Hoàng Nguyễn Thự
Bản mẫu:Thông tin nhân vật phong kiến
Hoàng Nguyễn Thự (chữ Hán: 黃阮曙), có sách ghi là Hoàng Xuân Thự[1] (黃春曙; 1749–1801), tự Đông Hy (東曦), hiệu Nghệ Điền (藝田), là danh sĩ thời Lê trung hưng và Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.
Tiểu sử
Hoàng Nguyễn Thự sinh ngày 27 tháng 10 năm Kỷ Tỵ (1749) trong một gia đình quan lại ở xã Đông Bình, huyện Gia Bình (nay là thị trấn Đông Bình, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Có nguồn ghi ông sinh tại giáp Tiên Hạ, phường Đông Các, huyện Thọ Xương, nay là khu vực ngõ Phất Lộc, Hà Nội.[1]
Ông là con trưởng Hoàng Đình Hân (1715–1789), làm quan tới chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Thừa chính sứ xứ Tuyên Quang, kiêm thị Đông cung Thủ phiên Viện Thái y, tước Gia Diễn hầu.[2] Hoàng Nguyễn Thự là đời thứ 8 dòng họ Hoàng ở Đông Bình.[1]
Thuở nhỏ, Hoàng Nguyễn Thự theo học Hương cống Phạm Gia Huệ, là người làng Đông Ngạc (làng Vẽ), huyện Từ Liêm (nay thuộc thành phố Hà Nội). Sau, được thầy học yêu quý, gả con gái cho.
Năm Giáp Ngọ (1774), Hoàng Nguyễn Thự thi đỗ Cử nhân, được bổ làm quan Tri huyện Thanh Oai (nay thuộc thành phố Hà Nội).
Năm Đinh Mùi (1787), ông thi đỗ Tiến sĩ. Đây là khoa thi Hội chính thức cuối cùng của triều Hậu Lê.
Sau khi nhà Hậu Lê sụp đổ, ông mang gia đình trốn về quê vợ ở làng Đông Ngạc. Kể từ đó, đất này trở thành quê hương của một chi họ Hoàng. Về sau Hoàng Nguyễn Thự, được coi là tổ họ Hoàng ở làng Đông Ngạc.[3]
Theo sách Văn học thế kỷ XVIII, đề mục "Hoàng Nguyễn Thự", thì mãi đến tháng 2 năm Quý Sửu (1793), năm đầu niên hiệu Cảnh Thịnh, vì bị triệu đòi mãi ông phải vào Phú Xuân làm ở bộ Hình, sau thăng Hình bộ Tả thị lang, rồi Hiệp trấn Lạng Sơn, là một tỉnh trọng yếu ở biên giới phía Bắc.
Năm Tân Dậu (1801), Hoàng Nguyễn Thự mất khi tại lỵ sở lúc 52 tuổi, được đưa về an táng tại làng Đông Ngạc.
Tác phẩm
Hoàng Nguyễn Thự sáng tác không nhiều, tất cả đều bằng chữ Hán. Trong bộ sách Đông Bình Hoàng gia thi văn còn lưu lại một số thơ ông.
Đây là một bộ tuyển tập thơ văn do ông khởi xướng, để ghi chép những sáng tác của các thành viên trong dòng họ. Nhờ con cháu tiếp tục nối thêm, nên dù không bề thế bằng bộ Ngô gia văn phái của dòng họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai, nhưng Đông Bình Hoàng gia thi văn cũng là một thành tựu đáng kể của Văn học trung đại Việt Nam. Hiện ở Thư viện Viện Hán Nôm (Hà Nội) còn lưu giữ bộ sách này (ký hiệu: A. 311).
Nhận xét
Qua thơ văn Hoàng Nguyễn Thự còn lưu lại, người đọc thấy ông là người mang tâm trạng hoài Lê (Cảm thời). Tuy nhiên, khi ra cộng tác với nhà Tây Sơn, ông vẫn tỏ ra là một viên quan mẫn cán, hết lòng vì công việc (Công đường muộn tọa), dù trong lòng vẫn muốn ở ẩn. Bàn về điều này, sách Văn học thế kỷ XVIII do PGS. Nguyễn Thạch Giang làm Chủ biên, có đoạn viết:
- Hoàng Nguyễn Thự sáng tác trước và sau khi ra cộng tác với nhà Tây Sơn. Trong thơ văn thỉnh thoảng ông có nhắc đến nhà Tây Sơn, nhưng không thấy rõ dự gắn bó của ông với triều đại này. Đọc Hoàng Nguyễn Thự có cảm giác ông không chủ động được trước thời cục lúc bấy giờ. Ông buồn phiền, muốn lánh mình sang một bên trước những biến động của xã hội.[4]
Thơ Hoàng Nguyễn Thự
Trong sách Văn học thế kỷ XVIII có giới thiệu 9 bài thơ chữ Hán, làm theo thể thất ngôn bát cú, của Hoàng Nguyễn Thự. Ở đây trích giới thiệu một bài trong Tập thơ lúc vào Kinh đô Phú Xuân (tên tập thơ, biên theo lời chú của tác giả).
|
|
Hậu duệ
Năm 1778, Hoàng Nguyễn Thự lấy bà Phạm Thị Hội, con gái Giải nguyên Phạm Gia Huệ ở xã Đông Ngạc, là thầy dạy của ông.[1]
Con trai thứ ba của ông là Hoàng Tế Mỹ (1795–1849). Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Bính Tuất (1826),từng giữ chức Hữu Tham tri bộ Binh, khi mất được truy phong Thượng thư bộ Lễ.
Cháu nội ông là Hoàng Tướng Hiệp (1835–1885), là con trai thứ ba của Hoàng Tế Mỹ. Ông Hiệp đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Ất Sửu (1865), từng làm Án sát Lạng Sơn, Tuần phủ Tuyên Quang (1877), sung Tham tán Quân vụ Đại thần.
Cháu năm đời ông là Hoàng Tăng Bí (1883–1939). Ông đỗ Phó bảng năm 1910 nhưng không ra làm quan, mở trường tư dạy học, viết báo Trung Bắc tân văn và soạn một số vở tuồng kêu gọi lòng yêu nước.
Chú thích
- ^ a ă â b Tạ Ngọc Liên (ngày 27 tháng 11 năm 2023). "Hoàng Nguyễn Thự - cuộc đời và thơ văn". Tạp chí Người Hà Nội. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- ^ Phạm Kim Thanh (ngày 22 tháng 8 năm 2024). "Đây là vị Phó bảng quê Từ Liêm, cùng sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa thục, sáng danh dòng họ Hoàng". Dân Việt. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- ^ Theo Văn học thế kỷ XVIII (tr. 903) và bài viết trên website Thư viện tỉnh Đồng Nai [1].
- ^ Văn học thế kỷ XVIII, tr. 899.
- ^ Đàn Xã Tắc là nơi được lập để nhà vua tế Xã thần (Thần Đất) và Tắc thần (Thần Nông), là hai vị thần của nền văn minh lúa nước. Trong văn học cổ, đàn xã tắc thường dùng làm biểu tượng của quốc gia.
- ^ Đường Nam chỉ nhà Tây Sơn, đường Bắc chỉ nhà Hậu Lê.
- ^ Chép theo Văn học thế kỷ XVIII (tr. 903-904). Các chú thích trong bài thơ cũng dựa theo sách này.