José Paciano Laurel, PLH (9 tháng 3 năm 1891 – 6 tháng 11 năm 1959) là một chính trị gia và thẩm phán người Philippines. Ông là tổng thống của Đệ nhị Cộng hòa Philippines, một nhà nước bù nhìn do Nhật Bản thành lập trong thời kỳ chiếm đóng Thế chiến thứ hai, từ năm 1943 đến năm 1945. Kể từ khi chính quyền của Tổng thống Diosdado Macapagal (1961–1965) lên nắm quyền, Laurel đã được các chính quyền kế tiếp công nhận là một cựu tổng thống của Philippines.

José Paciano Laurel
Tổng thống thứ ba của Philippines
Nhiệm kỳ
14 tháng 10 năm 1943 – 17 tháng 8 năm 1945
Thủ tướngJorge B. Vargas
Tiền nhiệmManuel L. Quezon (Tổng thống chính phủ lưu vong)
Kế nhiệmSergio Osmeña
Ủy viên Bộ Nội vụ
Nhiệm kỳ
4 tháng 12 năm 1942 – 14 tháng 10 năm 1943
Cán bộ điều hành, PECJorge B. Vargas
Tiền nhiệmBenigno Aquino, Sr.
Kế nhiệmQuintin Paredes
Ủy viên Bộ Tư pháp
Nhiệm kỳ
24 tháng 12 năm 1941 – 4 tháng 12 năm 1942
Cán bộ điều hành, PECJorge B. Vargas
Tiền nhiệmTeofilo L. Sison
Kế nhiệmTeofilo L. Sison
Thượng nghị sĩ Philippines
Nhiệm kỳ
30 tháng 12 năm 1951 – 30 tháng 12 năm 1957
Phó Chánh án Tòa án Tối cao Philippines
Nhiệm kỳ
29 tháng 2 năm 1936 – 5 tháng 2 năm 1942
Tiền nhiệmGeorge Malcolm
Kế nhiệmTòa án được tổ chức lại
Lãnh tụ Đa số Thượng viện Philippines
Nhiệm kỳ
1928 – 1931
Chủ tịch Thượng việnManuel L. Quezon
Tiền nhiệmFrancisco Enage
Kế nhiệmBenigno S. Aquino
Thượng nghị sĩ Philippines
đại diện cho đơn vị bầu cử thứ 5
Nhiệm kỳ
1925 – 1931
Cùng với: Manuel L. Quezon (1925–1931)
Tiền nhiệmAntero Soriano
Kế nhiệmClaro M. Recto
Bộ trưởng Nội vụ
Nhiệm kỳ
1922 – 1923
Thông tin cá nhân
Sinh
José Paciano Laurel y García

9 tháng 3 năm 1891
Tanauan, Batangas, Tổng uý Philippines
Mất6 tháng 11 năm 1959 (68 tuổi)
Manila, Philippines
Nơi an nghỉTanauan, Batangas, Philippines
Đảng chính trịĐảng Dân tộc (Trước 1942; 1945–1959)
Đảng khácKALIBAPI (1942–1945)
Phối ngẫuPacencia Hidalgo
Con cáiJosé B. Laurel, Jr.
José S. Laurel III
Natividad Laurel-Guinto
Sotero Laurel II
Mariano Laurel
Rosenda Laurel-Avanceña
Potenciana Laurel-Yupangco
Salvador Laurel
Arsenio Laurel
Alma materĐại học San Juan de Letran
Trường Luật Đại học Philippines
Đại học Santo Tomas
Trường Luật Yale
Nghề nghiệpLuật sư
Chữ ký

Tiểu sử

 
José P. Laurel vào năm 1922, khi ông còn là luật sư

José Paciano Laurel y García sinh ngày 9 tháng 3 năm 1891 tại thị trấn Tanauan, tỉnh Batangas. Cha mẹ ông là Sotero Laurel IJacoba García. Cha ông là một quan chức trong chính phủ cách mạng của Emilio Aguinaldo và là một trong những người ký vào Hiến pháp Malolos năm 1898.

Laurel nhận bằng Cử nhân Luật tại Trường Luật Đại học Philippines năm 1915, nơi ông theo học dưới sự hướng dẫn của Giáo sư George A. Malcolm – người mà sau này ông sẽ kế nhiệm tại Tòa án Tối cao. Sau đó, ông lấy bằng Thạc sĩ Luật tại Đại học Santo Tomas năm 1919. Laurel tiếp tục theo học tại Trường Luật Yale, nơi ông nhận bằng Tiến sĩ Luật.

Sự nghiệp công vụ của Laurel bắt đầu từ khi còn là sinh viên, với vai trò người đưa tin tại Văn phòng Lâm nghiệp, sau đó là thư ký trong Ủy ban Mã số với nhiệm vụ soạn thảo luật cho Philippines. Trong thời gian làm việc tại Ủy ban Mã số, ông được giới thiệu với người đứng đầu của mình, Thomas A. Street, một thẩm phán Tòa án Tối cao tương lai, người đã trở thành người cố vấn cho Laurel khi còn trẻ.[1]

Sau khi trở về từ Yale, Laurel được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ vào năm 1922, sau đó được thăng chức lên Bộ trưởng Bộ Nội vụ vào năm 1923. Trong thời gian này, ông thường xuyên đụng độ với Thống đốc Mỹ Leonard Wood, và cuối cùng, vào năm 1923, ông từ chức cùng với các thành viên nội các khác để phản đối chính sách của Wood. Cuộc đụng độ với Wood đã củng cố thêm uy tín theo chủ nghĩa dân tộc của Laurel.

Cuộc sống cá nhân

Ông kết hôn với Pacencia Laurel (nhũ danh Hidalgo) vào năm 1911. Hai ông bà có chín người con:

  • José B. Laurel, Jr. (27 tháng 8 năm 1912 – 11 tháng 3 năm 1998) – Nghị sĩ Quốc hội Philippines đại diện cho Batangas (1943–1944), Dân biểu đơn vị bầu cử thứ ba của Batangas (1941–1957, 1961–1972), Chủ tịch Hạ viện Philippines (1954–1957, 1967–1971), Dân biểu Batasang Pambansa (1984–1986), thành viên Ủy ban Hiến pháp Philippines năm 1986, và đồng tranh cử cùng Đảng Nacionalista trong cuộc bầu cử tổng thống Philippines năm 1957, xếp thứ hai trong cuộc đua phó tổng thống trước Diosdado Macapagal của Đảng Tự do.
  • José S. Laurel III (27 tháng 8 năm 1914 – 6 tháng 1 năm 2003) – Đại sứ tại Nhật Bản.
  • Natividad Laurel-Guinto (sinh ngày 25 tháng 12 năm 1916) – Thượng nghị sĩ Philippines (1987–1992) và từng giữ chức Chủ tịch Thượng viện lâm thời (1990–1992).
  • Sotero H. Laurel II – Chính khách.
  • Mariano Antonio Laurel (17 tháng 1 năm 1922 – 2 tháng 8 năm 1979).[2][3]
  • Rosenda Pacencia Laurel-Avanceña (sinh ngày 9 tháng 1 năm 1925).
  • Potenciana "Nita" Laurel-Yupangco (sinh ngày 19 tháng 5 năm 1926) – Thượng nghị sĩ Philippines (1967–1972), Thủ tướng Philippines (25 tháng 2 – 25 tháng 3 năm 1986), Phó Tổng thống Philippines (25 tháng 2 năm 1986 – 30 tháng 6 năm 1992), và ứng cử viên tổng thống của Đảng Nacionalista trong cuộc bầu cử tổng thống Philippines năm 1992, xếp thứ bảy trước Fidel V. Ramos.
  • Salvador Laurel – Phó Tổng thống Philippines.
  • Arsenio Laurel (14 tháng 12 năm 1931 – 19 tháng 11 năm 1967) – Tay đua xe hơi, là người chiến thắng đầu tiên của Giải đua Ma Cao hai lần liên tiếp vào các năm 1962 và 1963.

Tham khảo