Bước tới nội dung

Kỳ tích Đài Loan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Kì tích Đài Loan)
Tập tin:Chiang Kai-shek and Chiang Ching-Kuo in 1948.jpg
Hai cha con Tưởng Giới ThạchTưởng Kinh Quốc - tác giả của cái gọi là "Kỳ tích kinh tế Đài Loan"

Kỳ tích Đài Loan (tiếng Trung: 台灣奇蹟 hoặc 臺灣奇蹟; bính âm: Táiwān Qíjì) hay còn gọi là Kỳ tích kinh tế Đài Loan hoặc Thần kỳ Đài Loan ý chỉ quá trình công nghiệp hóatăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Đài Loan trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ 20. Vì quốc gia này phát triển cùng lúc với Singapore, Hàn QuốcHồng Kông nên Đài Loan còn được biết đến là một trong "Bốn con hổ châu Á".

Bối cảnh

Sau thời kỳ siêu lạm phát vào cuối thập niên 1940 khi chế độ quân phiệt Quốc Dân Đảng của Trần Nghi cho in đồng Tân Đài tệ chống lại đồng Yên Đài Loan của Nhật Bản trước đó, rõ ràng đồng tiền mới và ổn định là rất cần thiết. Khi chính phủ Quốc Dân Đảng rút lui về Đài Loan sau khi để mất Trung Quốc đại lục trong cuộc nội chiến Quốc-Cộng, họ đã mang một phần tiền kim loại và dự trữ ngoại tệ trước đó ở đại lục đem sang hòn đảo. Mặc dù Trung Quốc bị chiến tranh tàn phá nên chỉ nắm giữ một lượng dự trữ rất nhỏ khoảng chừng 170 triệu USD tất cả,[1] nhưng nó đủ giúp thiết lập dự trữ tiền tệ bản vị vàng ở Đài Loan, nói cách khác nó làm ổn định hóa giá cả và giảm bớt siêu lạm phát.

Tính từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, từ một nền kinh tế quy mô nhỏ, Đài Loan đã trải qua thời kỳ hơn 50 năm phát triển thành công, một thời kỳ phát triển liên tục vào loại dài nhất trong lịch sử. Đặc biệt, Đài Loan đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế trung bình trên 9% trong suốt những năm từ năm 1960 đến năm 1980 và vươn lên cùng thời với những Hàn Quốc, Hồng Kông và Singapore, các nước này trở thành Bốn con hổ châu Á.

Yếu tố tạo nên Kỳ tích Đài Loan

Cuộc cải cách ruộng đất mang tính bước ngoặt

Vào đầu những năm 1950, chương trình "Người cày có ruộng" (Land to the Tiller) được thực thi. Chính quyền mua lại đất từ các địa chủ lớn bằng trái phiếu và cổ phiếu của các công ty nhà nước, sau đó bán lại cho nông dân nhỏ lẻ trả góp với giá rẻ.

Kết quả kép: Nông dân có đất nên năng suất nông nghiệp tăng vọt, tạo thặng dư lương thực và vốn. Trong khi đó, các địa chủ cầm cổ phiếu buộc phải chuyển hướng dòng vốn từ "ôm đất" sang đầu tư công nghiệp và thương mại, đặt nền móng cho sự cất cánh của khu vực kinh tế tư nhân.

Dịch chuyển chiến lược: Từ dệt may đến Bán dẫn

Đài Loan không chọn một mô hình cố định mà liên tục nâng cấp mức độ thâm nhập chuỗi giá trị toàn cầu một cách cực kỳ nhịp nhàng theo từng giai đoạn ứng với trình độ phát triển.

  • Thập niên 1950 - 1960: Tập trung vào công nghiệp nhẹ, thâm dụng lao động (như dệt may, sản xuất nhựa, đồ chơi, gia công thô) để tích lũy ngoại tệ và giải quyết vấn đề việc làm cho người dân.
  • Thập niên 1970 - 1980: Chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghiệp nặng, hóa chất và đặc biệt là điện tử. Chính quyền thành lập Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp (ITRI) và Công viên Khoa học Tân Trúc (Hsinchu Science Park) để đón đầu xu hướng công nghệ toàn cầu.

Đỉnh cao của chiến lược công nghệ là việc thành lập TSMC (Taiwan Semiconductor Manufacturing Company/Công ty chế tạo chất bán dẫn Đài Loan) vào năm 1987 bởi doanh nhân Trương Trung Mưu. Bằng cách đi tiên phong trong mô hình "chỉ gia công chip" (pure-play foundry) chứ không tự thiết kế sản phẩm, TSMC đã đưa Đài Loan trở thành "lá chắn silicon" không thể thay thế của toàn bộ chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu hiện nay.

Tận dụng hiệu quả viện trợ Mỹ và "Chất xám ngược"

Trong giai đoạn đầu (1951–1965), nguồn viện trợ kinh tế trị giá khoảng 1.5 tỷ USD từ Mỹ được Đài Loan hấp thụ rất tốt để xây dựng và phát triển đất nước, thay vì tiêu dùng lãng phí. Hơn 1/3 khoản trợ giúp này được đầu tư phát triển nông nghiệp, phần còn lại đầu tư vào công nghiệp, khai mỏ, giao thông, sức khỏe, giáo dục và phát triển xã hội cũng như xây dựng hạ tầng cơ bản thiết yếu như hệ thống điện, đường cao tốc và cảng biển.

Đến khi bước vào kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ, họ áp dụng các chính sách đãi ngộ tốt, xây dựng môi trường nghiên cứu lý tưởng nhằm thu hút hàng loạt kỹ sư, nhà khoa học gốc Đài đang làm việc tại Thung lũng Silicon (Mỹ) và các nước khác quay trở về quê hương khởi nghiệp.

Xương sống từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)

Khác với mô hình tập đoàn gia đình khổng lồ (Chaebol) được nhà nước bảo trợ của Hàn Quốc, hay mô hình Keiretsu ở Nhật Bản, nền kinh tế Đài Loan lại được vận hành chủ yếu bởi mạng lưới hàng vạn doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự linh hoạt, nhạy bén và khả năng thay đổi đường lối kinh doanh và phát triển cực nhanh của các SMEs này giúp nền kinh tế Đài Loan có sức chống chịu rất cao trước các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Chiến lược giáo dục bắt buộc

Đài Loan áp dụng chính sách giáo dục bắt buộc 9 năm từ rất sớm (năm 1968) và tập trung mạnh vào các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM). Nguồn nhân lực chất lượng cao, kỷ luật và có tư duy kỹ thuật chính là nền tảng cốt lõi giúp họ tiếp thu nhanh chóng các công nghệ chuyển giao tiên tiến nhất từ phương Tây.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ ước lượng theo Finance Weekly, quyển 19, số 17, ra tháng 11 năm 1948

Đọc thêm

  • Nguyễn Huy Quý (1995). Kỳ tích kinh tế Đài Loan. Sách tham khảo. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia.