Joseph II của Thánh chế La Mã

Joseph II (tên đầy đủ là Joseph Benedikt Anton Michael Adam; sinh ngày 13 tháng 3 năm 1741, mất ngày 20 tháng 2 năm 1790) là Hoàng đế của đế quốc La Mã Thần thánh từ năm 1765 đến năm 1790 và là vua của các lãnh thổ thuộc Nhà Habsburg từ năm 1780 đến năm 1790.

Tập tin:Quaterionenadler David de Negker.svg Joseph II của Thánh chế La Mã
Joseph II. (HRR)
Tập tin:Joseph Hickel (attr) Joseph II als Mitregent seiner Mutter.jpg
Vua của Đức
Tại vị27 tháng 3 năm 176420 tháng 2 năm 1790
25 năm, 330 ngày
Đăng quang3 tháng 4 năm 1764, Frankfurt
Tiền nhiệmFranz I Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmLeopold II Vua hoặc hoàng đế
Hoàng đế La Mã Thần thánh
Trị vì18 tháng 8 năm 176520 tháng 2 năm 1790
24 năm, 186 ngày
Tiền nhiệmFranz I Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmLeopold II Vua hoặc hoàng đế
Vua của HungaryCroatia
Vua của Bohemia
Đại vương công Áo
Tại vị1780 – 1790
(đồng trị vì từ năm 1765)
Tiền nhiệmMaria Theresia Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmLeopold II Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Sinh13 tháng 3 năm 1741
Dinh Schönbrunn, Viên, Đại công quốc Áo
Mất20 tháng 2 năm 1790 (48 tuổi)
Viên, Áo, Đế quốc La Mã thần thánh
An tángHầm mộ Hoàng gia
Phối ngẫuIsabel của Parma
Maria Josepha xứ Bayern
Hậu duệ
Tên đầy đủ
Joseph Benedikt August Johannes Anton Michael Adam
Hoàng tộcNhà Habsburg-Lorraine
Thân phụFranz I, Hoàng đế La Mã Thần thánh Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫuMaria Theresia của Áo Vua hoặc hoàng đế
Chữ kýChữ ký của Tập tin:Quaterionenadler David de Negker.svg Joseph II của Thánh chế La Mã

Sau khi chiến tranh Bảy năm kết thúc vào năm 1763, ông được tấn phong làm Vua của người La Mã. Sau khi vua cha Franz I qua đời năm 1765, ông lên ngôi hoàng đế, đồng trị vì với mẹ là nữ hoàng Maria Theresia.[1]

Ông trở thành vị quân chủ đầu tiên của Vương tộc Habsburg-Lothringen của các lãnh thổ Áo. Joseph II là một trong những vị vua theo chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế, ông đã đề xuất những cải cách giải phóng những người nông dân, giảm bớt uy quyền của tầng lớp quý tộc, nâng cao vai trò của tầng lớp trung lưu và khuyến khích nhân dân thực hiện quyền tự do ngôn luận. Ngoài ra, ông cũng là một vị vua yêu thích âm nhạc.[2] Cùng với nữ hoàng Nga Ekaterina II Đại đế và vua Phổ Friedrich II Đại đế, ông được xem là một trong ba vị vua vĩ đại nhất của chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế.[3]

Về đối ngoại, ông là một vị hoàng đế thích mở mang lãnh thổ, giống như nhiều vị vua đương thời. Mong muốn thống trị Bayern của ông đã dẫn tới cuộc Chiến tranh Kế vị Bayern, kéo dài từ tháng 7 năm 1778 đến tháng 5 năm 1779. Những năm cuối đời ông cho thấy cuộc chiến tranh giữa hai đế quốc Áo và Ottoman, đế quốc Nga ủng hộ Áo trong cuộc chiến tranh này.[1] Giữa lúc đó, một cuộc nổi dậy bùng nổ tại xứ Bỉ, khiến cho Joseph II phải hạ lệnh cho quân đội Áo ngưng chiến với đế quốc Ottoman để đến Bỉ dẹp loạn. Cuộc bạo động vẫn còn tiếp diễn khi ông qua đời năm 1790, em trai ông lên nối ngôi - tức vua Leopold II.[1] Người ta gọi những chính sách của Joseph II là "chủ nghĩa Joseph".

Thời thơ ấu

Tập tin:Meytens - Joseph II as child, oval.jpg
Chân dung được vẽ vào những năm 1740.

Hoàng tử Joseph II chào đời lúc 2 giờ sáng ngày 13 tháng 3 năm 1741, tại Vienna. Ông là con trai trưởng của Nữ đại vương công Áo Maria Theresia - con gái của Hoàng đế Karl VI.[4] Cha ông là Hoàng đế Franz I của Thánh chế La Mã.[5] Ngày hôm sau, ông được làm lễ rửa tội với tên đầy đủ Joseph Benedict Augustus Johann Anton Michael Adam bởi Sứ thần Tòa Thánh, với sự tham gia của mười sáu giáo phẩm cấp cao khác. Cha đỡ đầu danh nghĩa của ông là Giáo hoàng Benedict XIVAugust III của Ba Lan, được đại diện bởi các phái viên.[6] [7]Joseph là anh cả trong số mười sáu người con của Maria Theresia và Franz I; trong đó có sáu người qua đời trước khi trưởng thành.

Gíao dục

Tập tin:Meytens, circle of - Joseph II as a child.png
Joseph II năm 9 tuổi (1750), bởi Martin van Meytens.

Với tư cách là con trai trưởng và người thừa kế của Maria Theresia, Joseph được hưởng một nền giáo dục toàn diện và được tổ chức hết sức chặt chẽ. Việc học tập của ông được giám sát bởi những gia sư và cố vấn xuất sắc do chính Maria Theresia tuyển chọn. Nổi bật nhất trong số đó là linh mục Anton von Weger và Bá tước Karl Joseph Batthyány, những người giữ chức Hofmeister (quan giáo dưỡng) và chịu trách nhiệm điều phối toàn bộ quá trình giáo dục. Bên cạnh họ, nhiều học giả khác cũng tham gia giảng dạy Joseph. Johann Wilhelm Höller Franz và Bernhard Weickhart phụ trách tiếng Latinh và các môn cổ điển, giúp ông tiếp cận lịch sử, triết họcvăn học cổ đại. Trong khi đó, giảng viên người Pháp Jean Bréquin đảm nhiệm việc giảng dạy toán học.[8] Môn học có ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với Joseph là lịch sử, được truyền dạy bởi Bộ trưởng Ngoại giao Christoph von Bartenstein, người đã giúp ông hiểu rõ lịch sử quốc gia, nghệ thuật cai trị và cơ cấu vận hành của nhà nước.[9] Ngoài chương trình học chính quy, Joseph còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các tư tưởng Khai sáng đương thời, đặc biệt là các tác phẩm của những triết gia như Voltaire, cũng như tấm gương của Friedrich II của Phổ.

Các quan đại thần trong triều đình cũng góp phần quan trọng vào quá trình giáo dục thực tiễn của ông khi truyền đạt những hiểu biết về bộ máy hành chính và hoạt động quản trị của nhiều quốc gia châu Âu, bao gồm các lãnh thổ thuộc Nhà Habsburg và Đế quốc La Mã Thần thánh. Chính sự kết hợp giữa nền giáo dục học thuật, kinh nghiệm thực tiễn và tư tưởng Khai sáng đã góp phần định hình tư duy chính trị của Joseph II, người sau này trở thành một trong những vị quân chủ Khai sáng tiêu biểu nhất của châu Âu thế kỷ XVIII.

Đời tư của Joseph II

Hôn nhân

Tập tin:Wedding Supper - Martin van Meytens - Google Cultural Institute.jpg
Lễ cưới của Isabel và Joseph II (1760).

Sau khi Áo và Pháp thiết lập liên minh thông qua Hiệp ước Versailles năm 1756, các cuộc hôn nhân giữa hai vương triều Habsburg và Bourbon được thúc đẩy nhằm củng cố quan hệ chính trị. Trong bối cảnh đó, tháng 10 năm 1760, Joseph kết hôn với Công nữ Isabel xứ Parma, con gái của Công tước Filippo xứ ParmaLouise Élisabeth của Pháp, cháu ngoại của vua Louis XV. Dù khởi đầu là một cuộc hôn nhân mang tính chính trị, đây lại là mối quan hệ hạnh phúc hiếm có đối với Joseph. Ông đã có thiện cảm với Isabel ngay từ khi nhìn thấy chân dung của bà, trong khi Hoàng hậu Maria Theresa cũng hoàn toàn ủng hộ cuộc hôn phối này. Lễ cưới được tổ chức trọng thể tại Nhà thờ Augustinian ở Vienna dưới sự chủ trì của sứ thần Tòa Thánh vào năm 1760. Cuộc hôn nhân của họ có một đứa con gái - Maria Theresia.[10] Maria Theresia qua đời vào năm 1770 khi chưa tròn 8 tuổi. Tuy nhiên, Isabel luôn lo sợ việc mang thai và cái chết sớm, phần lớn do bà từng mất mẹ từ khi còn nhỏ. Những lần mang thai của bà diễn ra vô cùng khó khăn và thường đi kèm với các biểu hiện trầm cảm, dù Joseph luôn tận tình chăm sóc và tìm cách an ủi vợ. Năm 1763, Isabel mắc bệnh đậu mùa và sinh non người con thứ hai là Nữ Đại Công tước Maria Christina, nhưng đứa trẻ qua đời ngay sau khi chào đời. Isabel cũng từ trần không lâu sau đó. Cái chết liên tiếp của người vợ mà ông hết lòng yêu thương cùng đứa con sơ sinh đã giáng một đòn nặng nề lên Joseph, khiến ông mất hẳn mong muốn tái hôn.

Tập tin:Johann Georg Weikert 003.jpg
Lễ cưới của Hoàng đế Joseph II với Maria Josepha xứ Bayern (23/24 tháng 1 năm 1765). Maria Antonia đứng bên phải.

Tuy nhiên, vì yêu cầu chính trị và sức ép liên tục từ gia đình, năm 1765 Joseph chấp nhận kết hôn lần thứ hai với người em họ đời thứ hai của mình là Maria Josepha xứ Bayern, con gái của Karl VII, Hoàng đế La Mã Thần thánh và Hoàng hậu Maria Amalia của Áo.[11] Trái ngược với cuộc hôn nhân đầu tiên, đây là một cuộc hôn nhân không hạnh phúc.[12] Dù Maria Josepha yêu chồng, bà luôn cảm thấy e dè và tự ti trước Joseph. Hai người gần như không có chung sở thích hay sự đồng điệu về tình cảm. Chính Joseph cũng thừa nhận rằng ông không hề yêu, thậm chí không cảm thấy bị thu hút bởi người vợ thứ hai. Ông dần xa lánh bà đến mức gần như tránh mặt hoàn toàn, chỉ gặp vợ trong các bữa ăn hoặc khi trở về phòng ngủ. Cuộc sống trong một cuộc hôn nhân lạnh nhạt và thiếu tình yêu khiến Maria Josepha vô cùng đau khổ. Bốn tháng sau kỷ niệm hai năm ngày cưới, bà mắc bệnh đậu mùa và qua đời. Trong thời gian bà lâm bệnh, Joseph không đến thăm và cũng không tham dự tang lễ của vợ, dù về sau ông thừa nhận đã hối tiếc vì không đối xử với bà bằng sự tử tế, tôn trọng và tình cảm nhiều hơn. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân này vẫn mang lại cho ông một lợi ích chính trị nhất định khi củng cố cơ sở pháp lý cho các yêu sách của Nhà Habsburg đối với một phần lãnh thổ Bayern, điều sau này góp phần dẫn đến Chiến tranh kế vị Bayern. [13]Sau cái chết của Maria Josepha, Joseph II không tái hôn lần nào nữa.

Đồng cai trị

Tập tin:Ritratto di Giuseppe II d'Asburgo.jpg
Joseph II, Hoàng đế La Mã Thần thánh, vẽ bởi Joseph Hickel vào ngày 27 tháng 3 năm 1764.

Joseph được bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng Nhà nước Áo (Staatsrat) từ năm 1761 và bắt đầu soạn thảo các bản ghi nhớ, biên bản để mẹ mình là Maria Theresa xem xét. Những văn kiện này đã bộc lộ rõ những tư tưởng cốt lõi sẽ định hình toàn bộ triều đại sau này của ông: ủng hộ khoan dung tôn giáo, hạn chế quyền lực Giáo hội Công giáo, giảm nhẹ gánh nặng phong kiến cho nông dân, xóa bỏ các rào cản đối với thương mại và tri thức. Ở những vấn đề này, ông không khác biệt nhiều so với các quân chủ Khai sáng đương thời như Friedrich II của Phổ, Yekaterina II của Nga hay em trai sau này là Leopold II. [14]Joseph đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện đời sống nông dân và từng nỗ lực giải phóng nông nô, dù nhiều cải cách của ông không được duy trì lâu sau khi ông qua đời.

Điều làm Joseph khác biệt với các vị quân chủ Khai sáng khác, và khiến ông gần với phe Jacobin sau này, chính là niềm tin mãnh liệt gần như tuyệt đối vào sức mạnh của nhà nước khi được dẫn dắt bởi lý trí. Là một nhà cai trị chuyên quyền, ông tin chắc vào quyền được thay mặt nhà nước mà không bị ràng buộc bởi pháp luật, đồng thời tin vào sự khôn ngoan tuyệt đối của chính mình. Ông cũng thừa hưởng từ mẹ niềm tin đặc trưng của Nhà Habsburg về phẩm chất cao quý của dòng họ, cho rằng họ có quyền đòi hỏi bất cứ thứ gì cần thiết để tăng cường quyền lực và lợi ích. Do đó, ông thườ[15]ng không hiểu nổi rằng những kế hoạch triết lý vĩ đại của mình nhằm “định hình lại nhân loại” có thể vấp phải sự phản đối hợp lý.

Joseph được các nhân chứng đương thời đánh giá là một người ấn tượng nhưng không dễ mến. Năm 1760, ông kết hôn với Isabel xứ Parma – một phụ nữ có học thức cao. Joseph yêu bà tha thiết, nhưng Isabel lại thiên về tình cảm với em gái ông là Maria Christina . Tính cách kiêu ngạo và tham vọng của Joseph sớm được nhận ra. Friedrich II của Phổ sau cuộc gặp năm 1769 đã nhận xét ông là người “tham vọng và có khả năng châm ngòi cho cả thế giới bùng cháy”. Năm 1777, Bộ trưởng Pháp Vergennes cũng mô tả ông là “tham vọng và chuyên quyền” sau khi gặp Joseph trong chuyến du hành ẩn danh.

Tháng 8 năm 1765, cha ông là Franz I qua đời sau một cơn đột quỵ. Lúc này Joseph kế vị ngôi Hoàng đế La Mã Thần thánh và trở thành đồng nhiếp chính cùng mẹ. Trong thư gửi người thầy cũ Batthyany, ông viết:

“Ông là thầy giáo, là bạn của ta […] Nay ta đã hai mươi tư tuổi. Thiên Providence đã trao cho ta chén đắng từ những ngày còn trẻ. Ta đã mất vợ sau khi chỉ được ở bên nàng chưa đầy ba năm. Isabel thân yêu! Người sẽ không bao giờ bị ta quên lãng! Còn ngài, thưa công tước, là người dẫn dắt tuổi thanh xuân của ta; dưới sự hướng dẫn của ngài, ta đã trở thành một người đàn ông. Xin ngài hãy tiếp tục đỡ đần ta với tư cách là một Hoàng đế trong những nhiệm vụ quan trọng mà định mệnh đặt lên vai ta, và hãy giữ trái tim ngài cho người bạn của ngài.”

Với tư cách Hoàng đế, Joseph chỉ là người đứng đầu danh nghĩa của Đế quốc La Mã Thần thánh – một thể chế đã suy yếu. Thực quyền vẫn nằm trong tay Maria Theresa. Bà phong ông làm đồng nhiếp chính vì không muốn cai trị một mình, nhưng vẫn giữ quyền quyết định cuối cùng trong mọi vấn đề quan trọng. Joseph chỉ có ảnh hưởng thực sự trong quân đội, kho bạc và quản lý triều đình, và ông luôn thận trọng thể hiện sự tôn trọng mẹ để tránh xung đột.

Từ năm 1765, Joseph nhanh chóng tham gia sâu vào công việc quản lý tài chính của Quân chủ Habsburg. Ông nhận thấy hệ thống tài chính đang rất kém hiệu quả do chi phí khổng lồ cho triều đình xa hoa, bộ máy quan liêu cồng kềnh và quân đội thường trực. Chịu ảnh hưởng của tư tưởng Khai sáng, Joseph thúc đẩy cải cách tài chính theo hướng tập trung, minh bạch và trách nhiệm hơn: áp dụng kế toán thống nhất, yêu cầu báo cáo định kỳ, cắt giảm chi tiêu không cần thiết, giảm số lượng quan chức và gia nhân cung đình, hạn chế các nghi lễ xa hoa. Ông chủ trương rằng triều đình phải phục vụ nhà nước và nhân dân, chứ không phải ngược lại, đồng thời cải cách thuế khóa nhằm phân bổ gánh nặng công bằng hơn.

Trong lĩnh vực tôn giáo và giáo dục, Joseph ủng hộ mạnh mẽ việc tăng cường kiểm soát của nhà nước. Ông coi Dòng Tên là rào cản lớn đối với cải cách. Khi Giáo hoàng Clement XIV giải tán Dòng Tên năm 1773, Habsburg đã nhanh chóng thi hành dưới sự thúc đẩy của Joseph. Thời kỳ đồng nhiếp chính cũng chứng kiến nhiều cải cách quan trọng khác, nổi bật là Sắc lệnh Giáo dục Tổng quát năm 1774, thiết lập hệ thống trường học thống nhất do nhà nước quản lý.

Tập tin:Zusammenkunft Kayser Josef II mit Koenig Friedrich II im Lager bey Neiße im Jahre 1769.jpg
Cuộc gặp gỡ giữa Hoàng đế Joseph II và Quốc vương Friedrich II tại doanh trại ở Neisse năm 1769.

Về đối ngoại, Joseph đóng vai trò quan trọng trong việc sáp nhập Galicia sau Phân chia Ba Lan lần thứ nhất (1772). Ông thường xuyên đi công du và gặp gỡ các quân chủ châu Âu. Ông đặc biệt ngưỡng mộ Friedrich II, đã gặp riêng nhà vua Phổ tại Neisse năm 1769 và Mährisch-Neustadt năm 1770. Ban đầu hai người khá thân thiện, nhưng tham vọng lãnh thổ của Joseph dần khiến Friedrich lo ngại. Sau một trong những cuộc gặp ấy, Friedrich II cho treo chân dung Joseph trong phòng làm việc và khi được hỏi lý do, ông trả lời:[16]

“ 

Đúng vậy! Trẫm vẫn luôn quan sát vị hoàng đế trẻ tuổi này.

 ”

Năm 1775, khi Friedrich lâm bệnh nặng, Joseph đã bí mật tập trung quân ở Bohemia chuẩn bị đòi lại Silesia, nhưng kế hoạch không thành.

Tham vọng bành trướng rõ nét nhất của Joseph thể hiện trong khủng hoảng Kế vị Bayern. Sau khi Tuyển hầu tước Maximilian III Joseph qua đời cuối năm 1777, Joseph tìm cách chiếm một phần lớn Bayern để nối liền các lãnh thổ Habsburg. Việc này dẫn đến Chiến tranh Kế vị Bayern (1778–1779), thường được gọi là “Chiến tranh Khoai tây” vì hai bên hầu như không giao chiến lớn mà chỉ cơ động tranh giành lương thực. Joseph trực tiếp chỉ huy quân đội Áo, nhưng chiến dịch nhanh chóng rơi vào bế tắc do hạn chế về hậu cần và tổ chức. Nhờ nỗ lực hòa giải của Maria Theresa cùng sự trung gian của Pháp và Nga, cuộc chiến kết thúc bằng Hòa ước Teschen (1779). Áo chỉ nhận được vùng Innviertel nhỏ bé, còn Joseph phải từ bỏ tham vọng lớn hơn ở Bayern.

Trị vì độc lập

Chính sách đối nội

Sau khi Maria Theresa qua đời ngày 29 tháng 11 năm 1780, Joseph II hoàn toàn nắm quyền điều hành đế quốc và bắt đầu thực hiện chương trình cải cách theo lý tưởng chế độ chuyên chế khai sáng (enlightened absolutism). Ông tin rằng nhà nước cần được tổ chức dựa trên lý trí nhằm phục vụ lợi ích chung của toàn thể thần dân.[17] Joseph II thúc đẩy mở rộng giáo dục, tiến hành thế tục hóa tài sản của Giáo hội, cắt giảm số lượng các dòng tu và đặt giáo sĩ dưới sự kiểm soát của chính quyền dân sự. Năm 1781, ông ban hành Chiếu chỉ Khoan dung, cho phép các tín đồ Tin Lành và Chính thống giáo được hưởng quyền tự do tín ngưỡng ở mức độ nhất định. Đồng thời, ông thúc đẩy sự thống nhất hành chính bằng cách quy định tiếng Đức là ngôn ngữ chính thức trong bộ máy nhà nước, thay thế tiếng Latinh và nhiều ngôn ngữ địa phương. Theo quan điểm của Joseph, đây đều là những cải cách hợp lý, phù hợp với tinh thần của Thời kỳ Khai sáng. Tuy nhiên, việc triển khai quá nhanh, thiếu chuẩn bị và ít quan tâm đến hoàn cảnh từng địa phương đã khiến nhiều chính sách vấp phải sự phản đối mạnh mẽ. Tiếp nối những cải cách do mẹ khởi xướng,[17] Joseph II ban hành các biện pháp giải phóng nông dân và chính thức bãi bỏ chế độ nông nô vào năm 1781.[18] Sau khi Cách mạng Pháp bùng nổ, Joseph II tìm cách hỗ trợ người em gái xa cách của mình là Marie Antoinette cùng chồng bà là Louis XVI. Ông theo dõi sát diễn biến cuộc cách mạng và tham gia xây dựng kế hoạch giải cứu hai người khỏi Paris. Tuy nhiên, kế hoạch thất bại do Marie Antoinette không muốn bỏ lại các con để chạy trốn nhanh hơn, trong khi Louis XVI cũng không chấp nhận trở thành một vị vua lưu vong.

Cải cách hành chính

Sau khi lên nắm quyền, Joseph II tiến hành một chương trình cải cách hành chính quy mô lớn. Trong suốt triều đại, ông ban hành hơn 6.000 sắc lệnh và khoảng 11.000 đạo luật mới, nhằm điều chỉnh gần như mọi lĩnh vực của đời sống trong đế quốc. Những cải cách này phản ánh tinh thần của Josephinism (Chủ nghĩa Joseph), một đường lối cai trị mang tính gia trưởng, trong đó nhà nước chủ động quyết định điều gì là tốt nhất cho thần dân.

Tập tin:Ducat d'or à l'effigie de Joseph II, 1787.jpg
Đồng ducat vàng của Joseph II, năm 1787

Mục tiêu của Joseph II là xây dựng một bộ máy chính quyền thống nhất, hợp lý và tập trung cho các lãnh thổ đa dạng của Nhà Habsburg. Ông củng cố quyền lực tuyệt đối của hoàng đế và yêu cầu đội ngũ quan chức phải phục vụ nhà nước với tinh thần tận tụy. Việc tuyển dụng và thăng chức trong bộ máy hành chính được thực hiện dựa trên năng lực thay vì xuất thân quý tộc hay sắc tộc. Để tăng cường tính thống nhất, Joseph II quy định tiếng Đức là ngôn ngữ bắt buộc trong mọi hoạt động hành chính của nền quân chủ Habsburg, một quyết định đặc biệt gây bất mãn tại Vương quốc Hungary.[19] Ông cũng tước bỏ nhiều đặc quyền của Nghị viện Hungary và không triệu tập cơ quan này trong suốt thời gian trị vì

Trong lĩnh vực tài chính, Bá tước Karl von Zinzendorf đã thiết lập một hệ thống kế toán thống nhất cho toàn bộ nguồn thu, chi tiêu và nợ công của các lãnh thổ thuộc Áo. Nhờ đó, Áo quản lý tài chính hiệu quả hơn và duy trì được uy tín tín dụng tốt hơn nhiều quốc gia châu Âu, dù những năm cuối triều đại Joseph II cũng cho thấy nền tài chính của đế quốc vẫn dễ bị tổn thương trước các cuộc chiến tranh quy mô lớn sau năm 1792.[20]

Joseph II cũng tìm cách đơn giản hóa cơ cấu hành chính vốn rất phức tạp của đế quốc. Năm 1786, ông bãi bỏ bộ máy quản lý riêng của Công quốc Mantua và sáp nhập lãnh thổ này vào Công quốc Milano. Tuy nhiên, sự phản đối mạnh mẽ của giới địa phương khiến người kế vị ông là Leopold II phải khôi phục Công quốc Mantua vào năm 1791.

Cải cách pháp luật

Tập tin:Joseph2pflug 1799.jpg
Joseph II đang cày ruộng gần Slawikowitz ở vùng nông thôn phía nam Moravia vào ngày 19 tháng 8 năm 1769.

Tinh thần cải cách của Joseph II không chỉ dừng lại ở việc sửa đổi hệ thống hình phạt mà còn hướng tới việc cải tổ toàn diện nền tư pháp của Đế quốc Habsburg. Trong thời gian đồng nhiếp chính, ông khuyến khích những người chỉ trích Bộ luật Theresiana, tiêu biểu là Wenzel Anton, Thân vương xứ Kaunitz-Rietberg và Nam tước Binder. Họ cho rằng việc sửa đổi từng phần bộ luật cũ dựa trên luật La Mã đã trở nên lạc hậu và Áo cần một hệ thống pháp luật hoàn toàn mới. Sau khi Maria Theresia qua đời năm 1780, Joseph bắt đầu hiện thực hóa những ý tưởng này.

Ban đầu, Joseph đặt mục tiêu cải tổ toàn diện cả luật hình sự lẫn luật dân sự, nhưng ông nhanh chóng nhận ra rằng quy mô và mức độ phức tạp của nhiệm vụ này khiến nó trở nên bất khả thi, ngay cả đối với một vị quân chủ giàu nghị lực và quyết đoán như ông. Chỉ trong năm đầu tiên trị vì độc lập, Joseph kết luận rằng con đường thực tế hơn là hệ thống hóa và tập hợp các đạo luật hiện hành, đồng thời bổ sung chúng bằng các đạo luật mới và những cải cách có mục tiêu đối với thủ tục tố tụng tại các tòa án. Mặc dù việc pháp điển hóa toàn diện sẽ cần nhiều thời gian, Joseph vẫn lập tức bắt tay vào thực hiện các thay đổi về thủ tục tư pháp.[21]

Tập tin:Allegorie auf das Toleranzpatent Kaiser Josephs II.jpg
Bức tranh ngụ ngôn về Sắc lệnh Khoan dung của Hoàng đế Joseph II ngày 13 tháng 10 năm 1781, tranh màu nước thực hiện năm 1785. Bộ sưu tập của Bảo tàng Vienna.

Những định hướng này được công bố trong Quy chế Tòa án Tổng quát (Allgemeine Gerichtsordnung) năm 1781. Joseph giữ nguyên Oberste Justizstelle là cơ quan tư pháp cao nhất, đồng thời tách cơ quan này khỏi bộ máy hành chính và chỉ chịu trách nhiệm trước hoàng đế. Ông cắt giảm số lượng tòa án cấp dưới, yêu cầu mọi thẩm phán phải có bằng đại học luật và giảm số tòa phúc thẩm xuống còn sáu trên toàn đế quốc. Các thẩm phán được yêu cầu xét xử nghiêm ngặt theo văn bản pháp luật và phải tham khảo ý kiến của tòa cấp trên khi gặp những vấn đề pháp lý chưa rõ ràng.[21]

Joseph cũng cải tổ cách phân loại tội phạm. Các tội nghiêm trọng được gọi đơn giản là Verbrechen (trọng tội), trong khi các hành vi ít nghiêm trọng hơn được xếp vào loại politische Verbrechen (tội chính trị), một thuật ngữ trước đó từng chỉ dành cho những tội chính trị đặc biệt nghiêm trọng dưới thời Maria Theresa. Hình phạt đối với các tội nhẹ này bao gồm đánh roi, bêu trước công chúng hoặc lưu đày, và thời hạn tù giam không được vượt quá một năm. Những người phạm trọng tội sẽ bị giam giữ trong nhà tù, còn các tòa án đặc biệt, ngoại trừ tòa án quân sự, đều bị bãi bỏ. Joseph cũng xóa bỏ các đặc quyền pháp lý của giới quý tộc trước tòa án, khẳng định nguyên tắc mọi tầng lớp xã hội đều bình đẳng trước pháp luật.[21] Điều đáng chú ý là ông khôi phục một số hình phạt hà khắc từng bị bãi bỏ trước đó, chẳng hạn như đóng dấu lên người tù chung thân hoặc xích họ vào tường phòng giam bằng dây xích sắt. Ông cũng tách riêng các Staatsverbrechen (tội phạm chống nhà nước) thành một nhóm độc lập, bao gồm các tội như phản quốc, làm tiền giả và các tội chống lại Hoàng đế. Những vụ án này được giao trực tiếp cho các tòa phúc thẩm xét xử, bỏ qua cấp tòa dưới. Sau khi giải quyết vấn đề này, Joseph lại tập trung vào mối quan tâm lâu nay của mình là hình phạt tử hình. Trong một chỉ thị mật ban hành vào tháng 8 năm 1783, ông quy định rằng, mặc dù án tử hình vẫn chính thức tồn tại trong luật pháp, trên thực tế nó sẽ hiếm khi, nếu không muốn nói là gần như không bao giờ, được thi hành.[21]

Thay vào đó, sau khi tòa án tuyên án tử hình, bản án sẽ tự động được chuyển thành án tù, trừ khi chính Joseph quyết định đưa ra ngoại lệ. Đồng thời, ông sửa đổi quy định trước đây của Bộ luật Theresiana về thời hạn tối đa của án tù, quy định rằng ngoài những trường hợp chuyển từ án tử hình sang tù giam, các bản án tù có thể có thời hạn không xác định. Theo lời Thân vương Kaunitz, người có điều kiện hiểu rõ suy nghĩ của Hoàng đế, động cơ của Joseph không xuất phát từ mong muốn noi theo các triết gia Khai sáng hay vì đặc biệt phản đối án tử hình; thay vào đó, ông tin rằng điều kiện giam giữ khắc nghiệt sẽ có tác dụng răn đe tội phạm mạnh mẽ hơn so với mối đe dọa bị xử tử.[21]

Ủy ban được giao nhiệm vụ cải cách bộ luật hình sự, ban đầu được yêu cầu soạn thảo một bộ luật hoàn toàn mới nhưng sau đó chỉ được chỉ thị sửa đổi Bộ luật Theresiana, đã làm việc chậm chạp không khác mấy so với ủy ban trước dưới thời Maria Theresa. Mãi đến tháng 1 năm 1787, Allgemeines Gesetzbuch über Verbrechen und deren Bestrafung (Bộ luật Tổng quát về Tội phạm và Hình phạt) mới chính thức được ban hành. Văn bản toàn diện này vừa thể hiện bước tiến vừa phản ánh sự thụt lùi so với bộ luật tiền nhiệm: mặc dù trên thực tế đã bãi bỏ án tử hình, nó lại đưa ra nhiều biện pháp mới nhằm khiến việc giam giữ trở nên đặc biệt khắc nghiệt.[21]

Các khoản tiền phạt, vốn trước đây thường được áp dụng đối với các vi phạm nhẹ, phần lớn bị thay thế bằng hình thức tạm giam của cảnh sát hoặc lao động cưỡng bức, chẳng hạn như quét dọn đường phố. Nguyên tắc nullum crimen sine lege ("không có tội nếu không có luật quy định") trở thành nền tảng của toàn bộ thủ tục tố tụng hình sự. Tuy nhiên, quyền có luật sư bào chữa của bị cáo lại bị bãi bỏ, vì Joseph cho rằng trách nhiệm của thẩm phán là phải tự xem xét khả năng vô tội của bị cáo và tìm kiếm sự thật trên hết. Ngoài ra, một số tội như ngoại tình, báng bổ tôn giáo và quan hệ đồng giới bị hạ xuống thành các tội chính trị, trong khi các thẩm phán mất quyền giảm nhẹ tội danh hoặc giải quyết vụ việc ngoài thủ tục pháp lý thông thường. Kể từ đó, mọi hành vi phạm pháp đều được truy tố như những tội chống lại nhà nước, ngay cả khi không có cá nhân nào đứng ra khởi kiện.[21]

Trong khuôn khổ cải cách luật dân sự của Joseph II, hôn nhân được xác định lại là một hợp đồng dân sự. Đối với các cặp vợ chồng không theo Công giáo, việc ly hôn được cho phép trong một số điều kiện nhất định. Những cải cách này cũng bảo đảm quyền thừa kế bình đẳng giữa con trai và con gái. Ngoài ra, cha mẹ của những trẻ em từ chối đến trường có thể bị xử phạt tiền. Cải cách của Joseph II còn mở rộng sang lĩnh vực giáo dục và xã hội. Công dân và nông dân được tạo điều kiện dễ dàng hơn để tiếp cận các trường trung học và đại học. Khi tuyển dụng giáo viên, chỉ năng lực chuyên môn và trình độ nghề nghiệp mới được xem xét. Chế độ kiểm duyệt cũng được nới lỏng trong suốt thời kỳ trị vì của ông.[22]

Giáo dục và y tế

Nhằm xây dựng một tầng lớp công dân biết chữ, Joseph II quy định giáo dục tiểu học trở thành bắt buộc đối với tất cả trẻ em trai và gái, đồng thời mở rộng cơ hội học tập bậc cao theo định hướng thực tiễn cho một bộ phận học sinh có năng lực. Ông thành lập các quỹ học bổng dành cho học sinh nghèo có tài năng và cho phép thành lập trường học dành cho người Do Thái cũng như các nhóm thiểu số tôn giáo khác. Năm 1784, ông ra lệnh thay thế tiếng Latinh bằng tiếng Đức làm ngôn ngữ giảng dạy trong toàn đế quốc, một quyết định gây nhiều tranh cãi tại một quốc gia đa ngôn ngữ.

Tập tin:AAKH-1784.jpg
Bệnh viện Đa khoa tại Vienna, tranh khắc năm 1784.

Đến thế kỷ XVIII, xu hướng tập trung hóa cũng lan sang lĩnh vực y tế, khi ngày càng có nhiều bác sĩ được đào tạo bài bản yêu cầu các cơ sở khám chữa bệnh hiện đại hơn. Tuy nhiên, các thành phố không đủ ngân sách để duy trì bệnh viện địa phương, trong khi triều đình muốn chấm dứt những đợt dịch bệnh và các biện pháp cách ly vốn rất tốn kém. Joseph vì thế tìm cách tập trung hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Viên bằng việc xây dựng một bệnh viện quy mô lớn duy nhất – Allgemeines Krankenhaus (Bệnh viện Đa khoa Tổng hợp), khánh thành năm 1784. Mặc dù việc tập trung hóa ban đầu làm điều kiện vệ sinh trở nên tồi tệ hơn, dẫn đến các đợt dịch bùng phát và tỷ lệ tử vong lên tới 20% tại bệnh viện mới, Viên vẫn vươn lên trở thành một trong những trung tâm y học hàng đầu châu Âu trong thế kỷ tiếp theo.

Tôn giáo

Tập tin:Léonard Defrance La suppression des couvents sous Joseph II.jpg
Việc giải thể các tu viện dưới thời Joseph II, năm 1782.

Những cải cách về Giáo hội của Joseph II, cũng như nỗ lực cải tổ bộ máy nhà nước, đã vấp phải sự phản đối rộng rãi trên khắp Đế quốc. Chịu ảnh hưởng từ tư tưởng Khai sáng, ông tiến xa hơn nhiều so với mẹ mình là Maria Theresia khi thực hiện những thay đổi mang tính cấp tiến hơn. Một trong những biện pháp đầu tiên là Sắc lệnh Khoan dung, cho phép tín đồ Tin Lành Luther, CalvinChính thống giáo Hy Lạp được công khai thực hành đức tin của mình. Mặc dù các nhà thờ của họ vẫn bị hạn chế không được xây chuông, tháp chuông hoặc lối vào trực tiếp từ đường phố các cộng đồng Tin Lành nay đã có thể tổ chức sinh hoạt hợp pháp sau nhiều thế kỷ hoạt động bí mật. Do số người cải sang Tin Lành nhiều hơn dự kiến, Joseph II quy định rằng bất kỳ ai muốn cải đạo đều phải tham gia khóa học giáo lý Công giáo kéo dài sáu tuần trước khi chính thức chuyển đổi. Bất chấp sự phản đối từ nhiều người Công giáo, sắc lệnh này đánh dấu một bước tiến quan trọng khi trao cho những người ngoài Công giáo các quyền dân sự ngang bằng với tín đồ Công giáo. Người Tin Lành từ đó có thể đảm nhiệm chức vụ công, học nghề và theo học đại học, xóa bỏ rào cản tôn giáo đối với việc tham gia đời sống xã hội và chính trị.[23]

Cuộc cải cách lớn tiếp theo của Joseph hướng đến cộng đồng Do Thái, vốn từ lâu phải chịu nhiều hình thức phân biệt đối xử. Năm 1782, ông ban hành một sắc lệnh cho phép người Do Thái làm việc trong nhiều ngành nghề khác nhau, theo học tại các trường phổ thông và đại học, thuê người giúp việc và thuê nhà trong thành phố, qua đó từng bước phá vỡ hệ thống khu biệt cư (ghetto) truyền thống. Những quy định mang tính phân biệt, như bắt buộc mặc trang phục riêng, cũng bị bãi bỏ. Động cơ của Joseph vừa mang tính nhân đạo vừa mang tính kinh tế: ông muốn các cộng đồng Do Thái hiện có đóng góp hữu ích hơn cho nhà nước, chứ không nhằm mở rộng quy mô của họ. Bất chấp sự phản đối từ nhiều phía, ông vẫn kiên quyết thực thi những cải cách này trước các định kiến lâu đời.[23]

Chính sách tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Joseph là việc giải thể các tu viện không tham gia hoạt động giáo dục hoặc chăm sóc y tế mà chỉ chuyên về đời sống chiêm niệm và cầu nguyện. Mặc dù Maria Theresia trước đó đã tiến hành một số cải cách tương tự, các biện pháp của Joseph có phạm vi rộng lớn hơn, phản ánh quan điểm thực dụng của thời đại rằng chỉ những tổ chức đóng góp cho lợi ích chung mới thực sự có giá trị. Mục tiêu của ông không phải là chống đối Giáo hội, mà là cải cách trên phương diện thực tiễn: ông muốn các dòng tu đảm nhận vai trò tích cực hơn trong công tác xã hội và giáo dục. Chỉ trong vài năm, khoảng một phần ba số tu viện tại Áo và Hungary đã bị giải thể, còn tài sản của họ được chuyển vào một quỹ phục vụ các hoạt động tôn giáo và từ thiện.[23]

Những cải cách mang tính chống giáo quyền và tự do của Joseph đã khiến Giáo hoàng Pius VI phải đích thân đến thăm ông vào tháng 3 năm 1782. Joseph tiếp đón Giáo hoàng một cách lịch thiệp và thể hiện mình là một tín hữu Công giáo ngoan đạo, nhưng ông từ chối để Giáo hoàng tác động đến các chính sách của mình.[17] Mặt khác, Joseph lại có thiện cảm với Hội Tam điểm, vì ông cho rằng những tư tưởng của tổ chức này rất phù hợp với triết lý Khai sáng mà ông theo đuổi, mặc dù dường như ông chưa bao giờ chính thức gia nhập một hội quán nào. Hội Tam điểm khi đó thu hút nhiều người có tư tưởng chống giáo quyền và bị Giáo hội Công giáo lên án.

Quan điểm của Joseph về tôn giáo được phản ánh qua một câu nói dí dỏm mà ông từng thốt lên tại Paris. Khi được dẫn tham quan thư viện của Đại học Sorbonne, người quản thủ đưa ông vào một căn phòng tối chứa các tài liệu thần học và than phiền rằng thiếu ánh sáng khiến Hoàng đế không thể đọc được. Joseph liền đáp: “À, khi nói đến thần học thì chưa bao giờ có nhiều ánh sáng cả.”[24] Qua đó có thể thấy Joseph là một người Công giáo cởi mở và ít khắt khe hơn rất nhiều so với mẹ mình. Năm 1789, ông tiếp tục ban hành một hiến chương khoan dung tôn giáo dành cho người Do Thái tại Galicia, vùng đất có đông người Do Thái nói tiếng Yiddish sinh sống. Hiến chương này bãi bỏ quyền tự trị cộng đồng, vốn cho phép người Do Thái tự quản lý các công việc nội bộ của mình, đồng thời khuyến khích quá trình Đức hóa và việc mặc trang phục giống cư dân không phải người Do Thái.

Chính sách đối ngoại

Tập tin:II. Jozsef es katonai 1787-ben.JPG
Joseph II và binh lính của ông vào năm 1787
Tập tin:Calafat iulie 1790 1305816656828128.jpg
Cuộc đụng độ giữa quân đội Áo và Thổ Nhĩ Kỳ trong Chiến tranh Áo-Thổ Nhĩ Kỳ, năm 1790.
Tập tin:Аллегория на победу над Турцией. Мартин Вилль.jpg
Truyện ngụ ngôn về chiến thắng trước Đế quốc Ottoman. Tác phẩm của Martin Will.

Đế quốc Habsburg dưới thời Joseph II tiếp tục theo đuổi chính sách chiến tranh, mở rộng lãnh thổ, thuộc địa hóa và phát triển thương mại, đồng thời truyền bá những ảnh hưởng về tư tưởng. Trong khi đối đầu với PhổĐế quốc Ottoman, Áo vẫn duy trì liên minh phòng thủ với Pháp và giữ quan hệ hữu hảo với Nga, mặc dù luôn tìm cách hạn chế ảnh hưởng của Nga đối với các Công quốc Danube. Theo nhà sử học Mayer, Joseph là một nhà cai trị có tham vọng bành trướng và khuynh hướng hiếu chiến quá mức, với mục tiêu đưa nền quân chủ Habsburg trở thành cường quốc hàng đầu châu Âu.[25] Mục tiêu lớn nhất của ông là sáp nhập Bayern, nếu cần thì đổi lấy vùng Hà Lan thuộc Áo, nhưng các kế hoạch này đều bị Quốc vương Friedrich II của Phổ ngăn cản vào các năm 1778 và 1785; trong lần thứ hai, nhiều thân vương Đức khác, lo ngại trước tham vọng lãnh thổ của Joseph, cũng đứng về phía Phổ.[26] Nga liên minh với Áo và trong một số thời điểm còn nhận được trợ cấp của Phổ để tiến hành chiến tranh chống Ottoman. Tuy nhiên, khi Đế quốc Ottoman dần suy yếu, Joseph II lại bắt đầu lo ngại trước ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Đế quốc Nga tại Đông Nam Âu. Ông cho rằng vùng Balkan, nơi sinh sống của nhiều dân tộc Slav là thần dân của mình, đang đứng trước nguy cơ rơi vào phạm vi ảnh hưởng của Nga. Vì vậy, ông đã bí mật sang Nga dưới bí danh Bá tước Falkenstein để gặp Nữ hoàng Yekaterina II.[27] Cuộc gặp này dẫn đến việc hình thành Liên minh Áo–Nga năm 1781.[28] Tuy nhiên, chính liên minh ấy cũng kéo Áo vào cuộc Chiến tranh Áo–Thổ Nhĩ Kỳ (1787–1791), một cuộc chiến tốn kém nhưng phần lớn không đạt được kết quả như mong đợi.[29]

Chính sách Balkan của cả Maria Theresia và Joseph II đều chịu ảnh hưởng của học thuyết Cameralism do Thân vương Kaunitz cổ vũ, nhấn mạnh việc củng cố các vùng biên giới thông qua tái tổ chức và mở rộng Quân khu Biên giới. Năm 1761, Transylvania được sáp nhập vào hệ thống này, còn các trung đoàn biên phòng trở thành lực lượng nòng cốt của quân đội, trong đó chỉ huy trung đoàn đồng thời nắm cả quyền quân sự lẫn dân sự. Học thuyết Populationistik, coi quy mô lao động là thước đo sự thịnh vượng của quốc gia, cũng chi phối chính sách thuộc địa hóa của thời kỳ này. Joseph II đồng thời chú trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, và ảnh hưởng của triều đình Habsburg đã trở thành một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của vùng Balkan, đặc biệt là các cộng đồng người SerbiaCroatia trong nửa sau thế kỷ XVIII.[30]

Phản ứng

Tập tin:Europe 1783-1792 en.png
Châu Âu vào thời điểm Joseph qua đời năm 1790. Đường màu đỏ đánh dấu biên giới của Đế quốc La Mã Thần thánh.

Những can thiệp liên tiếp của Joseph II vào các phong tục và thể chế truyền thống đã làm bùng phát sự bất mãn trên khắp đế quốc. Trong khi đó, ông liên tục theo đuổi các chính sách đối ngoại nhằm mở rộng lãnh thổ, nhưng hầu hết đều khiến các nước láng giềng phản đối mạnh mẽ. Ông tìm cách bãi bỏ Hiệp ước Hàng rào, vốn ngăn cản thần dân tại vùng Flanders của Áo được quyền đi lại trên sông Scheldt. Khi bị Pháp phản đối, ông chuyển sang xúc tiến các kế hoạch liên minh với Nga để phân chia Đế quốc Ottoman và Cộng hòa Venezia. Tuy nhiên, những dự định này cũng phải từ bỏ trước sự chống đối của các cường quốc lân cận, đặc biệt là Pháp. Sau đó, Joseph lại tìm cách giành Bayern bằng cách đổi lấy vùng Hà Lan thuộc Áo, nhưng kết quả chỉ khiến Liên minh các Thân vương Đức, do Friedrich II của Phổ lãnh đạo, được thành lập nhằm ngăn chặn tham vọng của ông.[17]

Tập tin:Georg Decker Joseph II.jpg
Chân dung Joseph II do Georg Decker vẽ.

Các cải cách đầy tham vọng của Joseph II đã làm bùng nổ sự phản kháng mạnh mẽ trên khắp đế quốc đa sắc tộc của ông. Mặc dù các chính sách tập quyền và những cải cách chịu ảnh hưởng của tư tưởng Khai sáng được kỳ vọng sẽ hiện đại hóa và thống nhất các lãnh thổ Habsburg, nhiều cộng đồng địa phương lại coi chúng là mối đe dọa đối với truyền thống, đặc quyền và quyền tự trị của mình. Tại vùng Hà Lan thuộc Áo và Hungary, hầu như mọi tầng lớp đều bất bình trước việc Joseph tìm cách xóa bỏ các thiết chế chính quyền địa phương và tập trung toàn bộ quyền lực vào triều đình ở Viên. Người dân thường cũng không hài lòng, vì họ chán ghét việc Hoàng đế can thiệp vào gần như mọi khía cạnh của đời sống hằng ngày.[31]

Năm 1789, làn sóng bất ổn lan rộng và lên đến đỉnh điểm với cuộc Cách mạng Brabant. Những người nổi dậy trục xuất các quan chức của triều đình và trong một thời gian ngắn đã thành lập quốc gia độc lập mang tên Hợp chúng quốc Bỉ. Mặc dù nhà Habsburg cuối cùng giành lại được quyền kiểm soát, cuộc nổi dậy đã cho thấy mức độ bất mãn sâu sắc đối với phương thức cai trị của Joseph. Tại Hungary, nỗ lực áp đặt tiếng Đức làm ngôn ngữ hành chính và làm suy yếu quyền lực của tầng lớp quý tộc Hungary cũng gặp phải sự phản đối quyết liệt. Giới quý tộc và giáo sĩ Hungary chống lại mọi nỗ lực tập trung quyền lực và xóa bỏ các đặc quyền truyền thống của họ. Các cuộc biểu tình quy mô lớn cùng sự phản kháng thụ động buộc Joseph phải hủy bỏ nhiều cải cách tại Hungary chỉ ít lâu trước khi qua đời. Sự chống đối này cho thấy những giới hạn của quyền lực đế quốc cũng như sức sống bền bỉ của các bản sắc địa phương.[31]

Đồng thời, Joseph II còn bị cuốn vào cuộc xung đột với Đế quốc Ottoman. Với hy vọng mở rộng lãnh thổ và nâng cao uy thế của đế quốc, ông liên minh với Nga và tuyên chiến với Ottoman vào năm 1788. Tuy nhiên, chiến dịch quân sự được chuẩn bị thiếu chu đáo và chỉ đạt được những kết quả hết sức hạn chế.[32]

Qua đời

Tập tin:Johann Hieronymus Löschenkohl - The last morning of Joseph II.jpg
"Buổi sáng cuối cùng của Joseph II", tranh của Johann Hieronymus Löschenkohl.

Vào mùa thu năm 1788, Hoàng đế trở về Vienna trong tình trạng sức khỏe đã suy giảm. Những phương pháp điều trị được áp dụng sau đó hầu như không mang lại hiệu quả. Trong một bức thư gửi em trai là Leopold, ông viết: "Ta ho, khạc đờm và rất khó thở. Ta uống nước khoáng Seltzer và sữa dê nhưng không thấy khá hơn chút nào. Tình trạng này đã kéo dài suốt tám tháng." Ngày nay, các nhà sử học và y học cho rằng Joseph II có khả năng mắc bệnh lao phổitràn dịch.

Tập tin:Grab Joseph II vor dem Prunksarg seiner Eltern.JPG
Mộ của Joseph II.

Sau vài tháng sức khỏe tạm thời ổn định, tình trạng của ông chuyển biến xấu nhanh chóng từ tháng 1 năm 1790. Hoàng đế liên tục bị sốt, những cơn ho dữ dội, khó thở và đau ngực hành hạ; cái chết dường như luôn cận kề. Đêm 19 rạng sáng ngày 20 tháng 2 năm 1790, Joseph chỉ ngủ được vài giờ, có lẽ nhờ tác dụng của thuốc giảm đau. Đến khoảng 5 giờ sáng, ông thức dậy và yêu cầu được gặp cha giải tội. Chỉ năm phút sau, Joseph II qua đời, trong khi chỉ còn ít ngày nữa là bước sang tuổi 49. Những tháng cuối đời, bệnh tật cùng những thất bại trong chính sách đối nội và đối ngoại khiến tinh thần của Hoàng đế suy sụp nghiêm trọng. Theo một số ghi chép, ông từng mong muốn trên bia mộ của mình khắc dòng chữ:[33][34]

Đây là nơi yên nghỉ của Hoàng đế Joseph II, vị Hoàng đế làm cái gì cũng không thành công.

Thi hài của Hoàng đế được mặc quân phục thống chế và ba ngày sau được đặt trong một cỗ quan tài bằng đồng đơn sơ tại Hầm mộ Hoàng gia ở Vienna, bên dưới hai cỗ quan tài Baroque lộng lẫy của cha mẹ ông. Ông được an táng tại ngôi mộ số 42 của hầm mộ này. Em trai ông, Đại công tước Leopold xứ Toscana lên nối ngôi - tức Hoàng đế Leopold II của Thánh chế La Mã. Những vị Hoàng đế kế tục ông sau này đã bãi bỏ phần lớn các cải cách mà ông đề xướng.[33]

Di sản và đánh giá

Tập tin:Allegorie auf das Toleranzpatent Kaiser Josephs II.jpg
Joseph II's enlightened absolutism included the Patent of Toleration, enacted in 1781, and the Edict of Tolerance in 1782.
Tập tin:Medaille Einnahme Belgrads 1789.jpg
Medal commemorating the Austrian victory over the Ottoman Empire and the Siege of Belgrade
Tập tin:Festung Josefov (38631333261).jpg
Statue of Josef II. in Josefov, Czech Republic

The legacy of Josephinism would live on through the Austrian Enlightenment. To an extent, Joseph II's enlightenment beliefs were exaggerated by the author of what Derek Beales called the "false Constantinople letters". Long considered genuine writings of Joseph II, these forged works have erroneously augmented the emperor's memory for centuries.[35][36]These legendary quotations have created a larger-than-life impression of Joseph II as a Voltaire and Diderot-like philosophe, more radical than he probably was.

Các chính sách của Joseph II theo khuynh hướng chủ nghĩa chuyên chế khai sáng bao gồm Chiếu chỉ Khoan dung ban hành năm 1781 và Sắc lệnh Khoan dung năm 1782. Chủ nghĩa Joseph (Josephinism) tiếp tục tồn tại như một phần di sản của thời kỳ Khai sáng Áo. Ở một mức độ nhất định, những quan điểm khai sáng của Joseph II đã bị phóng đại bởi tác giả của cái gọi là "Những bức thư Constantinople giả". Trong thời gian dài, các tác phẩm này được coi là những trước tác xác thực của Joseph II, nhưng trên thực tế chúng là các văn bản ngụy tạo, khiến hình ảnh của vị hoàng đế bị hiểu sai trong nhiều thế kỷ. Những câu trích dẫn mang tính huyền thoại này đã tạo nên một hình tượng Joseph II lớn lao hơn thực tế, như thể ông là một philosophe theo kiểu Voltaire hay Diderot, cấp tiến hơn nhiều so với con người thật của ông.[37]

In 1849, the Hungarian Declaration of Independence declared that Joseph II was not a true King of Hungary as he was never crowned, thus any act from his reign was null and void.[38]

In 1888, Hungarian historian Henrik Marczali published a three-volume study of Joseph, the first important modern scholarly work on his reign, and the first to make systematic use of archival research. Marczali was Jewish and a product of the bourgeois-liberal school of historiography in Hungary, and he portrayed Joseph as a Liberal hero. The Russian scholar Pavel Pavlovich Mitrofanov published a thorough biography in 1907 that set the standard for a century after it was translated into German in 1910. The Mitrofanov interpretation was highly damaging to Joseph: he was not a populist emperor and his liberalism was a myth; Joseph was not inspired by the ideas of the Enlightenment but by pure power politics. He was more of a despot than his mother. Dogmatism and impatience were the reasons for his failures.[39]

Peter Dickson noted that Joseph II rode roughshod over age-old aristocratic privileges, liberties, and prejudices, thereby creating for himself many enemies, and they triumphed in the end. Joseph's attempt to reform the Hungarian lands illustrates the weakness of absolutism in the face of well-defended feudal liberties.[40] Behind his numerous reforms lay a comprehensive program influenced by the doctrines of enlightened absolutism, natural law, mercantilism, and physiocracy.[41]

With a goal of establishing a uniform legal framework to replace heterogeneous traditional structures, the reforms were guided at least implicitly by the principles of freedom and equality and were based on a conception of the state's central legislative authority. Joseph's accession marks a major break, since the preceding reforms under Maria Theresa had not challenged these structures, but there was no similar break at the end of the Josephinian era. The reforms initiated by Joseph II were continued to varying degrees under his successor Leopold and later successors, and given an absolute and comprehensive "Austrian" form in the Allgemeines bürgerliches Gesetzbuch (Austrian civil code) of 1811. They have been seen as providing a foundation for subsequent reforms extending into the 20th century, handled by much better politicians than Joseph II.[cần dẫn nguồn]

The Austrian-born American scholar Saul K. Padover reached a wide American public with his colorful The Revolutionary Emperor: Joseph II of Austria (1934). Padover celebrated Joseph's radicalism, saying his "war against feudal privileges" made him one of the great "liberators of humanity". Joseph's failures were attributed to his impatience and lack of tact, and his unnecessary military adventures, but despite all this, Padover claimed the emperor was the greatest of all Enlightenment monarchs.[42] While Padover depicted a sort of New Deal Democrat, Nazi historians in the 1930s made Joseph a precursor of Adolf Hitler.[43]

A new era of historiography began in the 1960s. American Paul Bernard rejected the German national, radical, and anticlerical images of Joseph and instead emphasized long-running continuities. He argued that Joseph's reforms were well suited to the needs of the day. Many failed because of economic backwardness and Joseph's unfortunate foreign policy.[44] British historian T. C. W. Blanning stressed profound contradictions inherent in his policies that made them a failure. For example, Joseph encouraged small-scale peasant holdings, thus retarding economic modernisation that only the large estates could handle.[45] French historian Jean Bérenger concludes that despite his many setbacks, Joseph's reign "represented a decisive phase in the process of the modernisation of the Austrian Monarchy". The failures came because he "simply wanted to do too much, too fast".[46] Szabo concludes that by far the most important scholarship on Joseph is by Derek Beales, appearing over three decades and based on exhaustive searches in many archives. Beales looks at the emperor's personality, with its arbitrary behavior and mixture of affability and irascibility. Beales shows that Joseph genuinely appreciated Mozart's music and greatly admired his operas. Like most other scholars, Beales has a negative view of Joseph's foreign policies. Beales finds that Joseph was despotic in the sense of transgressing established constitutions and rejecting sound advice, but not despotic in the sense of any gross abuse of power.[47]

Joseph's image in popular memory has been varied. After his death, the central government built many monuments to him across his lands. On independence in 1918, the first Czechoslovak Republic tore down the monuments. While the Czechs credited Joseph II with educational reforms, religious toleration, and the easing of censorship, they condemned his policies of centralisation and Germanisation that they blamed for causing a decline in Czech culture.[48]

Patron of the arts

Like many of the "enlightened despots" of his time, Joseph was a lover and patron of the arts and is remembered as such. He was known as the "Musical King" and steered Austrian high culture towards a more Germanic orientation. He commissioned the German-language opera Die Entführung aus dem Serail from Mozart. The young Ludwig van Beethoven was commissioned to write a funeral cantata for him, but it was not performed because of its technical difficulty.

Joseph is prominently featured in Peter Shaffer's play Amadeus and the movie based upon it. In the film version, he is portrayed by actor Jeffrey Jones as a well-meaning but somewhat befuddled monarch of limited but enthusiastic musical skill, easily manipulated by Antonio Salieri; however, Shaffer has made it clear his play is fiction in many respects and not intended to portray historical reality. Joseph was portrayed by Danny Huston in the 2006 film Marie Antoinette.

His reign saw the flourishing of Viennese classical music and the development of public concerts and performances, moving the arts beyond the exclusive domain of the aristocracy. Joseph II's policies fostered a vibrant cultural scene in Vienna, helping the city become one of Europe's leading centers of music, theatre, and intellectual life during the late 18th century. A series of measures taken by Emperor Joseph II demonstrates his concern for the people. In 1766, for example, he opened the Prater to the Viennese population, and innkeepers and coffeehouse owners subsequently settled there. From 1774 onwards, the gate that had blocked the entrance to this former Habsburg hunting ground at night was removed, making the Prater accessible even after dark. In a similar vein, Joseph II also opened the imperial Augarten park to the public. At the entrance to this area, there is an inscription that is very indicative of his intentions: "A place of enjoyment dedicated to all people by your admirer."[49]

Nhận định

Cầm quyền tại "đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức" - một quốc gia cổ kính và rộng lớn, Joseph II trở thành thí dụ kinh điển về một vị hoàng đế có tư tưởng tiến bộ đã nỗ lực cải cách xã hội.[50] Các nhà văn người ngoại quốc, và cả quan Thừa tướng Wenzel Anton, Vương công của Kaunitz-Rietberg, đã xem ông như một Marcus Ulpius Nerva Traianus, Marcus Aurelius Antoninus Augustus hay Henri IV Quatre khác. Da Ponte - người viết lời nhạc kịch của Mozart, ông là một người sáng suốt, gần gũi và lịch sự. Da Ponte đã gọi Joseph II là một "ông hoàng đáng kính".[51] Dù cái chết của ông đã khiến cho phần lớn quan đại thần trong triều, giới tăng lữ Công giáo Rôma, tầng lớp quý tộc, những người Bỉ và Hungary vui mừng, không ít người thương tiếc ông: đặc biệt là những người Do Thái, Kháng Cách, Romania và những nông nô đã được ông cải thiện đời sống. Người ta gọi ông là "vị hoàng đế cách mạng", hoặc "có lẽ là vị vua Khai sáng chuyên chế hoàn hảo nhất trong lịch sử châu Âu" - người đã tiên đoán về cuộc Đại cách mạng Pháp.[50]

Dù là vị hoàng đế được ngưỡng mộ, bên cạnh đó sử sách Hungary đã ghi nhận ông là một "tên vua cướp nước". Tại nước Bỉ, ông bị xem là một trong những "tên tội đồ khét tiếng" trong lịch sử, cùng với các nhân vật Tiberius, Caligula, Nero, Mahomet, Amurath, Niccolò di Bernardo dei Machiavelli và cả Oliver Cromwell.[52][53]

Tước hiệu

Sau khi kế thừa ngai vị của Hoàng đế La Mã Thần thánh cùng các lãnh thổ rộng lớn tại Trung và Đông Âu từ mẹ là Maria Theresia, tước hiệu đầy đủ của Joseph II là:

Trang Bản mẫu:Quote/styles.css không có nội dung.

"Hoàng đế và Quốc vương Tông truyền Bệ hạ, Joseph II, nhờ Ân điển của Thiên Chúa, Hoàng đế La Mã Thần thánh được tuyển cử, Hoàng đế Augustus muôn đời; Quốc vương Đức, Quốc vương Hungary, Bohemia, Dalmatia, Croatia, Slavonia, Galicia, Lodomeria, Ý, Cumania, Bulgaria, Serbia, v.v.; Đại Vương Công Áo; Công tước Bourgogne, Steiermark, Kärnten và Kranjska; Đại Thân vương Transilvania; Phiên hầu tước Morava; Công tước Brabant, Limburg, Luxemburg, Gelre, Württemberg, Thượng và Hạ Silesia, Milano, Mantua, Parma, Piacenza, Guastalla, Auschwitz, Zator và Teck; Thân vương Schwabia; Bá tước Thân vương của Habsburg, Flanders, Tyrol, Hainaut, Kyburg, Gorizia và Gradisca; Phiên hầu tước Burgau, Thượng và Hạ Lusatia; Bá tước Namur, Lãnh chúa xứ Wendish Mark và Mechelen; Công tước Lorraine và Bar; Đại Công tước Toscana, v.v."[54]

Phả hệ

Chú thích

  1. ^ a ă â Joseph II, Holy Roman Emperor (1765-1790)
  2. ^ Năm Mozart 2006 - Vị thần linh của âm nhạc[liên kết hỏng]
  3. ^ Derek Beale, Joseph 11: Against the World, 1780-1790, Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2009.
  4. ^ Charles Knight, "The Penny Cyclopaedia of the Society for the Difussion of Useful Knowledge", Tập 11, 1838, tr. 523
  5. ^ Samuel Griswold, "A history of all nations, from the earliest periods to the present time; or, Universal history: in which the history of every nation, ancient and modern, is separately given: Illustrated by 70 stylographic maps and 700 engravings", Tập 1, Miller, Orton & Mulligan, 1866, tr. 983
  6. ^ Beales 1987, tr. 26.
  7. ^ Mraz 1979, tr. 196.
  8. ^ Beales 1987, tr. 44.
  9. ^ Padover 1967, tr. 14–15.
  10. ^ Beales, tr. 70
  11. ^ Hopkins, p 63
  12. ^ Phần viết về Joseph II trong "Từ điển Bách khoa Toàn thư Anh Quốc" (1911)
  13. ^ James J. Sheehan, "German history, 1770-1866", Nhà xuất bản Đại học Oxford Hoa Kỳ, 1993, tr. 292.
  14. ^ Saul K. Padover, The Revolutionary Emperor, Joseph the Second 1741-1790. (1934) tr. 300.
  15. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, tr. 205.
  16. ^ Thomas Carlyle, History of Friedrich II of Prussia, BiblioBazaar, LLC, 2008, trang 132
  17. ^ a ă â b Chisholm 1911, tr. 515.
  18. ^ Blanning 1970, tr. 52.
  19. ^ Votruba.
  20. ^ Dickson 2007, tr. 22–56.
  21. ^ a ă â b c d đ Bernard 1979, tr. 17–20.
  22. ^ Weissensteiner 1995, tr. 47–49.
  23. ^ a ă â Weissensteiner 1995, tr. 40–41.
  24. ^ Padover 1967, tr. 79.
  25. ^ Mayer 2004, tr. 257–299.
  26. ^ Black 1999, tr. 136.
  27. ^ Pantenius 1997, tr. 117.
  28. ^ Hochedlinger 2003, tr. 376–377.
  29. ^ Shaw 1976, tr. 259.
  30. ^ Piaschka 1975, tr. 471–478.
  31. ^ a ă Padover 1967, tr. 276–283.
  32. ^ Bright 1897, tr. 174–175.
  33. ^ a ă William J. Duiker, Jackson J. Spielvogel, World History: From 1500, trang 492
  34. ^ Norman Davies (1998). Europe a history. New York: HarperPerennial. ISBN 0060974680.
  35. ^ Beales 1987, tr. 65.
  36. ^ Beales 1975, tr. 467–495.
  37. ^ Sadie 1996, tr. 9.
  38. ^ Anon. 1849.
  39. ^ Szabo 2011, tr. 125–127.
  40. ^ Dickson 1995, tr. 323–367.
  41. ^ Dickson 2007.
  42. ^ Szabo 2011, tr. 127.
  43. ^ Szabo 2011, tr. 128.
  44. ^ Szabo 2011, tr. 130.
  45. ^ Szabo 2011, tr. 130–131.
  46. ^ Szabo 2011, tr. 133.
  47. ^ Szabo 2011, tr. 133–136.
  48. ^ Wingfield 1997, tr. 147–171.
  49. ^ Vocelka & Traninger 2003, tr. 31.
  50. ^ a ă "Joseph II: In the shadow of Maria Theresa, 1741-1780", Derek Edward Dawson Beales, tr. 1
  51. ^ Beer, JLuK, p. 48 (K. to J., 24 tháng 3 năm 1781). Cf. J. Lanjuinais, Le Monarque accompli, ou prodiges de bomté, de savior, et de sagesse qui font l'éloge de... Joseph II (3 vols., Lausanne, 1774), vol. 1, pp. 6, 14 etc. A. Livingston (ed.), Memoirs of Lorenzo de Ponte (New York, 1967), esp. pp. 151-3
  52. ^ "Joseph II: In the shadow of Maria Theresa, 1741-1780", Derek Edward Dawson Beales, tr. 5
  53. ^ Theo ghi nhận của sách Joseph II: In the shadow of Maria Theresa, 1741-1780, tr. 5: các vua Tiberius và Nero thường bị ghi là tội đồ trong các cuốn sách nhỏ viết về phong trào Cách mạng Bỉ
  54. ^ Padover 1967, tr. 125.

Thư mục

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Joseph II của Thánh chế La Mã
Sinh: 13 tháng 3, 1741 Mất: 20 tháng 2, 1790
Tước hiệu
Tiền nhiệm
Maria Theresia
Vua của Hungary
1780–1790 [1]
Kế nhiệm
Leopold II
Vua của Croatia
1780–1790
Vua của Bohemia
1780–1790
Đại vương công của Áo
1765–1790
với Maria Theresia (1765-1780)
Công tước của Milan
1765–1790
với Maria Theresia (1765-1780)
Công tước của Mantua
1765–1790
với Maria Theresia (1765-1780)
Vua của Lodomeria và Galicia
1765–1790
với Maria Theresia (1765-1780)
Tiền nhiệm
Franz I
Vua ở Đức
(chính thức là Vua của người La Mã)

1764–1790
Hoàng đế La Mã Thần thánh (được bầu)
1765–1790
Công tước của Teschen
1765–1766
Kế nhiệm
Maria Christina
Albert Saxe-Teschen

Bản mẫu:Đại vương công Áo