Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Autotaxobox”.

Bản mẫu:Speciesbox/parameterCheck

Bản mẫu:Speciesbox/name
Khoảng thời gian tồn tại: 2.3–1.65 triệu năm trước đây Bản mẫu:Phanerozoic 220px
220px
Phục dựng hộp sọ KNM-ER 1813 tại Naturmuseum Senckenberg, Đức
Phân loại khoa học edit
Loài:
Danh pháp hai phần
Bản mẫu:Taxon italics
Leakey et al., 1964
Các đồng nghĩa[1]

Homo habilis (phiên âm tiếng Việt: Hômô habilit), tài liệu chuyên ngành tiếng Việt dùng thuật ngữ Người khéo léo,[2][3] là một loài người cổ xưa đã tuyệt chủng, từng sinh sống ở Đông và Nam Phi vào thế Canh Tân sớm giai đoạn 2,31–1,65 triệu năm trước (mya). Sau khi được mô tả khoa học vào năm 1964, tính chính đáng của danh pháp H. habilis gây tranh cãi do một số chuyên gia cho rằng loài này đồng nghĩa với Australopithecus africanus, một hominin khác mới được biết đến vào thời điểm đó, song tới nay đã được công nhận rộng rãi. Hồi những năm 1980, H. habilis được cho là tổ tiên trực hệ của loài người, tiến hóa thành Homo erectus và góp phần phái sinh người hiện đại, song quan điểm này giờ đây bị đặt nghi vấn. Một số mẫu vật được quy cho H. habilis chưa thực sự chắc chắn, ngoài ra cũng có đề xuất tách loài này thành những loài riêng biệt, cụ thể là "H. rudolfensis" và "H. gautengensis". Dẫu vậy, mới chỉ duy nhất H. rudolfensis nhận được sự tán thành của giới khảo cổ.

Giống các thành viên khác trong chi Homo đương thời, thể tích não H. habilis dao động trong khoảng 500–900 cm3 (31–55 in khối). Ta không biết rõ kích thước cơ thể của H. habilis; bởi lẽ hiện tại người ta mới chỉ khai quật được 2 bộ cốt rất phân mảnh, chỉ hữu dụng cho việc đoán định kích thước loài, song phần lớn vẫn dựa trên giả thiết cho rằng giải phẫu của loài này tương tự các australopithecine tiền thân. Cũng chính vì vậy, một số nhà khảo cổ đề xuất gộp H. habilis vào chi Australopithecus và đổi danh pháp thành Australopithecus habilis. Mẫu vật giống cái mang mẫu hiệu OH 62 được ước tính cao tầm 100–120 cm (3 ft 3 in–3 ft 11 in), nặng tầm 20–37 kg (44–82 lb) nếu lấy tỷ lệ cơ thể australopithecine làm chuẩn, song nếu lấy tỷ lệ cơ thể người làm chuẩn thì chiều cao ước tính rơi vào khoảng 148 cm (4 ft 10 in) và cân nặng khoảng 35 kg (77 lb). Tuy nhiên, tương tự các thành viên trong nhóm australopithecine, H. habilis dường như vẫn có khả năng leo trèo và sống trên cây. Các dạng hominin nguyên sơ thường được phỏng dựng với bộ lông dày, lưỡng hình đực cái rõ rệt song tỉ lệ kích thước cơ thể giữa hai giống vẫn chưa thể được xác định một cách chắc chắn.

H. habilis là chủ nhân của kỹ nghệ đồ đá Oldowan, sử dụng công cụ thô sơ để mổ xẻ xác thịt. So với australopithecine, các chi Homo sơ khai tiêu thụ rất nhiều thịt. Những giả thuyết xoay quanh hành vi xã hội của H. habilis còn mang nặng tính suy diễn do bằng chứng thiếu thốn; họ nhiều khả năng từng sống theo bầy từ 70–85 thành viên. Về mặt niên đại, H. habilis tồn tại cùng thời với nhiều loài vượn nhân khác như H. rudolfensis, H. ergaster/H. erectusParanthropus boisei.

Phân loại học

Lịch sử nghiên cứu

 
Hộp sọ phục dựng của mẫu KNM-ER 1813

Những di cốt được công nhận đầu tiên là thuộc về H. habilis mang mã hiệu OH 7, bao gồm một phần xương sọ, bàn tay và bàn chân trong độ tuổi vị thành niên có niên đại khoảng 1,75 triệu năm trước (mya). Các mẫu vật đó được Jonathan Leakey phát hiện tại Hẻm núi Olduvai, Tanzania vào năm 1960. Tuy nhiên, di cốt đầu tiên thu được đáng ra phải là chiếc răng hàm mang mã hiệu OH 4, được phát hiện bởi trợ lý cấp cao của vợ chồng nhà Leakey (bố mẹ của Jonathan Leakey) tên là Heselon Mukiri cùng một số người bản địa khác vào năm 1959, nhưng bấy giờ họ không nhận ra chiếc răng đó thuộc về H. habilis.[4] Vào khoảng thời gian đó, gia đình Leakey đã dành tổng cộng 29 năm tìm kiếm hài cốt của các hominin nguyên sơ tại hẻm núi Olduvai nhưng chỉ thu về nhiều hài cốt động vật và khám phá ra kỹ nghệ đồ đá Oldowan. Vào năm 1959, họ cho rằng chủ nhân của kỹ nghệ Oldowan là loài vượn nhân Paranthropus boisei (hồi đó có danh pháp là "Zinjanthropus") nhưng sau khi mẫu OH 7 được phát hiện thì nhận định đó được đính chính.[4] Năm 1964, Louis Leakey cùng nhà cổ sinh học Nam Phi Phillip V. Tobias và nhà linh trưởng học Anh John R. Napier chính thức xếp di cốt trên vào chi Homo với danh pháp H. habilis theo khuyến nghị của nhà nhân học Úc Raymond Dart, trong tiếng Latinh nghĩa là "người khéo léo".[5] Mối liên hệ của mẫu OH 7 với kỹ nghệ Oldowan (được coi là bằng chứng về khả năng nhận thức tiên tiến) được vận dụng để biện giải cho việc xếp nó vào chi Homo.[6] Mẫu OH 7 sau được phê chuẩn là mẫu định danh của loài.[5]

Sau khi được mô tả học thuật, giới cổ nhân học đã tranh luận nảy lửa rằng liệu H. habilis có nên được tái phân loại thành loài Australopithecus africanus hay không (hominin sơ khai duy nhất khác được biết vào thời điểm đó), một phần bởi vì những di cốt đó rất cổ và bấy giờ thì thuyết Homo tiến hóa ở châu Á đang rất thịnh hành. Hơn nữa nếu xét theo tiêu chí để được xếp vào Homo của Wilfrid Le Gros Clark (đề xuất vào năm 1955) thì thể tích hộp sọ của mẫu quá nhỏ.[4][7] Tính chính đáng của danh pháp H. habilis dần được chấp nhận rộng rãi sau nhiều cuộc khai quật khảo cổ khiến các bằng chứng mới lộ diện.[4] Năm 1983, Tobias cho rằng A. africanus chính là tổ tiên trực hệ của ParanthropusHomo (hai đơn vị phân loại chị em), và rằng A. africanus đã tiến hóa thành H. habilis, rồi tiến hóa tiếp thành H. erectus và cuối cùng là tiến hóa thành người hiện đại. Ông nhận định rằng sự phát triển từ A. africanus tới H. habilis là một bước nhảy vọt, rồi ngay sau đó thì quá trình tiến hóa loài người đã diễn ra dần dần do kích thước bộ não H. habilis tăng gần gấp đôi so với tổ tiên australopithecine.[8]

Mô hình tiến hóa loài người theo Tobias, 1983[8]

Nhiều nhà cổ sinh chấp nhận mô hình tiến hóa của Tobias và gán các di tích hominin trong khoảng Thượng Tân muộn tới Canh Tân sớm cho H. habilis ngoại trừ chi ParanthropusH. erectus. Cách phân loại này tuy vậy chỉ dựa trên đặc điểm sọ, khiến cho các nhà khảo cổ không có căn cứ phân loại nào khác khi tìm thấy các di cốt ngoài hộp sọ.[9] Rốt cuộc thì quá nhiều mẫu vật khác biệt nhau bị gom vào cùng một đơn vị phân loại, khiến giới khảo cổ phải đề ra thuật ngữ H. habilis sensu precisiono ("nghĩa hẹp") và H. habilis sensu lato ("nghĩa rộng") để phân định hình thái nội loài. Năm 1985, nhà cổ sinh học Anh Bernard Wood cho rằng hộp sọ lớn mã hiệu KNM-ER 1470 phát hiện vào năm 1972 tại Hồ Turkana, Kenya, thực ra là một loài khác chứ không phải H. habilis như bấy giờ lầm tưởng;[10] hiện nay mẫu này được chỉ định danh pháp Homo rudolfensis. Cũng có ý kiến cho rằng hộp sọ này lớn như vậy bởi nó thuộc về giống đực, còn các mẫu H. habilis khác giống cái.[11] Những Homo sơ khai được phát hiện ở Nam Phi thường bị các nhà khoa học hú họa xếp vào H. habilis hoặc H. ergaster/H. erectus. Năm 2010, nhà khảo cổ Úc Darren Curoe đề xuất tách các Homo sơ khai ở Nam Phi thành loài "Homo gautengensis".[12]

Năm 1986, hài cốt phân mảnh mã hiệu OH 62 cùng với các mảnh sọ H. habilis được phát hiện bởi nhà nhân học Mỹ Tim D. White, đánh dấu lần đầu tiên các khía cạnh bộ xương H. habilis được xác lập, cho thấy chúng trông giống Australopithecus hơn là Homo.[9] Cộng thêm các đặc điểm nha khoa tương đồng với Australopithecus, Wood và nhà nhân sinh học Mark Collard vào năm 1999 đề nghị chuyển loài này sang chi Australopithecus.[13][14][15][16] Tuy nhiên, tái kiểm định mẫu OH 62 vào năm 2004 phủ nhận các kết luận trên.[17] Việc phát hiện hộp sọ 1,8 triệu năm tuổi mang tên "người Gruzia Dmanisi" vào đầu những năm 2000 (thể hiện một số điểm tương đồng với chi Homo sơ khai) đã dẫn đến suy đoán rằng các Homo sơ kỳ ở châu Phi, bao gồm H. habilisH. rudolfensis, thuộc cùng một loài và nên được gán cho H. erectus.[18][19]

Phân loại

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Clade”.

Cây phát sinh chi Homo biểu thị H. habilisH. rudolfensis đã rẽ nhánh sớm khỏi dòng người hiện đại[20]

Vẫn chưa có sự đồng thuận rộng rãi về việc liệu H. habilis có phải là tổ tiên của H. ergaster/H. erectus hay đơn thuần là một nhánh tách riêng của dòng người,[21] và liệu rằng tất cả các mẫu vật được gán mác H. habilis đã chính xác hay chưa.[22] Song các nhà khoa học đều đồng ý rằng H. habilisH. rudolfensis nằm gần gốc của cây tiến hóa Homo.[23]

Mặc dù hiện nay phần lớn cho rằng chi Homo tiến hóa từ chi Australopithecus, thời điểm và vị trí của sự phân tách này vẫn gây nhiều tranh cãi. Việc phát hiện ra LD 350-1, mẫu vật Homo cổ nhất với niên đại 2,8 mya ở Vùng Afar, Ethiopia có lẽ chỉ ra rằng chi này đã tiến hóa từ A. afarensis vào khoảng thời gian đó. Mẫu LD 350-1 có phải là H. habilis hay không thì vẫn chưa chắc chắn.[24] Mẫu H. habilis cổ nhất được công nhận mang mã hiệu A.L. 666-1 có niên đại 2,3 mya nhưng nó sở hữu nhiều đặc điểm giải phẫu tân tiến hơn khi so với mẫu OH 7 gần đây, ngụ ý rằng hình thái nguyên bản (basal) và phái sinh (derived) tồn tại đồng thời và dòng dõi H. habilis xuất hiện trước thời điểm 2,3 mya.[25] Dựa trên các công cụ bằng đá 2,1 triệu năm tuổi từ Thượng Trần, Trung Quốc, H. habilis hoặc một loài tổ tiên nào đó đã thiên di khắp châu Á.[26] Mẫu H. habilis trẻ nhất là OH 13, niên đại tầm 1,65 mya.[25]

Bản mẫu:African hominin timeline

Xem thêm

Bản mẫu:Columns-list

Trích dẫn

  1. ^ Antón, S. C. (2012). "Early Homo: Who, When, and Where". Current Anthropology. 53 (6): 279. doi:10.1086/667695. S2CID 84830570.
  2. ^ Viện Khảo cổ học Việt Nam 2004, tr. 372: "[...] Người khéo léo (Homo habilis) cũng được phát hiện. Sự phân loại Người vượn vì vậy cũng thay đổi."
  3. ^ Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam 2002, tr. 389: "HÔMÔ HABILIT (Homo habilis), tên khoa học có nghĩa là Người khéo léo; chỉ một loại hoá thạch, lần đầu tiên được vợ chồng Liky (L. S. B. Leakey) phát hiện trong khe núi Ônđuvai (Olduvai) ở Tanzania năm 1959."
  4. ^ a ă â b Tobias, P. V. (2006). "Homo habilis—A Premature Discovery: Remembered by One of Its Founding Fathers, 42 Years Later". The First Humans – Origin and Early Evolution of the Genus Homo. Vertebrate Paleobiology and Paleoanthropology. Springer, Dordrecht. tr. 7–15. doi:10.1007/978-1-4020-9980-9_2. ISBN 978-1-4020-9980-9.
  5. ^ a ă Leakey, L.; Tobias, P. V.; Napier, J. R. (1964). "A New Species of the Genus Homo from Olduvai Gorge" (PDF). Nature. 202 (4927): 7–9. Bibcode:1964Natur.202....7L. doi:10.1038/202007a0. PMID 14166722. S2CID 12836722.
  6. ^ de la Torre, I. (2011). "The origins of stone tool technology in Africa: a historical perspective". Philosophical Transactions of the Royal Society B. 366 (1567): 1028–1037. doi:10.1098/rstb.2010.0350. PMC 3049100. PMID 21357225.
  7. ^ Wood, B.; Richmond, B. G. (2000). "Human evolution: taxonomy and paleobiology". Journal of Anatomy. 197: 39–41. doi:10.1046/j.1469-7580.2000.19710019.x. PMC 1468107. PMID 10999270.
  8. ^ a ă Tobias, P. V. (1983). "Hominid evolution in Africa" (PDF). Canadian Journal of Anthropology. 3 (2): 163–183.
  9. ^ a ă Johanson, D. C.; Masao, F.; Eck, G. G.; White, T. D.; và đồng nghiệp (1987). "New partial skeleton of Homo habilis from Olduvai Gorge, Tanzania". Nature. 327 (6119): 205–209. Bibcode:1987Natur.327..205J. doi:10.1038/327205a0. PMID 3106831. S2CID 4321698.
  10. ^ Wood, B. (1985). "Early Homo in Kenya, systematic relationships". Trong Delson, E. (biên tập). Ancestors: The hard evidence. Alan R. Liss. ISBN 978-0-8451-0249-7.
  11. ^ Wood, B. (1999). "Homo rudolfensis Alexeev, 1986: Fact or phantom?". Journal of Human Evolution. 36 (1): 115–118. doi:10.1006/jhev.1998.0246. PMID 9924136.
  12. ^ Curnoe, D. (2010). "A review of early Homo in southern Africa focusing on cranial, mandibular and dental remains, with the description of a new species (Homo gautengensis sp. nov.)". HOMO: Journal of Comparative Human Biology. 61 (3): 151–177. doi:10.1016/j.jchb.2010.04.002. PMID 20466364.
  13. ^ Wood, B.; Collard, M. (1999). "The Human Genus" (PDF). Science. 284 (5411): 65–71. Bibcode:1999Sci...284...65.. doi:10.1126/science.284.5411.65. PMID 10102822. S2CID 7018418. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2020.
  14. ^ Miller J. M. A. (2000). "Craniofacial variation in Homo habilis: an analysis of the evidence for multiple species". American Journal of Physical Anthropology. 112 (1): 103–128. doi:10.1002/(SICI)1096-8644(200005)112:1<103::AID-AJPA10>3.0.CO;2-6. PMID 10766947.
  15. ^ Tobias, P. V. (1991). "The species Homo habilis: example of a premature discovery". Annales Zoologici Fennici. 28 (3–4): 371–380. JSTOR 23735461.
  16. ^ Collard, Mark; Wood, Bernard (2015). "Defining the Genus Homo". Handbook of Paleoanthropology. tr. 2107–2144. doi:10.1007/978-3-642-39979-4_51. ISBN 978-3-642-39978-7.
  17. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Haeusler2004
  18. ^ Margvelashvili, A.; Zollikofer, C. P. E.; Lordkipanidze, D.; Peltomäki, T.; Ponce de León, M. S. (2013). "Tooth wear and dentoalveolar remodeling are key factors of morphological variation in the Dmanisi mandibles". Proceedings of the National Academy of Sciences (bằng tiếng Anh). 110 (43): 17278–83. Bibcode:2013PNAS..11017278M. doi:10.1073/pnas.1316052110. ISSN 0027-8424. PMC 3808665. PMID 24101504.
  19. ^ Lordkipanidze, D.; Ponce de León, M. S.; Margvelashvili, A.; Rak, Y.; Rightmire, G. P.; Vekua, A.; Zollikofer, C. P. E. (2013). "A Complete Skull from Dmanisi, Georgia, and the Evolutionary Biology of Early Homo". Science (bằng tiếng Anh). 342 (6156): 326–331. Bibcode:2013Sci...342..326L. doi:10.1126/science.1238484. ISSN 0036-8075. PMID 24136960. S2CID 20435482.
  20. ^ Strait, D.; Grine, F.; Fleagle, J. G. (2015). "Analyzing Hominin Phylogeny: Cladistic Approach" (PDF). Trong Henke, W.; Tattersall, I. (biên tập). Handbook of Paleoanthropology (ấn bản thứ 2). Springer. tr. 2006. doi:10.1007/978-3-642-39979-4_58. ISBN 978-3-642-39979-4. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2022.
  21. ^ Tattersall, I. (2019). "Classification and phylogeny in human evolution". Ludus Vitalis. 9 (15): 139–140. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2022.
  22. ^ Tattersall, I.; Schwartz, J. H. (2001). Extinct Humans. Basic Books. tr. 111. ISBN 978-0-8133-3918-4.
  23. ^ Strait, D.; Grine, F. E.; Fleagle, J. G. (2014). "Analyzing Hominin Phylogeny: Cladistic Approach". Handbook of Paleoanthropology (ấn bản thứ 2). Springer. tr. 2005–2006. ISBN 978-3-642-39979-4.
  24. ^ Villmoare, B.; Kimbel, W. H.; Seyoum, C.; và đồng nghiệp (2015). "Early Homo at 2.8 Ma from Ledi-Geraru, Afar, Ethiopia". Science. 347 (6228): 1352–1355. Bibcode:2015Sci...347.1352V. doi:10.1126/science.aaa1343. PMID 25739410.
  25. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Spoor2015
  26. ^ Zhu, Z.; Dennell, R.; Huang, W.; Wu, Y.; Qiu, S.; Yang, S.; Rao, Z.; Hou, Y.; Xie, J.; Han, J.; Ouyang, T. (2018). "Hominin occupation of the Chinese Loess Plateau since about 2.1 million years ago". Nature. 559 (7715): 608–612. Bibcode:2018Natur.559..608Z. doi:10.1038/s41586-018-0299-4. PMID 29995848. S2CID 49670311.

Thư mục

  • Viện Khảo cổ học Việt Nam, biên tập (2004). Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam. Quyển 1. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
  • Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, biên tập (2002). Từ điển bách khoa Việt Nam: E-M. Hà Nội: Nhà xuất bản Từ điển bách khoa.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Tiến hóa loài người

Bản mẫu:Taxonbar