Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst-infobox”.

I'm Not Deadalbum phòng thu thứ tư của ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Pink, phát hành ngày 4 tháng 4 năm 2006 bởi LaFace RecordsJive Records. Sau những thành tích không như mong đợi về mặt thương mại của album phòng thu trước Try This (2003), Pink quyết định chia tay Arista Records và bày tỏ sự bất mãn trước sự kiểm soát quá mức về mặt âm nhạc và chiến dịch quảng bá kém hiệu quả của hãng đĩa. Đóng vai trò điều hành sản xuất của dự án, cô bắt đầu thử nghiệm những âm thanh mới và hợp tác với một loạt nhà sản xuất khác nhau, bao gồm Billy Mann, Butch Walker, Mike Elizondo, Dr. LukeMax Martin. I'm Not Dead là một bản thu âm pop kết hợp với một số yếu tố từ acoustic, folk rock, hard rock, power pop, pop rock, folk pop, new wave, dancehip hop, trong đó Pink đồng sáng tác trong tất cả những bản nhạc từ album, ngoại trừ bản nhạc ẩn "I Have Seen the Rain" được viết lời bởi cha cô Jim Moore. Tiêu đề của album đề cập đến sự mạnh mẽ và không im lặng trước những ý kiến xung quanh.

Ban đầu, album mang tiêu đề Long Way to Happy nhưng được Pink thay đổi thành I'm Not Dead, để phù hợp với bản chất mạnh mẽ trong phong cách âm nhạc và nội dung ca từ. Sau khi phát hành, đĩa nhạc nhận được những phản ứng tích cực từ giới phê bình, trong đó họ đánh giá cao những rủi ro Pink thực hiện trong tác phẩm cũng như những thử nghiệm của cô với nhạc rock. I'm Not Dead cũng gặt hái những thành công lớn về mặt thương mại, đứng đầu bảng xếp hạng tại Úc, Áo, Đức, New Zealand và Thụy Sĩ, đồng thời lọt vào top 10 ở hầu hết những quốc gia khác, bao gồm vươn đến top 5 ở nhiều thị trường lớn như Canada, Hà Lan, Phần Lan, Na Uy và Vương quốc Anh. Album ra mắt ở vị trí thứ sáu trên bảng xếp hạng Billboard 200 tại Hoa Kỳ với 126,000 bản, trở thành album thứ ba liên tiếp của nữ ca sĩ vươn đến top 10 tại đây và được chứng nhận hai đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA). Tính đến nay, đĩa nhạc đã bán được hơn năm triệu bản trên toàn cầu.

Sáu đĩa đơn đã được phát hành từ I'm Not Dead. "Stupid Girls" được chọn làm đĩa đơn mở đường và gây tranh cãi bởi nội dung lời bài hát và video ca nhạc, nhưng lọt vào top 10 ở hơn 15 quốc gia và nhận được đề cử giải Grammy cho Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất. "Who Knew", "U + Ur Hand" và "Dear Mr. President" cũng tiếp nối những thành công tương tự về mặt thương mại, trong đó hai đĩa đơn đầu tiên đã lọt vào top 10 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 tại Hoa Kỳ. Những đĩa đơn còn lại "Nobody Knows" và "Leave Me Alone (I'm Lonely)" chỉ đạt được những thành tích hạn chế trên toàn cầu. Để quảng bá album, Pink trình diễn trên nhiều chương trình truyền hình và lễ trao giải lớn, như The Ellen DeGeneres Show, Late Show with David Letterman, Top of the PopsWetten, dass..?, đồng thời thực hiện chuyến lưu diễn I'm Not Dead Tour với 154 đêm diễn và đi qua năm châu lục. Một phiên bản Bạch kim của đĩa nhạc cũng được phát hành vào tháng 12 năm 2007 với ba bài hát mới và một DVD kèm theo.

Danh sách bài hát

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

Ghi chú

  • ^[a] nghĩa là đồng sản xuất.

Xếp hạng

Chứng nhận

Bản mẫu:Certification Table Separator
Quốc gia Chứng nhận Số đơn vị/doanh số chứng nhận
Úc (ARIA)Bản mẫu:Certification Cite Ref 12× Bạch kim 840.000 
Áo (IFPI Áo)Bản mẫu:Certification Cite Ref 2× Bạch kim 60.000 
Bỉ (BEA)Bản mẫu:Certification Cite Ref Bạch kim 50.000 
Canada (Music Canada)Bản mẫu:Certification Cite Ref 2× Bạch kim 200.000 
Đan Mạch (IFPI Đan Mạch)Bản mẫu:Certification Cite Ref Vàng 0 
Phần Lan (Musiikkituottajat)Bản mẫu:Certification Cite Ref Vàng 16,085Bản mẫu:Certification Cite Ref
Pháp (SNEP)Bản mẫu:Certification Cite Ref Bạch kim 0 
Đức (BVMI)Bản mẫu:Certification Cite Ref 7× Vàng 1.050.000 
Hungary (Mahasz)Bản mẫu:Certification Cite Ref Bạch kim 10.000 
Ireland (IRMA)Bản mẫu:Certification Cite Ref 3× Bạch kim 45.000 
Hà Lan (NVPI)Bản mẫu:Certification Cite Ref Vàng 35.000 
New Zealand (RMNZ)Bản mẫu:Certification Cite Ref 2× Bạch kim 30.000 
Nga (NFPF)Bản mẫu:Certification Cite Ref 2× Bạch kim 0 
Hàn Quốc (KMCA)Bản mẫu:Certification Cite Ref 1,891[34]
Thụy Điển (GLF)Bản mẫu:Certification Cite Ref Vàng 0 
Thụy Sĩ (IFPI)Bản mẫu:Certification Cite Ref 2× Bạch kim 60.000 
Anh Quốc (BPI)Bản mẫu:Certification Cite Ref 4× Bạch kim 1,284,026[35]
Hoa Kỳ (RIAA)Bản mẫu:Certification Cite Ref 2× Bạch kim 2.000.000 
Châu Âu (IFPI)Bản mẫu:Certification Cite Ref 2× Bạch kim 2.000.000 

* Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ.
^ Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng.
Bản mẫu:Double-dagger Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ và phát trực tuyến.

The Remixes

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst-infobox”.

The Remixesđĩa mở rộng đầu tiên và cũng là album phối lại đầu tiên của ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Pink, phát hành ngày 20 tháng 2 năm 2007 dưới hình thức tải nhạc số và bao gồm những bản phối lại của ba đĩa đơn đầu tiên trích từ album phòng thu thứ tư của cô I'm Not Dead.[36]

Danh sách bài hát

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

Xem thêm

Ghi chú

Tham khảo

  1. ^ "I'm Not Dead". Amazon. ngày 3 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  2. ^ "I'm Not Dead by P!nk on Apple Music". iTunes. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2018.
  3. ^ Sexton, Paul (ngày 17 tháng 4 năm 2006). "Streets, Gnarls Barkley Rule U.K. Charts". Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2021.
  4. ^ "P!NKのランキング情報" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2023.
  5. ^ Australian Recording Industry Association (2006). "ARIA Charts — End of Year Charts — Top 100 Albums". aria.com.au. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2008.
  6. ^ "Jahreshitparade Alben 2006". Media Control. Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  7. ^ "Jaaroverzichten 2006" (bằng tiếng Hà Lan). Ultra top. Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  8. ^ "Rapports Annuels 2006". Ultratop. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2021.
  9. ^ "Chart of the Year 2006" (bằng tiếng Đan Mạch). TOP20.dk. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2024.
  10. ^ "2006 Year-End European Albums". Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2021.
  11. ^ "Myydyimmät ulkomaiset albumit vuonna 2006" (bằng tiếng Phần Lan). YLE. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  12. ^ Institut Français d'Opinion Publique (2006). "Les 200 meilleures ventes d'albums en France pour l'année 2006". ifop.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2008.
  13. ^ "Top 100 Album-Jahrescharts". GfK Entertainment (bằng tiếng Đức). offiziellecharts.de. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015.
  14. ^ "Årslista Album – År 2006". Swedish Recording Industry Association. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  15. ^ "Swiss Year-End Charts 2006". Media Control. Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  16. ^ a ă "2006 UK Albums Chart" (PDF). ChartsPlus. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  17. ^ Billboard magazine (ngày 31 tháng 12 năm 2006). "The Billboard 200". Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2008.
  18. ^ International Federation of the Phonographic Industry (2006). "Top 50 Global Best Selling Albums" (PDF). ifpi.org. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2008.
  19. ^ Australian Recording Industry Association (2007). "ARIA Charts — End of Year Charts — Top 100 Albums". aria.com.au. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2008.
  20. ^ "Jahreshitparade Alben 2007". Media Control. Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  21. ^ Ultratop — Belgium (2007). "Annual Chart". ultratop.be. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2008.
  22. ^ Institut Français d'Opinion Publique (2007). "Les 200 meilleures ventes d'albums en France pour l'année 2007". ifop.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2008.
  23. ^ "Top 100 Album-Jahrescharts". GfK Entertainment (bằng tiếng Đức). offiziellecharts.de. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  24. ^ Recording Industry Association of New Zealand (2007). "Annual Chart". rianz.org.nz. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2008.
  25. ^ "Swiss Year-End Charts 2007". Media Control. Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  26. ^ "2007 UK Albums Chart" (PDF). ChartsPlus. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  27. ^ Billboard magazine (ngày 31 tháng 12 năm 2007). "The Billboard 200". Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2008.
  28. ^ "Top 50 Global Best Selling Albums for 2007" (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2024.
  29. ^ "Vanessaamorosi.net". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2009.
  30. ^ "2008 UK Albums Chart" (PDF). ChartsPlus. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  31. ^ "Aria.com". Aria.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2011.
  32. ^ "Top 100 albums of the noughties". The Advertiser. ngày 7 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010.
  33. ^ "Bestenlisten - 00er-Album". austriancharts.at. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  34. ^ "자료제공:(사)한국음반산업협회/이 자료는당협회와 상의없이 가공,편집을금합니다. - 2006.04월 - POP 음반 판매량" (bằng tiếng Hàn). Recording Industry Association Of Korea. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007.
  35. ^ Jones, Alan (ngày 20 tháng 10 năm 2017). "Official Charts Analysis: Pink hits No.1 with Beautiful Trauma". MusicWeek. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017.
  36. ^ a ă The Remixes - EP by P!nk on Apple Music (bằng tiếng Anh), ngày 20 tháng 2 năm 2007, truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2024

Liên kết ngoài