Bản mẫu:F1 team

Jordan Grand Prix là đội đua xe ô tô Công thức 1 thi đấu trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến 2005. Tên đội đua được đặt theo tên của người sáng lập, một doanh nhân người Ireland, ông Eddie Jordan. Đội có trụ sở tại Silverstone, Vương quốc Anh nhưng chạy đua với giấy phép của Ireland.

Có rất nhiều tay đua Công thức 1 tên tuổi đã từng là thành viên đội đua này như Rubens Barrichello, Giancarlo Fisichella, Ralf Schumacher, và đặc biệt là huyền thoại Công thức 1 người Đức Michael Schumacher.

Đầu năm 2005, đội được bán cho công ty Midland Group và sau đó thi đấu với tên gọi Midland F1.

Lịch sử

Nguồn gốc

Eddie Jordan đã là tay đua Công thức 1 vào cuối những năm 1970 trong một thời gian ngắn trước khi thành lập đội đua Eddie Jordan Racing vào đầu những năm 1980.[1] Đội lần đầu tiên trở nên nổi bật trong giải đua Công thức 3 nước Anh năm 1983 với cuộc đọ sức giữa tay đua thử nghiệm một lần của Jordan Ayrton Senna và tay đua Jordan-Ralt Martin Brundle. Brundle đã bị tay đua người Brasil vượt qua ở vòng cuối cùng của giải vô địch. Đội đã giành được chức vô địch ở giải đua Công thức Quốc tế 3000 vào năm 1988 và giành chiến thắng ở chặng đua đầu tiên ở hạng mục này với Johnny Herbert. Năm 1989, Jordan giành chức vô địch của giải F3000 với ngôi sao Công thức 1 trong tương lai Jean Alesi. Nhóm cũng đã điều hành các tay đua Công thức 1 trong tương lai như Martin DonnellyEddie Irvine trong F3000.

1991: Mùa giải đầu tiên thành công của đội

Đối với mùa giải 1991, đội Jordan tham gia Công thức 1 và nhanh chóng nhận được hỗ trợ tài chính từ Fujifilm, nhà sản xuất đồ uống 7 Up và công ty quảng cáo du lịch Ireland. Jordan 191 là chiếc xe đua đầu tiên mà đội tự thiết kế cho mùa giải này. Công việc phát triển phần lớn do kỹ sư Gary Anderson thực hiện. Chiếc xe này đã sử dụng động cơ tám xi-lanh của Cosworth. Tuy nhiên, không giống như các đội đua khách hàng khác của Cosworth, nó không phải là động cơ DFR tương đối yếu, mà là động cơ từ thế hệ HB được Benetton sử dụng độc quyền vào năm 1990.

Các tay đua chính của đội là Andrea de Cesaris, người đã mang về cho đội thêm tiền tài trợ từ Marlboro Italia, và Bertrand Gachot. Khi Gachot bị buộc tội hành hung một tài xế taxi ở Luân Đôn vào cuối mùa hè năm 1991, ông ta đã bị kết án tù. Do vậy đội đã thay thế ông ta bằng tay đua người Đức Michael Schumacher trước thềm giải đua ô tô Công thức 1 Bỉ. Thế nhưng, ngay tại cuộc đua tiếp theo, Schumacher đã chuyển sang Benetton và Jordan đã trao chỗ lái còn trống của Gachot lần lượt cho Roberto MorenoAlessandro Zanardi trong các chặng đua còn lại của mùa giải.

Mùa giải đầu tiên là một thành công: Đội là đội mới thành công nhất trong mười năm qua. De Cesaris đã hoàn thành năm cuộc đua ở vị trí tính điểm, Gachot ba lần. Ngoài ra, Gachot đã lập vòng đua nhanh nhất ở giải đua ô tô Công thức 1 Hungary. Cuộc đua của Michael Schumacher với đội đã gây chấn động: Schumacher vượt qua vòng phân hạng ở vị trí thứ bảy mặc dù ông ta đã khá bất ngờ với vị trí đó. Tuy nhiên, trong cuộc đua, ông ta đã không thể hoàn thành một vòng đua nào vì lỗi máy móc.

Jordan đã kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các tay đua với 13 điểm.

1992: Mùa giải yếu kém với động cơ Yamaha

Tập tin:1992 Jordan Yamaha 192.JPG
Chiếc xe Jordan 192 cho mùa giải Công thức 1 năm 1992

Trong mùa giải thứ hai của đội, đội Jordan đã đạt được một số thành công. Jordan đã thay đổi nhiều thiết bị kỹ thuật vào đầu mùa giải và hiện sử dụng động cơ mười hai xi-lanh của Yamaha thay vì động cơ Cosworth. Sự thay đổi chủ yếu là vì lý do tài chính: đội đang gặp khó khăn về tài chính do chi phí của mùa giải đầu tiên và do vậy đã nhận được động cơ miễn phí Yamaha ít được săn đón. Gary Anderson đã điều chỉnh khung gầm hiện có cho động cơ mới và chiếc xe đua của đội trong mùa giải này tên là Jordan 192. Tay đua chính của đội là Stefano ModenaMaurício Gugelmin.

Kết quả cuộc đua mà đội Sasol Jordan Yamaha đạt được trong năm thứ hai là một sự thất vọng so với năm đầu tiên của họ. Các nhà quan sát đánh giá diễn biến của mùa giải 1992 là một "thảm họa".[2] Tại chặng đua mở màn ở Nam Phi, Modena không vượt qua được vòng phân hạng và cũng không làm được như vậy ở các chặng đua ở Monaco, HungaryBồ Đào Nha. Theo Gary Anderson, việc không đủ tiêu chuẩn đã khiến Modena mất tinh thần: "Vì tính khí nóng nảy, Modena đã không thể vượt qua các vấn đề tâm lý. Chúng tích tụ và ngày càng làm suy yếu động lực của ông.”[2] Tổng cộng, Modena chỉ về đích bốn lần trong mùa giải này. Tại chặng đua cuối cùng của mùa giải, Modena đã về thứ 6 và ghi điểm duy nhất trong năm của Jordan. Gugelmin vượt qua ở tất cả các vòng phân hạng, nhưng không ghi được điểm nào cả. Kết quả tốt nhất của ông là vị trí thứ 7 tại giải đua ô tô Công thức 1 San Marino.

1993-1994: Sử dụng động cơ Hart

Tập tin:Jean Alesi and Rubens Barrichello 1993 Silverstone.jpg
Jean Alesi và Rubens Barrichello đọ sức với nhau tại giải đua ô tô Công thức 1 Anh 1993

Năm 1993 chứng kiến những thay đổi tiếp theo khi đội một lần nữa thay đổi nhà cung cấp động cơ và lần này đội đã chọn Hart là nhà cung cấp động cơ. Một lần nữa, mùa giải bắt đầu với hai tay đua mới Ivan Capelli và tân binh người Brasil Rubens Barrichello. Capelli rời đi chỉ sau hai cuộc đua và Barrichello chứng kiến năm tay đua khác trở thành đồng đội của mình trong suốt mùa giải 1993. Jordan chỉ cải thiện vừa phải và chỉ ghi được ba điểm. Các dấu hiệu ổn định bắt đầu xuất hiện vào gần cuối mùa giải khi Barrichello đua cùng Eddie Irvine, một cựu tay đua của Jordan trong giải đua F3000. Irvine về thứ sáu và giành được một điểm trong cuộc đua Công thức 1 đầu tiên của mình tại Suzuka. Nó còn đáng nhớ hơn nữa vì Irvine đã vượt một vòng trước Ayrton Senna của McLaren để vượt qua Damon Hill. Sau khi cuộc đua kết thúc, Senna đã đấm vào mặt Irvine sau khi Irvine đẩy ông ta vào một cuộc thảo luận nóng nảy.[3]

Barrichello và Irvine trở lại trong mùa giải 1994 và tiếp tục sử dụng động cơ Hart nhưng Irvine đã có một khởi đầu mùa giải tệ hại khi bị cấm thi đấu ở ba cuộc đua vì đua nguy hiểm liều lĩnh. Barrichello đã giúp đội về đích đầu tiên trong vị trí top 3 tại giải đua ô tô Công thức 1 Thái Bình Dưong nhưng gần thiệt mạng trong chặng đua tiếp theo ở San Marino sau một vụ va chạm kinh hoàng ở vòng phân hạng. Đội đã vượt qua những khó khăn này và trở lại phong độ ban đầu khi họ đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng các đội đua. Barrichello đã giành được vị trí pole đầu tiên cho Jordan sau một vòng phân hạng ẩm ướt ở Bỉ và đứng thứ 6 trong bảng xếp hạng các tay đua với 19 điểm. Thành tích này đã khiến các đội lớn của Công thức 1 phải sửng sốt vì một đội có kinh phí thấp như vậy với động cơ do Hart Engineering thiết kế và chế tạo đã giành được vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các đội đua với 28 điểm.

1995-1997: Sử dụng động cơ Peugeot

Tập tin:Rubens Barrichello - Imola 1996.jpg
Rubens Barrichello ở giải đua ô tô Công thức 1 San Marino 1996trường đua Imola

Sau hai năm, Jordan đã thay thế nhà cung cấp động cơ. Từ năm 1995 cho đến 1997, đội đã sử dụng động cơ mười xi-lanh của Peugeot bởi vì Eddie Jordan muốn phát triển cơ sở hạ tầng của đội tốt hơn và mức độ phát triển cao hơn từ Peugeot so với Hart.

Jordan ban đầu có thể duy trì phong độ với sự hỗ trợ của Peugeot. Trong mùa giải 1995, các tay đua Barrichello và Irvine lấy điểm thường xuyên và thỉnh thoảng lên bục vinh quang. Đối với mùa giải 1996, đội được tài trợ bởi nhãn hiệu thuốc lá Benson & Hedges cho đến năm 2002. Tuy nhiên, Irvine đã rời Jordan để tham gia Ferrari và tay đua thay thế Martin Brundle - người mà Eddie Jordan đã từng làm việc cùng nhau ở giải Công thức 3 - không thành công mặc dù có kinh nghiệm trong khi thành tích của Barrichello ổn định hơn rất nhiều. Đó là mùa giải Công thức 1 cuối cùng của Brundle và tay đua Barrichello đầy tham vọng đã chuyển sang đội Stewart mới thành lập của cựu vô địch Công thức 1 Jackie Stewart vào năm 1997.

Vào mùa giải 1997, Jordan một lần nữa sử dụng bộ đôi tay đua mới. Em trai của Michael Schumacher, Ralf, đã ra mắt với đội với tư cách là tay đua tân binh. Cùng với tay đua người Ý Giancarlo Fisichella từ Minardi, ông đã tái lập thành tích của mùa giải thành công nhất cho đội có trụ sở Silverstone cho đến nay. Vị trí thứ ba của Schumacher tại giải đua ô tô Công thức 1 Argentina ở Buenos Aires đánh dấu lần đầu tiên ông lên bục vinh quang trong chặng đua thứ 100 của đội, thế nhưng Fisichella phải bỏ cuộc sau một pha va chạm với đồng đội Schumacher. Tuy nhiên, vào cuối mùa giải, Fisichella là tay đua thành công hơn. Ông đạt vị trí thứ 8 trong bảng xếp hạng các tay đua với tổng cộng 20 điểm và đánh bại được Schumacher. Tuy nhiên, Fisichella đã quyết định rời đội và Jordan đã thay thế ông với Damon Hill, nhà vô địch Công thức 1 năm 1996.

1998-1999: Những năm thành công cuối cùng

Tập tin:Heinz-Harald Frentzen 1999 Canada.jpg
Heinz-Harald Frentzen ở giải đua ô tô Công thức 1 Canada 1999

Năm 1998, đội đã ký hợp đồng lớn nhất với cựu vô địch thế giới Damon Hill để thay thế Fisichella. Đội cũng đã thay thế nhà cung cấp động cơ Peugeot bằng động cơ Mugen Honda. Cho đến nửa đầu mùa giải, Jordan đã không ghi được một điểm nào do vấn đề về độ bền bỉ của động cơ. Vào thời điểm đó, họ đã ký hợp đồng với kỹ sư Mike Gascoyne từ đội Tyrrell để củng cố đội ngũ kỹ thuật sau khi giám đốc kỹ thuật lâu năm Gary Anderson đã từ chức vài tháng sau đó.[4][5] Với sự giúp đỡ của Gascoyne, mọi thứ đã được cải thiện đáng kể vào nửa sau mùa giải. Tại giải đua ô tô Công thức 1 Bỉ kịch tính và ẩm ướt năm đó, Hill đã mang về cho đội chiến thắng Công thức 1 đầu tiên sau khi chỉ có mỗi sáu tay đua hoàn thành cuộc đua đó. Ralf Schumacher về đích ở vị trí thứ nhì và giúp đội về đích ở hai vị trí dẫn đầu của cuộc đua đó. Tuy nhiên, đội đã khuyên Schumacher không được phép vượt Hill. Tức giận vì điều này, anh trai Michael của ông nói với đội rằng Ralf sẽ không bao giờ chạy đua cho đội nữa và mua lại hợp đồng của anh trai mình với giá 2 triệu bảng.[6] Sau mùa giải, Hill đứng thứ 6 trong bảng xếp hạng các tay đua và Ralf đứng thứ 10. Đội đã kết thúc mùa giải này ở vị trí thứ 4 với 34 điểm.

Trong mùa giải này, hai tay đua người Đức Heinz-Harald Frentzen và Ralf Schumacher đổi đội cho năm 1999 (Frentzen chuyển sang Jordan và Ralf chuyển sang Williams) và Hill tiếp tục ở lại đội. Mùa giải của Frentzen đã thành công rực rỡ sau khi ông giành được hai chiến thắng và một vị trí pole. Trong một thời gian ngắn, Frentzen đã là ứng cử viên giành chức vô địch Công thức 1 nhưng sự kém may mắn và các đội đua mạnh hơn là McLaren và Ferrari đã chấm dứt hy vọng giành chức vô địch của ông.[7] Frentzen về thứ ba trong bảng xếp hạng các tay đua và đội cũng về thứ ba trong bảng xếp hạng các tay đua với 61 điểm. Năm 1999 là mùa giải tốt nhất của đội.

Thống kê thành tích

Mùa giải Tên gọi/Biệt danh Xe đua Động cơ Hãng lốp Số đua Tay đua Tổng điểm Vị trí trong BXH
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Team 7Up Jordan 191 Ford HB4 3.5 V8 Goodyear 32.
32.
32.
32.
33.
Bản mẫu:Country data BEL Bertrand Gachot
Bản mẫu:Country data GER Michael Schumacher
Bản mẫu:Country data BRA Roberto Moreno
Bản mẫu:Country data ITA Alessandro Zanardi
Bản mẫu:Country data ITA Andrea de Cesaris
13 5
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Sasol Jordan 192 Yamaha OX99 3.5 V12 Goodyear 32.
33.
Bản mẫu:Country data ITA Stefano Modena
Bản mẫu:Country data BRA Maurício Gugelmin
1 11
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Sasol Jordan 193 Hart 1035 3.5 V10 Goodyear 14.
15.
15.
15.
15.
15.
Bản mẫu:Country data BRA Rubens Barrichello
Bản mẫu:Country data ITA Ivan Capelli
Bản mẫu:Country data BEL Thierry Boutsen
Bản mẫu:Country data ITA Marco Apicella
Bản mẫu:Country data ITA Emanuele Naspetti
Bản mẫu:Country data GBR Eddie Irvine
3 11
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Sasol Jordan 194 Hart 1035 3.5 V10 Goodyear 14.
15.
15.
15.
Bản mẫu:Country data BRA Rubens Barrichello
Bản mẫu:Country data GBR Eddie Irvine
Nhật Bản Aguri Suzuki
Bản mẫu:Country data ITA Andrea de Cesaris
28 5
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Total Jordan Peugeot 195 Peugeot A10 3.0 V10 Goodyear 14.
15.
Bản mẫu:Country data BRA Rubens Barrichello
Bản mẫu:Country data GBR Eddie Irvine
21 6
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Benson & Hedges Jordan Peugeot 196 Peugeot A12 EV5 3.0 V10 Goodyear 11.
12.
Bản mẫu:Country data BRA Rubens Barrichello
Bản mẫu:Country data GBR Martin Brundle
22 5
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Benson & Hedges Jordan Peugeot 197 Peugeot A14 3.0 V10 Goodyear 11.
12.
Bản mẫu:Country data GER Ralf Schumacher
Bản mẫu:Country data ITA Giancarlo Fisichella
33 5
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Benson & Hedges Jordan 198 Mugen-Honda MF-301 HC 3.0 V10 Goodyear 9.
10.
Bản mẫu:Country data GBR Damon Hill
Bản mẫu:Country data GER Ralf Schumacher
34 4
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Benson & Hedges Jordan 199 Mugen-Honda MF-301 HD 3.0 V10 B 7.
8.
Bản mẫu:Country data GBR Damon Hill
Bản mẫu:Country data GER Heinz-Harald Frentzen
61 3
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Benson & Hedges Jordan EJ10
EJ10B
Mugen-Honda MF-301 HE 3.0 V10 B 5.
6.
Bản mẫu:Country data GER Heinz-Harald Frentzen
Bản mẫu:Country data ITA Jarno Trulli
17 6
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Benson & Hedges Jordan Honda EJ11 Honda RA001E 3.0 V10 B 11.
11.
11./12.
12.
Bản mẫu:Country data GER Heinz-Harald Frentzen
Bản mẫu:Country data BRA Ricardo Zonta
Bản mẫu:Country data ITA Jarno Trulli
Bản mẫu:Country data FRA Jean Alesi
19 5
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE DHL Jordan Honda EJ12 Honda RA002E 3.0 V10 B 9.
10.
Bản mẫu:Country data ITA Giancarlo Fisichella
Nhật Bản Takuma Sato
9 6
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Jordan Ford EJ13 Ford RS1 3.0 V10 B 11.
12.
12.
Bản mẫu:Country data ITA Giancarlo Fisichella
Bản mẫu:Country data IRE Ralph Firman
Bản mẫu:Country data HUN Zsolt Baumgartner
13 9
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Jordan Ford EJ14 Ford RS2 3.0 V10 B 18.
19.
19.
Bản mẫu:Country data GER Nick Heidfeld
Bản mẫu:Country data ITA Giorgio Pantano
Bản mẫu:Country data GER Timo Glock
5 9
Bản mẫu:F1 Bản mẫu:Country data IRE Jordan Grand Prix EJ15
EJ15B
Toyota RVX-05 3.0 V10 B 18.
19.
Bản mẫu:Country data POR Tiago Monteiro
Bản mẫu:Country data IND Narain Karthikeyan
12 9
Mùa giải Xe đua Động cơ Hãng lốp Tay đua 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Tổng điểm Vị trí trong BXH các đội đua
Bản mẫu:F1 191 Ford HB4 3.5 V8 Goodyear USA BRA SMR MON CAN MEX FRA GBR GER HUN BEL ITA POR ESP JPN AUS 13 5
Bản mẫu:Country data BEL Bertrand Gachot 10 13 Ret 8 5 Ret Ret 6 6 Bản mẫu:F1 race position
Bản mẫu:Country data GER Michael Schumacher Ret
Bản mẫu:Country data BRA Roberto Moreno Ret 10
Bản mẫu:Country data ITA Alessandro Zanardi 9 Ret 9
Bản mẫu:Country data ITA Andrea de Cesaris DNPQ Ret Ret Ret 4 4 6 Ret 5 7 13 7 8 Ret Ret 8
Bản mẫu:F1 192 Yamaha OX99 3.5 V12 Goodyear RSA MEX BRA ESP SMR MON CAN FRA GBR GER HUN BEL ITA POR JPN AUS 1 11
Bản mẫu:Country data ITA Stefano Modena DNQ Ret Ret DNQ Ret Ret Ret Ret Ret DNQ Ret 15 DNQ 13 7 6
Bản mẫu:Country data BRA Maurício Gugelmin 11 Ret Ret Ret 7 Ret Ret Ret Ret 15 10 14 Ret Ret Ret Ret
Bản mẫu:F1 193 Hart 1035 3.5 V10 Goodyear RSA BRA EUR SMR ESP MON CAN FRA GBR GER HUN BEL ITA POR JPN AUS 3 11
Bản mẫu:Country data BRA Rubens Barrichello Ret Ret 10 Ret 12 9 Ret 7 10 Ret Ret Ret Ret 13 5 11
Bản mẫu:Country data ITA Ivan Capelli Ret DNQ
Bản mẫu:Country data BEL Thierry Boutsen Ret Ret 11 Ret 12 11 Ret 13 9 Ret
Bản mẫu:Country data ITA Marco Apicella Ret
Bản mẫu:Country data ITA Emanuele Naspetti Ret
Bản mẫu:Country data GBR Eddie Irvine 6 Ret
Bản mẫu:F1 194 Hart 1035 3.5 V10 Goodyear BRA PAC SMR MON ESP CAN FRA GBR GER HUN BEL ITA POR EUR JPN AUS 28 5
Bản mẫu:Country data BRA Rubens Barrichello 4 3 DNQ Ret Ret 7 Ret 4 Ret Ret Bản mẫu:F1 race position 4 4 12 Ret 4
Bản mẫu:Country data GBR Eddie Irvine Ret 6 Ret Ret DNS Ret Ret 13 Ret 7 4 5 Ret
Nhật Bản Aguri Suzuki Ret
Bản mẫu:Country data ITA Andrea de Cesaris Ret 4
Bản mẫu:F1 195 Peugeot A10 3.0 V10 Goodyear BRA ARG SMR ESP MON CAN FRA GBR GER HUN BEL ITA POR EUR PAC JPN AUS 21 6
Bản mẫu:Country data BRA Rubens Barrichello Ret Ret Ret 7 Ret 2 6 11 Ret 7 6 Ret 11 4 Ret Ret Ret
Bản mẫu:Country data GBR Eddie Irvine Ret Ret 8 5 Ret 3 9 Ret 9 13 Ret Ret 10 6 11 4 Ret
Bản mẫu:F1 196 Peugeot A12 EV5 3.0 V10 Goodyear AUS BRA ARG EUR SMR MON ESP CAN FRA GBR GER HUN BEL ITA POR JPN 22 5
Bản mẫu:Country data BRA Rubens Barrichello Ret Ret 4 5 5 Ret Ret Ret 9 4 6 6 Ret 5 Ret 9
Bản mẫu:Country data GBR Martin Brundle Ret 12 Ret 6 Ret Ret Ret 6 8 6 10 Ret Ret 4 9 5
Bản mẫu:F1 197 Peugeot A14 3.0 V10 Goodyear AUS BRA ARG SMR MON ESP CAN FRA GBR GER HUN BEL ITA AUT LUX JPN EUR 33 5
Bản mẫu:Country data GER Ralf Schumacher Ret Ret 3 Ret Ret Ret Ret 6 5 5 5 Ret Ret 5 Ret 9 Ret
Bản mẫu:Country data ITA Giancarlo Fisichella Ret 8 Ret 4 6 Bản mẫu:F1 race position 3 9 7 11 Ret 2 4 4 Ret 7 11
Bản mẫu:F1 198 Mugen-Honda MF-301 HC 3.0 V10 Goodyear AUS BRA ARG SMR ESP MON CAN FRA GBR AUT GER HUN BEL ITA LUX JPN 34 4
Bản mẫu:Country data GBR Damon Hill 8 DSQ 8 10 Ret 8 Ret Ret Ret 7 4 4 1 6 9 4
Bản mẫu:Country data GER Ralf Schumacher Ret Ret Ret 7 11 Ret Ret 16 6 5 6 9 2 3 Ret Ret
Bản mẫu:F1 199 Mugen-Honda MF-301 HD 3.0 V10 B AUS BRA SMR MON ESP CAN FRA GBR AUT GER HUN BEL ITA EUR MAL JPN 61 3
Bản mẫu:Country data GBR Damon Hill Ret Ret 4 Ret 7 Ret Ret 5 8 Ret 6 6 10 Ret Ret Ret
Bản mẫu:Country data GER Heinz-Harald Frentzen 2 3 Ret 4 Ret 11 1 4 4 3 4 3 1 Bản mẫu:F1 race position 6 4
Bản mẫu:F1 EJ10(EJ10B) Mugen-Honda MF-301 HE 3.0 V10 B AUS BRA SMR GBR ESP EUR MON CAN FRA AUT GER HUN BEL ITA USA JPN MAL 17 6
Bản mẫu:Country data GER Heinz-Harald Frentzen Ret 3 Ret 17 6 Ret 10 Ret 7 Ret Ret 6 6 Ret 3 Ret Ret
Bản mẫu:Country data ITA Jarno Trulli Ret 4 15 6 12 Ret Ret 6 6 Ret 9 7 Ret Ret Ret 13 12
Bản mẫu:F1 EJ11 Honda RA001E 3.0 V10 B AUS MAL BRA SMR ESP AUT MON CAN EUR FRA GBR GER HUN BEL ITA USA JPN 19 5
Bản mẫu:Country data GER Heinz-Harald Frentzen 5 4 11 6 Ret Ret Ret PO Ret 8 7
Bản mẫu:Country data BRA Ricardo Zonta 7 Ret
Bản mẫu:Country data FRA Jean Alesi 10 6 8 7 Ret
Bản mẫu:Country data ITA Jarno Trulli Ret 8 5 5 4 DSQ Ret 11 Ret 5 Ret Ret Ret Ret Ret 4 8
Bản mẫu:F1 EJ12 Honda RA002E 3.0 V10 B AUS MAL BRA SMR ESP AUT MON CAN EUR GBR FRA GER HUN BEL ITA USA JPN 9 6
Bản mẫu:Country data ITA Giancarlo Fisichella Ret 13 Ret Ret Ret 5 5 5 Ret 7 DNQ Ret 6 Ret 8 7 Ret
Nhật Bản Takuma Sato Ret 9 9 Ret Ret Ret Ret 10 16 Ret Ret 8 10 11 12 11 5
Bản mẫu:F1 EJ13 Ford RS1 3.0 V10 B AUS MAL BRA SMR ESP AUT MON CAN EUR FRA GBR GER HUN ITA USA JPN 13 9
Bản mẫu:Country data ITA Giancarlo Fisichella 12 Ret 1 15 Ret Ret 10 Ret 12 Ret Ret 13 Ret 10 7 Ret
Bản mẫu:Country data IRE Ralph Firman Ret 10 Ret Ret 8 11 12 Ret 11 15 13 Ret Ret 14
Bản mẫu:Country data HUN Zsolt Baumgartner Ret 11
Bản mẫu:F1 EJ14 Ford RS2 3.0 V10 B AUS MAL BHR SMR ESP MON EUR CAN USA FRA GBR GER HUN BEL ITA CHN JPN BRA 5 9
Bản mẫu:Country data GER Nick Heidfeld Ret Ret 15 Ret Ret 7 10 8 Ret 16 15 Ret 12 11 14 13 13 Ret
Bản mẫu:Country data ITA Giorgio Pantano 14 13 16 Ret Ret Ret 13 Ret 17 Ret 15 Ret Ret Ret
Bản mẫu:Country data GER Timo Glock 7 15 15 15
Bản mẫu:F1 EJ15(EJ15B) Toyota RVX-05 3.0 V10 B AUS MAL BHR SMR ESP MON EUR CAN USA FRA GBR GER HUN TUR ITA BEL BRA JPN CHN 12 9
Bản mẫu:Country data POR Tiago Monteiro 16 12 10 13 12 13 15 10 3 13 17 17 13 15 17 8 Ret 13 11
Bản mẫu:Country data IND Narain Karthikeyan 15 11 Ret 12 13 Ret 16 Ret 4 15 Ret 16 12 14 20 11 15 15 Ret

Chú thích cho bảng điểm trên:Bản mẫu:F1 driver results legend 8

Tham khảo

  1. ^ Jordan, Eddie (2007). An Independent Man. Orion Books. ISBN 978-0-7528-8950-4.
  2. ^ a ă Autocourse : the world's leading grand prix annual 1992-93. [Place of publication not identified]: Hazleton Pub. 1992. ISBN 0-905138-96-1. OCLC 650093546.
  3. ^ "Ayrton Senna Suzuka 1993". www.themagicofsenna.com. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  4. ^ "Gascoyne joins Jordan". atlasf1.com. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2023.
  5. ^ "Gary Anderson leaves Jordan GP". Motorsport.com. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2023.[liên kết hỏng]
  6. ^ "How 2 Million Pounds Helped Michael Schumacher Rescue his Brother Ralf". EssentiallySports. ngày 7 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2023.
  7. ^ "The day Jordan's F1 title dream soared then died". The Race (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2023.