thụy Phổ Quản lĩnh hạ”[1]. Dùng thông tin này tra cứu hồ sơ Nội vụ phủ, tra được cái gọi là “Thụy Phổ Quản lĩnh” (瑞溥管领) chính là Chính Hoàng kỳ Bao y Đệ tam Tham lĩnh Đệ lục Quản lĩnh (正黄旗包衣第三参领第六管领). Tra cứu sâu thêm hồ sơ hộ tịch dưới Quản lĩnh này, phát hiện gia tộc xuất thân của Hi phi là thực khẩu lương nhân (食口粮人) trong Quản lĩnh này, tức là người Tân giả khố (辛者库). Do đó, Hi phi là một trong số ít hậu cung chủ vị hiện được biết đến có xuất thân từ kỳ tịch Tân giả khố vào giai đoạn trung hậu kỳ thời Thanh.
Căn cứ theo ghi chép trong hồ sơ hộ tịch, cha của Hi phi tên là Thường Thuận (常顺), là Nội vụ phủ trù dịch (内务府厨役), đã bệnh qua đời vào những năm đầu Quang Tự. Cái gọi là trù dịch, là một loại tạp sai của Nội vụ phủ, tiền lương tháng khoảng một lượng hoặc hai lượng không đồng nhất. Ông nội của Hi phi tên là Nhị Đạt Tái (二达塞), là Phi giáp nhân của Nội vụ phủ. Cụ nội tên là Hắc Tử (黑子), cũng là Phi giáp nhân của Nội vụ phủ. Các bác, chú của Hi phi lần lượt tên là Thường Hải (常海), Thường Hưng (常兴), Thường Lộc (常禄), phần lớn cũng là Phi giáp nhân của Nội vụ phủ.
Nhất tộc của Hi phi không có người đảm nhận chức quan, đều thuộc hạng binh đinh, tạp sai trong kỳ, tuy nhiên tình hình bổ khuyết khá khả quan, bảy phần nam đinh đều có thể bổ được sai sự, tuy là xuất thân Tân giả khố nhưng điều kiện gia đình cũng không đến mức quá nghèo khó[2].
Đại Thanh tần phi
Hi phi là người thuộc Chính Hoàng kỳ Quản lĩnh của Nội vụ phủ, cho nên lẽ ra là thông qua Nội vụ phủ tuyển tú mà nhập cung. Hiện tại vẫn chưa rõ Hi phi đã tham gia kỳ Nội vụ phủ tuyển tú nào. Ngày 11 tháng 4 năm Hàm Phong thứ 9 (1859), “Kính sự phòng truyền chỉ: Nữ tử Trường Xuân cung là Hải Đường Xuân, phong làm Hi Quý nhân (禧贵人), thứ tự xếp sau Cát Quý nhân”[3].
Căn cứ như vậy bà được phong làm Hi Quý nhân (禧貴人). Có thể thấy khi Hi phi còn là Quan nữ tử, vốn hầu hạ tại Trường Xuân cung, được gọi là Hải Đường Xuân (海棠春), vào năm Hàm Phong thứ 9 được Hàm Phong nạp làm hậu cung chủ vị. Năm này bà 18 tuổi, vào cung chắc hẳn đã được vài năm.
Cuối đời
Tháng 7 năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Hàm Phong Đế băng hà, Hoàng thái tử Tải Thuần đăng cơ trở thành Hoàng đế thứ 10 của nhà Thanh, sử gọi [Đồng Trị Đế]. Ngày 10 tháng 10 cùng năm, phụng ý chỉ của Lưỡng cung Hoàng thái hậu, tấn tôn Hi Quý nhân Sát Cáp Lạp thị làm Hoàng khảo Hi tần (皇考禧嬪), đồng thời thăng phong cho ba vị còn lại của Tứ Xuân nương nương bậc Tần. Phong hiệu cũng được giải nghĩa, theo Hồng xương thông dụng (鴻稱通用), phong hiệu "Hi" có Mãn văn là 「sebjengge」[4], ý là "Khoái lạc".
Hi phi bắt đầu cuộc sống góa bụa. Vào những năm đầu Đồng Trị, bà ở tại Thừa Càn cung[5]. Khoảng tháng 8, tháng 9 năm Đồng Trị thứ 8 (1869), vì Đồng Trị chuẩn bị đại hôn, hậu cung đời trước dần chuyển sang Thọ Khang cung, Hi phi chuyển đến cư ngụ tại Thọ Nhị sở cư trú[6]. Năm Đồng Trị thứ 14 (1875), Đồng Trị Đế băng hà, Hoàng thân Tải Điềm kế vị, sử gọi [Quang Tự Đế]. Ngày 16 tháng 11, Tân đế thừa dụ Lưỡng cung Hoàng thái hậu, tôn phong Hi tần Sát Cáp Lạp thị lên tước Phi, toàn gọi Hoàng khảo Hi phi (皇考禧妃), đối với ba vị còn lại của Tứ Xuân nương nương cũng đãi ngộ tương đương.
Cuối cùng hoăng thệ vào ngày 16 tháng 5 năm Quang Tự thứ 3 (1877), hưởng niên 36 tuổi. Ngày mồng 8 tháng 9 cùng năm, bà được phụng an tại Định lăng Phi viên tẩm. Qua ghi chép về tang lễ, có thể thấy Sát Cáp Lạp thị lấy lễ theo nghi tước Quý phi mà an táng. Điều này thể hiện sự ưu ái đặc biệt của Hoàng thất dành cho Hi phi, cùng với sau này là Lục phi Na Lạp thị. Thần vị của bà sau đó được thờ cúng tại Định lăng.
Tứ xuân nương nương
Hi phi là một trong vài vị hậu cung chủ vị vào giai đoạn cuối triều Hàm Phong. Trong dã sử cuối thời Thanh có nhắc đến việc vào cuối triều Hàm Phong, trong hậu cung có “Tứ Xuân” nương nương (四春娘娘), là bốn vị hậu cung có tên gọi mang chữ “Xuân” (春), Hàm Phong say mê vui thú cùng “Tứ Xuân” này đến mức chính sự dần bị bỏ phế.
Về cái gọi là “Tứ Xuân” nương nương này, dã sử thêu dệt rất nhiều, như nói bốn người đều là Hán nữ chân nhỏ, lại nói trong đó có một người là góa phụ tái giá, vân vân. Hiện nay căn cứ theo hồ sơ, đã biết Hi phi được Hàm Phong nạp vào năm cuối đúng là từng xưng hiệu “Hải Đường Xuân”, tuy nhiên bà họ Sát Cáp Lạp thị, không phải Hán nữ chân nhỏ, càng không phải góa phụ tái giá. Tuy nhiên cũng có thể thấy, thuyết về “Tứ Xuân” nương nương đại khái là có nguyên mẫu tồn tại.
Trong văn hóa đại chúng
| Năm | Phim ảnh | Diễn viên | Nhân vật |
| 1983 | Thiếu nữ Từ Hy |
Vị Thi Minh | Hải Đường Xuân |
| 2013 | Hồng tường lục ngoã |
Hải Đường Xuân |
Tham khảo
- ^ 《奏为封禧贵人代其家属谢恩事》,咸丰九年四月十二日,档案号:05-0800-072,中国第一历史档案馆藏。
- ^ 此段察哈拉氏谱系,整理自中国第一历史档案馆编:《清代谱牒档案(缩微胶卷)》A1-A37。
- ^ 《么么妈妈里女子口分档》,转引自王佩环:《清宫后妃》,第37页。
- ^ 《为传知禧妃逝了暂移吉安所事》,光绪三年五月十六日,档案号:05-13-002-000257-0105,中国第一历史档案馆藏。
- ^ 《奏为敬事房领出宫女子6名系永和宫景仁宫承乾宫庆嫔等位下当差均因笨退出为此报堂事》,同治四年二月初八日,档案号:05-0828-046,中国第一历史档案馆藏。
- ^ 《奏为寿二所交出女子因病情形事》,同治十年十二月十二日,档案号:05-0860-033,中国第一历史档案馆藏。