Joannealbum phòng thu thứ năm của ca sĩ người Mỹ Lady Gaga, phát hành ngày 21 tháng 10 năm 2016 bởi Streamline Records và Interscope Records. Sau những đánh giá chuyên môn trái chiều của album thứ ba Artpop (2013), Gaga bắt đầu theo đuổi hình tượng nhẹ nhàng hơn và phong cách âm nhạc tối giản nhằm nhấn mạnh vào khả năng thanh nhạc của cô, bắt đầu từ album hợp tác Cheek to Cheek (2014) với Tony Bennett. Joanne là một bản thu âm dance-pop, soft rockAmericana kết hợp với âm hưởng của nhạc đồng quê, trong đó nội dung ca từ của đĩa nhạc đề cập đến những chủ đề về gia đình và những cảm xúc trong cuộc sống. Tiêu đề của album được đặt theo tên của dì cô Joanne Stefani Germanotta, người đã qua đời và để lại ảnh hưởng sâu sắc đến gia đình và sự nghiệp của nữ ca sĩ. Đóng vai trò sản xuất chính của dự án với Mark RonsonBloodPop, Gaga kết hợp với một số cộng tác viên khác nhau như Kevin Parker, Emile Haynie, Jeff BhaskerJosh Homme. Ngoài ra, kinh nghiệm diễn xuất của cô khi tham gia mùa thứ năm của loạt phim truyền hình American Horror Story cũng góp phần vào quá trình sáng tạo đĩa nhạc.

Joanne
Left profile picture of Lady Gaga wearing a wide pink hat, in front of a sky-blue background.
Album phòng thu của Lady Gaga
Phát hành21 tháng 10 năm 2016 (2016-10-21)
Thu âm2015 – 17 tháng 9, 2016
Thể loại
Thời lượng39:05
Hãng đĩa
Sản xuất
Thứ tự album của Lady Gaga
Cheek to Cheek
(2014)
Joanne
(2016)
A Star Is Born
(2018)
Đĩa đơn từ Joanne
  1. "Perfect Illusion"
    Phát hành: 9 tháng 9, 2016
  2. "Million Reasons"
    Phát hành: 29 tháng 10, 2016
  3. "Joanne"
    Phát hành: 22 tháng 12, 2017

Quá trình ra mắt Joanne đánh dấu sự tiếp nối cho nỗ lực xây dựng phong cách mộc mạc của Gaga khi theo đuổi diện mạo gọi nhớ đến những ca sĩ kiêm sáng tác nhạc thập niên 1970, với chiếc mũ cao bồi màu hồng rộng vành, mặc quần denim cổ điển và màu pastel. Sau khi phát hành, album nhận được những phản ứng tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ đánh giá cao định hướng âm nhạc, giọng hát, khâu sản xuất và nội dung lời bài hát, mặc dù vấp phải một số ý kiến cho rằng tổng thể thiếu tính gắn kết. Joanne cũng nhận được một đề cử giải Grammy cho Album giọng pop xuất sắc nhất tại lễ trao giải thường niên lần thứ 60. Đĩa nhạc gặt hái những thành công đáng kể về mặt thương mại khi đứng đầu các bảng xếp hạng tại Brazil và Mexico, đồng thời lọt vào top 10 ở hầu hết những quốc gia còn lại, bao gồm vươn đến top 5 ở nhiều thị trường lớn như Úc, Canada, Hà Lan, Ireland, Ý, New Zealand, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh. Joanne ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard 200 tại Hoa Kỳ với 201,000 đơn vị album tương đương, trở thành đĩa nhạc quán quân thứ tư trong sự nghiệp của Gaga tại đây.

Ba đĩa đơn đã được phát hành từ Joanne. "Perfect Illusion" được chọn làm đĩa đơn mở đường và lọt vào top 10 ở một số quốc gia, trong khi "Million Reasons" đạt vị trí thứ tư trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 tại Hoa Kỳ. Đĩa đơn cuối cùng "Joanne" chỉ đạt được những thành công hạn chế trên toàn cầu, nhưng phiên bản piano của bản nhạc đã chiến thắng một giải Grammy cho Trình diễn đơn ca pop xuất sắc nhất tại lễ trao giải thường niên lần thứ 61, sau khi "Million Reasons" cũng được đề cử ở hạng mục tương tự một năm trước. Để quảng bá album, Gaga trình diễn trên nhiều chương trình truyền hình và lễ trao giải lớn, bao gồm Saturday Night Live, The Late Late Show with James Corden, giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2016Chương trình thời trang Victoria's Secret năm 2016, cũng như dẫn đầu Chương trình giữa hiệp Super Bowl LILễ hội Âm nhạc Coachella năm 2017. Ngoài ra, nữ ca sĩ còn tiến hành chuyến lưu diễn ngắn hạn Dive Bar Tour và chuyến lưu diễn thế giới Joanne World Tour (2017-18). Năm 2017, Gaga phát hành một bộ phim tài liệu mang tên Gaga: Five Foot Two, ghi lại quá trình thực hiện Joanne và màn trình diễn giữa hiệp của cô.

Tổng quan

 
Gaga trong một diện mạo mới sau kỷ nguyên Artpop.

Album phòng thu thứ ba của Gaga, Artpop được phát hành vào tháng 11 năm 2013 và nhận được những phản ứng trái chiều từ giới chuyên môn.[1] Đĩa nhạc ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard 200, và đã bán được 2.5 triệu bản tính đến tháng 7 năm 2014.[2][3] Trong khoảng thời gian này, Gaga chia tay người quản lý lâu năm Troy Carter vào cuối năm 2013,[4] và đến tháng 6 năm 2014, cô và người quản lý mới Bobby Campbell quyết định gia nhập Artist Nation, một bộ phận quản lý nghệ sĩ của Live Nation Entertainment.[5] Đối diện với những vấn đề xung quanh cuộc sống cá nhân, nữ ca sĩ thú nhận với NME rằng cô từng cân nhắc đến việc gác lại sự nghiệp âm nhạc vì cảm thấy chán nản về bản thân và "không nhìn thấy khả năng hoặc tài năng của chính mình".[6] Những phản ứng trái chiều đối với Artpop dẫn đến một sự thay đổi lớn về mặt hình ảnh của cô. Với diện mạo có phần nhẹ nhàng hơn trước truyền thông, Gaga chú trọng hơn vào khả năng thanh nhạc. Một tiết mục tri ân bộ phim The Sound of Music tại lễ trao giải Oscar lần thứ 87, nơi cô hát một liên khúc những bài hát từ bộ phim, được giới phê bình khen ngợi.[5][7] Gaga và Tony Bennett cũng phát hành Cheek to Cheek, một album song ca mang âm hưởng jazz, vào tháng 9 năm 2014 và nhận được những đánh giá tích cực.[8] Đĩa nhạc ra mắt trên đỉnh bảng xếp hạng Billboard 200, trở thành album quán quân thứ ba liên tiếp của Gaga tại Hoa Kỳ,[9] và chiến thắng một giải Grammy cho Album giọng pop truyền thống xuất sắc nhất.[10]

Ngoài ra, Gaga còn tham gia thủ vai chính trong American Horror Story: Hotel (2015–2016) thuộc mùa thứ năm của loạt phim truyền hình Mỹ American Horror Story, và chiến thắng một giải Quả cầu vàng ở hạng mục Nữ diễn viên xuất sắc nhất - Phim ngắn tập hoặc Truyền hình.[11][12] Tại lễ trao giải, nữ ca sĩ tiết lộ rằng cô sẽ phát hành album phòng thu thứ năm vào cuối năm 2016.[13][14] Trong phần lớn năm 2015 và 2016, Gaga tiết lộ quá trình thực hiện và ghi âm album trên các tài khoản mạng xã hội của cô. Nữ ca sĩ hợp tác với cộng tác viên lâu năm RedOne, cũng như những nhà sản xuất mới như Giorgio Moroder, Mark RonsonNile Rodgers.[15]

Danh sách bài hát

Joanne – Phiên bản tiêu chuẩn[16]
STTTiêu đềSáng tácSản xuấtThời lượng
1."Diamond Heart"
3:30
2."A-Yo"
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
3:28
3."Joanne"
  • Germanotta
  • Ronson
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
3:17
4."John Wayne"
  • Germanotta
  • Ronson
  • Tucker
  • Homme
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
2:54
5."Dancin' in Circles"
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
3:27
6."Perfect Illusion"
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
  • Parker
3:02
7."Million Reasons"
  • Germanotta
  • Ronson
  • Lindsey
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
3:25
8."Sinner's Prayer"
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
3:43
9."Come to Mama"
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
  • Haynie
4:15
10."Hey Girl" (hợp tác với Florence Welch)
  • Germanotta
  • Ronson
  • Welch
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
4:15
11."Angel Down"
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
3:49
Tổng thời lượng:39:05
Joanne – Phiên bản cao cấp[17]
STTTiêu đềSáng tácSản xuấtThời lượng
12."Grigio Girls"
  • Germanotta
  • Ronson
  • Tucker
  • Lindsey
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
3:00
13."Just Another Day"Germanotta
  • Gaga
  • Ronson
2:58
14."Angel Down" (băng làm việc)
  • Germanotta
  • Khayat
2:20
Tổng thời lượng:47:23
Joanne – Phiên bản tại Nhật Bản (bản nhạc bổ sung)[18]
STTTiêu đềSáng tácSản xuấtThời lượng
15."Million Reasons" (băng làm việc)
  • Germanotta
  • Ronson
  • Lindsey
  • Gaga
  • Ronson
  • BloodPop
3:23
Tổng thời lượng:50:46

Ghi chú

  • ^[a] nghĩa là đồng sản xuất

Xếp hạng

Chứng nhận

Quốc gia Chứng nhận Số đơn vị/doanh số chứng nhận
Úc (ARIA)[73] Vàng 35.000
Áo (IFPI Áo)[74] Vàng 7.500*
Canada (Music Canada)[75] Vàng 40.000^
Đan Mạch (IFPI Đan Mạch)[76] Vàng 10.000
Pháp (SNEP)[77] Vàng 50.000
Ý (FIMI)[78] Vàng 25.000*
México (AMPROFON)[79] Bạch kim 60.000
New Zealand (RMNZ)[80] Bạch kim 15.000
Na Uy (IFPI)[81] Vàng 10.000*
Ba Lan (ZPAV)[82] Bạch kim 20.000
Anh Quốc (BPI)[84] Vàng 168,564[83]
Hoa Kỳ (RIAA)[85] Bạch kim 1.000.000
Tổng hợp
Toàn cầu 1,000,000[69]

* Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ.
^ Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng.
Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ và phát trực tuyến.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Lipshutz, Jason (ngày 4 tháng 8 năm 2015). "The Do's and Don'ts of Lady Gaga's Next Album". Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  2. ^ Caulfield, Keith (ngày 20 tháng 11 năm 2013). "Lady Gaga Scores Second No. 1 Album With 'ARTPOP'". Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2013.
  3. ^ Siegel, Ben (ngày 7 tháng 7 năm 2014). "Lady Gaga dazzles fans with fun, solid show". The Buffalo News. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2016.
  4. ^ Rivera, Zayda (ngày 5 tháng 11 năm 2013). "Lady Gaga, longtime manager Troy Carter split over 'creative differences'". Daily News. New York. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2013.
  5. ^ a b Hampp, Andrew (ngày 8 tháng 3 năm 2015). "Inside Lady Gaga's Latest Reinvention (It's All Part of a Long-Term Plan)". Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2016.
  6. ^ Stubbs, Dan (ngày 21 tháng 10 năm 2016). "Lady Gaga – The Full NME Cover Interview". NME. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2016.
  7. ^ Fallon, Patrick (ngày 22 tháng 2 năm 2015). "Oscars 2015: The Show". The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2015.
  8. ^ "Cheek to Cheek – Tony Bennett and Lady Gaga". Metacritic. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2014.
  9. ^ Caulfield, Keith (ngày 1 tháng 10 năm 2014). "Tony Bennett & Lady Gaga's 'Cheek To Cheek' Debuts at No. 1". Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2014.
  10. ^ Rosen, Christopher (ngày 8 tháng 2 năm 2015). "Grammy Winners List For 2015 Includes Beyoncé, 'Frozen' & Kendrick Lamar". The Huffington Post. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  11. ^ Falcone, Dana Rose (ngày 10 tháng 9 năm 2015). "Lady Gaga joins American Horror Story Season 5". CNN. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2016.
  12. ^ Franich, Darren (ngày 14 tháng 1 năm 2016). "American Horror Story: Hotel finale recap: 'Be Our Guest'". Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2016.
  13. ^ "Lady Gaga Hints at New Album Release in 2016". Billboard. ngày 11 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016.
  14. ^ Bell, Crystal (ngày 11 tháng 1 năm 2016). "Lady Gaga Confirms New Album in 2016, And A New Look". MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016.
  15. ^ Corner, Lewis (ngày 3 tháng 8 năm 2016). "Lady Gaga's new album: Release date, songs, credits, collaborations and everything else you need to know". Digital Spy. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016.
  16. ^ "Joanne by Lady Gaga on Apple Music". iTunes Store. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2016.
  17. ^ "Joanne (Deluxe) by Lady Gaga on Apple Music". iTunes Store. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2016.
  18. ^ "Joanne [Japan Bonus Track]" (bằng tiếng Nhật). CD Japan. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2016.
  19. ^ "Los discos más vendidos". Diario de Cultura. ILHSA Grupo. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  20. ^ "Australiancharts.com – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016.
  21. ^ "Austriancharts.at – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2016.
  22. ^ "Ultratop.be – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2016.
  23. ^ "Ultratop.be – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2016.
  24. ^ "Brazil Albums: Week of November 26, 2016". Billboard for ABPD. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2016.
  25. ^ "Lady Gaga Chart History (Canadian Albums)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  26. ^ "Top Stranih [Top Foreign]" (bằng tiếng Croatia). Top Foreign Albums. Hrvatska diskografska udruga. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2016.
  27. ^ "Czech Albums – Top 100" (bằng tiếng Séc). ČNS IFPI. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. Ghi chú: Trên trang xếp hạng này, chọn 201643 trên trường này ở bên cạnh từ "Zobrazit", và sau đó nhấp qua từ để truy xuất dữ liệu bảng xếp hạng chính xác.
  28. ^ "Danishcharts.dk – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2016.
  29. ^ "Dutchcharts.nl – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2016.
  30. ^ "Lady Gaga: Joanne" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2016.
  31. ^ "Lescharts.com – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2016.
  32. ^ "Offiziellecharts.de – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment Charts. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2016.
  33. ^ "Official IFPI Charts: Top-75 Albums Sales Chart Week: 43/2016". IFPI Greece. ngày 6 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016.
  34. ^ "Album Top 40 slágerlista – 2016. 43. hét" (bằng tiếng Hungary). MAHASZ. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016.
  35. ^ "GFK Chart-Track Albums: Week 43, 2016" (bằng tiếng Anh). Chart-Track. IRMA. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2016.
  36. ^ "Italiancharts.com – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2016.
  37. ^ 31, 2016/ "Oricon Top 50 Albums: October 31, 2016" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2016.
  38. ^ "Oricon Top 50 International Albums: 2016-10-31" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2016.
  39. ^ "Top Album – Semanal (del 21 de Octubre al 27 de Octubre)" (bằng tiếng Tây Ban Nha). AMPROFON. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2016.
  40. ^ "Lady Gaga Chart History (Official Top 40 Albums)". Official Aotearoa Music Charts. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2025.
  41. ^ "Norwegiancharts.com – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016.
  42. ^ "Oficjalna lista sprzedaży :: OLiS - Official Retail Sales Chart" (bằng tiếng Ba Lan). OLiS. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Ba Lan. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2016.
  43. ^ "Portuguesecharts.com – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2016.
  44. ^ "Official Scottish Albums Chart Top 100" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016.
  45. ^ "Top 100 Slovak Albums". International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2024.
  46. ^ "Circle Albums Chart: Week 43 2016" (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2025.
  47. ^ "Circle International Albums Chart: Week 43 2016" (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2025.
  48. ^ "Spanishcharts.com – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2016.
  49. ^ "Swedishcharts.com – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016.
  50. ^ "Swisscharts.com – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2016.
  51. ^ "Official Albums Chart Top 100" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016.
  52. ^ "Lady Gaga Chart History (Billboard 200)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  53. ^ "Lady Gaga Chart History (Top Tastemaker Albums)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  54. ^ a b "Circle International Albums Chart: October 2016" (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2025.
  55. ^ "ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 100 Albums 2016". ARIA. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  56. ^ "Jaaroverzichten 2016 Albums" [Annual overviews 2016 Albums] (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2016.
  57. ^ "Rapports Annuels 2016 Albums" (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2016.
  58. ^ "Classement des 200 meilleures ventes d'albums de 2016" [Ranking the top 200 album sales of 2016] (bằng tiếng Pháp). SNEP. ngày 5 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2017.
  59. ^ "Összesített album- és válogatáslemez-lista – eladási darabszám alapján – 2016" [Combined album and compilation album list – based on number of units sold – 2016] (bằng tiếng Hungary). MAHASZ. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2017.
  60. ^ "Top of the Music FIMI-Gfk 2016" (bằng tiếng Ý). FIMI. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2016.
  61. ^ "Los más vendidos 2016" [Best sellers 2016] (bằng tiếng Tây Ban Nha). AMPROFON. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2017.
  62. ^ "2016년 Album Chart" (bằng tiếng Hàn). Circle. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2025.
  63. ^ "Top 100 Albumes 2016" (bằng tiếng Tây Ban Nha). PROMUSICAE. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  64. ^ "Schweizer Jahreshitparade Alben 2016". Hung Medien. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017.
  65. ^ "End of Year Album Chart Top 100 – 2016". Official Charts. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2016.
  66. ^ "2016 Top Billboard 200 Albums". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016.
  67. ^ "2016 Top Digital Albums". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016.
  68. ^ "2016 Top Album Sales". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016.
  69. ^ a b "Anuario SGAE 2016 (Musica Grabada)" [SGAE Yearbook 2016 (Recorded Music)] (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). SGAE. ngày 24 tháng 9 năm 2017. tr. 29. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2017.
  70. ^ "Top Canadian Albums – Year-End 2017". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
  71. ^ "Top 100 Albumes 2017" (bằng tiếng Tây Ban Nha). PROMUSICAE. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2018.
  72. ^ "Top Billboard 200 Albums – Year-End 2017". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2017.
  73. ^ "ARIA Charts – Accreditations – 2024 Albums" (PDF) (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2024.
  74. ^ "Chứng nhận album Áo – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2024.
  75. ^ "Chứng nhận album Canada – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Anh). Music Canada. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016.
  76. ^ "Chứng nhận album Đan Mạch – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Đan Mạch). IFPI Đan Mạch. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2020.
  77. ^ "Chứng nhận album Pháp – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2018.
  78. ^ "Chứng nhận album Ý – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. Chọn "2017" ở menu thả xuống "Anno". Chọn "Joanne" ở mục "Filtra". Chọn "Album e Compilation" dưới "Sezione".
  79. ^ "Certificaciones" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2018. Nhập Lady Gaga ở khúc dưới tiêu đề cột ARTISTA  và Joanne ở chỗ điền dưới cột tiêu đề TÍTULO'.
  80. ^ "Chứng nhận album New Zealand – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Anh). Radioscope. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2024. Nhập Joanne trong mục "Search:".
  81. ^ "Chứng nhận album Na Uy – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Na Uy). IFPI Na Uy. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2020.
  82. ^ "OLiS - oficjalna lista wyróżnień" (bằng tiếng Ba Lan). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Ba Lan. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2023. Bấm vào "TYTUŁ" và nhập Joanne trong hộp tìm kiếm.
  83. ^ Paine, Andre (ngày 5 tháng 6 năm 2020). "Lady Gaga scores fastest-selling album of 2020 so far". Music Week. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2020.
  84. ^ "Chứng nhận album Anh Quốc – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017.
  85. ^ "Chứng nhận album Hoa Kỳ – Lady Gaga – Joanne" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2025.

Liên kết ngoài