Súng ngắn TT
TT-30,[lower-alpha 1] thường được biết đến phổ biến với tên gọi đơn giản là TT hoặc súng ngắn Tokarev (tại Việt Nam thường gọi là K-54), là một loại súng ngắn bán tự động được thiết kế và sản xuất tại Liên Xô. Khẩu TT do nhà thiết kế Fedor Tokarev phát triển và từng đóng vai trò là súng ngắn tiêu chuẩn của Lực lượng Vũ trang Liên Xô cùng lực lượng dân cảnh Militsiya từ năm 1931 đến năm 1951.
Khẩu TT được phát triển vào cuối thập niên 1920 nhằm thay thế cho mẫu súng ngắn ổ xoay Nagant M1895 và dựa trên các thiết kế của John Moses Browning, đi kèm với những sửa đổi ở các chi tiết nhỏ để đơn giản hóa dây chuyền sản xuất cũng như quá trình bảo dưỡng.[1] Nó đã cùng các lực lượng Liên Xô tham chiến trong nhiều cuộc xung đột suốt thập niên 1930 và 1940, bao gồm cả Chiến tranh Thế giới thứ hai. Về sau, khẩu TT bị thay thế bởi mẫu súng ngắn Makarov (K-59) do vấp phải những chỉ trích về kích thước, trọng lượng, tiện ích sử dụng và việc thiếu đi cơ cấu chốt an toàn chủ động. Quá trình sản xuất TT tại Liên Xô chính thức chấm dứt vào năm 1954, nhưng các phiên bản phái sinh của nó vẫn tiếp tục được chế tạo trong nhiều năm sau đó tại Trung Quốc và Yugoslavia.[2] Đây là một trong những mẫu vũ khí quân dụng được sản xuất với số lượng lớn nhất trên thế giới, với ít nhất 1.700.000 khẩu đã ra đời, và hiện vẫn tiếp tục được sử dụng sâu rộng trong biên chế của nhiều lực lượng quân đội và cảnh sát trên toàn cầu.
Quá trình phát triển
Trước năm 1930, Liên Xô đã sử dụng rất nhiều chủng loại súng ngắn bán tự động do nước ngoài sản xuất, bao gồm: FN M1900, FN M1903, FN M1905, M1921 "Bolo" Mauser, và khẩu Colt M1911, bên cạnh mẫu súng ngắn ổ xoay Nagant M1895. Nhằm đơn giản hóa việc sản xuất, Ủy ban Pháo binh Liên Xô (đơn vị giám sát việc thiết kế vũ khí bộ binh) đã quyết định áp dụng cỡ đạn súng ngắn 7,62 mm, cho phép tận dụng các nòng súng trường Mosin-Nagant bị cắt ngắn để chế tạo nòng súng ngắn và súng tiểu liên.[3] Vào năm 1930, Hồng quân đã tiến hành các đợt thử nghiệm để lựa chọn một mẫu súng ngắn tiêu chuẩn mới; thiết kế của Tokarev đã được đem ra thử nghiệm đối chứng với các phiên bản phóng to của khẩu súng ngắn Korovin, mẫu thiết kế tự nạp đạn giai đoạn 1920−1921 của Sergei Aleksandrovich Prilutsky, cũng như nhiều mẫu súng ngắn nước ngoài khác.[lower-alpha 2] Thiết kế của Tokarev, vốn được đánh giá là nhẹ hơn, có độ chính xác và độ tin cậy cao hơn các đối thủ cạnh tranh (bất chấp việc khó tháo lắp hơn), đã được thông qua với tên gọi Tula-Tokarev Model 1930, dù phải đến năm sau khẩu súng này mới chính thức được đưa vào biên chế.[4]
Sau khi được chấp thuận đưa vào trang bị, mẫu TT-30 đã được sửa đổi, chủ yếu là để đơn giản hóa quy trình sản xuất, chẳng hạn như chế tạo phần ốp báng sau đúc liền khối với khung thân súng thay vì để rời như trước, giúp giảm bớt thời gian gia công cơ khí.[5] Mẫu súng ngắn cải tiến mới này được đặt định danh là TT-33.[6]
Lịch sử chiến đấu
Khẩu TT-33 chủ yếu được cấp phát cho các sĩ quan,[6] mặc dù một số hạ sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp (chẳng hạn như xạ thủ bắn tỉa) cũng được trang bị súng ngắn làm vũ khí phụ.[7] Các đơn vị kỵ binh chọn mang súng ngắn ổ xoay Nagant 1895 thay thế, do việc thiếu chốt an toàn bên ngoài trên khẩu súng ngắn TT tiềm ẩn nhiều rủi ro cho cả ngựa lẫn kỵ thủ.[8]
Mặc dù TT-33 từng được sử dụng với số lượng nhỏ trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, đợt tham chiến lớn đầu tiên của dòng súng ngắn Tokarev là trong cuộc Chiến tranh Mùa đông chống lại Phần Lan. Quân đội Phần Lan đã tịch thu được một số lượng súng ngắn TT-33 và súng tiểu liên PPD, chúng được họ sử dụng liên tục cho đến khi cạn kiệt nguồn đạn 7,62 mm Tokarev.[9]
Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, cả quân Đức và quân Phần Lan đều tích cực sử dụng những khẩu TT-33 tịch thu được, trong đó phía Đức nắm lợi thế lớn khi có sẵn nguồn đạn 7.63×25mm Mauser — loại đạn có thể nạp và bắn được từ súng ngắn TT (ở chiều ngược lại, đạn 7,62×25mm Tokarev không thể bắn từ các vũ khí thiết kế cho cỡ đạn 7,63 mm Mauser do áp suất buồng đạn của viên đạn Liên Xô cao hơn đáng kể). Những khẩu súng ngắn tịch thu này đã được cấp phát lại cho binh lính Đức dưới định danh Pistole 615(r).[10]
Sau chiến tranh, TT-33 dần bị thay thế hoàn toàn trong biên chế quân đội và cảnh sát Liên Xô bởi mẫu súng ngắn Makarov (K-59), dù vậy một số khẩu vẫn tiếp tục được ghi nhận sử dụng cho đến tận thế kỷ 21.[11] Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam đã tiếp nhận một số lượng khổng lồ các khẩu TT-33 và sử dụng chúng song song với các phiên bản sao chép do Trung Quốc chế tạo trong suốt Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam.[12] Số súng ngắn Liên Xô dư thừa cũng được chuyển đến các quốc gia châu Phi với số lượng lớn dưới dạng viện trợ quân sự. Theo nhà nghiên cứu Thompson, có hơn 60 quốc gia từng sử dụng súng ngắn TT-33, với 8 quốc gia tiến hành sản xuất hàng loạt các bản sao hoặc các mẫu súng ngắn dựa trên thiết kế của hệ Tokarev.[13] Một số lực lượng kháng chiến và nhóm vũ trang ở Trung Đông cũng sở hữu được lượng lớn dòng súng này, bao gồm cả những khẩu Tokagypt 58 do Hungary sản xuất — vốn là lô súng ban đầu được thiết kế để trang bị cho chính quyền Tổng thống Nasser sau khi chính quyền Eisenhower từ chối bán vũ khí cho Ai Cập. Những khẩu Tokagypt 58 là một vũ khí chủ chốt trong kho vũ khí của Tổ chức Phái quân đội đỏ (RAF), và các thành viên sáng lập như Ulrike Meinhof và Andreas Baader đều đã được huấn luyện kỹ năng bắn súng bằng những khẩu Tokagypt tại một trại tập trung của người Ả Rập ở Jordan.[14] Các nhóm vũ trang tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha như tổ chức ly khai ETA và nhóm FP-25 cũng thu mua được một số lượng lớn súng Tokagypt.[15]
Trong cuộc Chiến tranh Liên Xô–Afghanistan, lực lượng Mujahideen Afghanistan đã sử dụng rộng rãi các khẩu súng ngắn tịch thu từ binh lính Liên Xô, kết hợp với các phiên bản nhái của hệ súng Tokarev và Makarov do các xưởng ở Đèo Khyber chế tạo rồi tuồn sang từ Pakistan.[16]
Chi tiết thiết kế
Về ngoại hình, TT-33 rất giống với khẩu súng ngắn FN Mẫu 1903 hoạt động theo nguyên lý phản lực bắn lùi tự do của John Browning, nhưng về kết cấu bên trong, nó lại sử dụng hệ thống khóa nòng lùi ngắn nòng góc nghiêng dựa trên khẩu M1911 cũng của Browning. Ở các bộ phận khác, TT-33 có sự khác biệt lớn so với các thiết kế của Browning — nó sử dụng cụm búa và lẫy cản đơn giản hơn nhiều so với M1911. Cụm bộ phận này có thể tháo rời khỏi súng như một khối mô-đun độc lập và tích hợp sẵn cả các vấu dẫn đạn của hộp tiếp đạn được phay trực tiếp, giúp ngăn ngừa tình trạng kẹt đạn/nạp đạn lỗi khi lắp phải một hộp tiếp đạn bị móp méo vào giếng báng súng.[17] Bản thân các hộp tiếp đạn cũng có thể tháo rời để vệ sinh, đây là một biện pháp khác nhằm hạn chế tối đa các sự cố hóc đạn.[1]
Khẩu súng này không có chốt an toàn chủ động bên ngoài và thường được mang bên mình trong trạng thái đã lên báng (một viên đã nằm sẵn trong buồng đạn) và búa đập ở nấc an toàn.[1] Phương pháp an toàn nhất để mang TT-33 là để trống buồng đạn, mặc dù điều này đòi hỏi xạ thủ phải dùng tay kéo bệ khóa nòng về phía sau rồi thả ra để đưa súng vào tư thế sẵn sàng chiến đấu, hành động này khá tốn lực do lò xo đẩy về của súng tương đối cứng.[18]
TT-33 hoán cải buồng đạn để sử dụng loại đạn 7.62×25mm Tokarev, vốn dựa trên cỡ đạn tương tự 7.63×25mm Mauser của khẩu súng ngắn Mauser C96. Viên đạn 7,62×25mm này có uy lực mạnh, đường đạn cực kỳ phẳng và có khả năng xuyên qua các lớp quần áo dày cũng như áo giáp chống đạn mềm.[19] Bất chấp uy lực mạnh mẽ của viên đạn 7,62 mm, TT-33 lại có độ giật tương đối êm.[18]
Dù súng ngắn Tokarev được sản xuất hàng loạt cho Hồng quân, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì dây chuyền sản xuất súng ngắn ổ xoay Nagant 1895 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai do nhu cầu vật tư thời chiến và cả những nhược điểm cố hữu của TT-33, bao gồm việc súng rất khó thò qua khe nhìn của xe tăng để bắn, hộp tiếp đạn dễ bị bấm vô tình làm rơi ra ngoài, và tuổi thọ linh kiện súng bị giảm do áp lực lớn đè nặng lên kim hỏa. Do thiếu chốt an toàn bên ngoài, các đơn vị kỵ binh (bao gồm cả lực lượng lính Cossack) đã chọn mang súng Nagant làm vũ khí phụ thay thế.[20]
Ngay từ năm 1938, người Liên Xô đã tính đến chuyện tìm vũ khí thay thế cho TT-33 và các cuộc thử nghiệm đã được vạch ra. Sau khi kiểm tra vài thiết kế, bao gồm cả một bài dự thi của Tokarev, mẫu súng thiết kế 18 viên dùng cỡ đạn 7,62 mm của Pavel V. Voyevodin đã được lựa chọn, nhưng quá trình phát triển đã bị hoãn lại sau khi quân Đức phát động Chiến dịch Barbarossa.[21]
Những khẩu TT thuộc các lô sản xuất đời đầu có lớp lớp phủ bề mặt màu đen hoặc xanh đen sẫm chất lượng cao, trong khi các mẫu thời chiến (1942−1945) có lớp hoàn thiện thô hơn và sử dụng ốp báng bằng gỗ thay vì bằng cao su, đồng thời trên một số mẫu, vòng móc dây bạt ở đáy hộp tiếp đạn đã bị lược bỏ. Tổng cộng có 1.059;687 khẩu súng ngắn đã được chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, trong khi có khoảng 46.000 khẩu được chế tạo sau chiến tranh: những khẩu súng hậu chiến này có lớp hoàn thiện tốt hơn và phần ốp báng tương tự như các mẫu tiền chiến. Chúng cũng sở hữu thước ngắm sau cao hơn một chút và các rãnh khía thanh mảnh hơn ở phía sau bệ khóa nòng.[22]
Các biến thể
Liên Xô
- TT-30: Mẫu nguyên bản, được Liên Xô thông qua làm súng ngắn quân sự tiêu chuẩn vào năm 1931. Ước tính có khoảng 93.000 khẩu súng ngắn đã được chế tạo cho đến năm 1936.[23]
- TT-33: Một phiên bản sửa đổi và đơn giản hóa từ bản TT-30,[6] về sau bị thay thế bởi Súng ngắn Makarov. Một phiên bản dân sự của dòng TT-33 đã được giới thiệu vào những năm 2010 bởi Nhà máy chế tạo máy Molot. Những khẩu súng ngắn này có ngoại hình tương tự như bản gốc, nhưng được cải hoán buồng đạn để sử dụng cỡ đạn 10×33mm chứa một viên bi cao su duy nhất có đường kính 10 mm (0,39 in) cho mục đích tự vệ.[2]
- TT-3: Súng ngắn huấn luyện sử dụng cỡ đạn .22 long rifle, mẫu này dường như chưa bao giờ vượt qua giai đoạn thử nghiệm ban đầu.[24]
- TT-4: Gần như đồng nhất với khẩu TT-3, nhưng sở hữu phần nòng súng dài hơn. Mẫu này dường như cũng chưa bao giờ vượt qua giai đoạn thử nghiệm ban đầu.[24]
Trung Quốc
- Kiểu 51 (K-51): Một phiên bản sao chép gần như y hệt khẩu TT-33, ngoại trừ các ký tự khắc bằng tiếng Trung ở phía sau bên trái khung thân súng hoặc trên đỉnh bệ khóa nòng.[25] Theo Thompson, nòng của phiên bản này không được mạ chrome. Có hơn 235.000 khẩu đã được sản xuất trong giai đoạn 1951–1954.[26]
- Kiểu 54 (K-54): Phiên bản thay thế cho mẫu Kiểu 51 vào năm 1954. Có khoảng 420.000 khẩu được sản xuất cho đến năm 1985. Có tới 50.000 khẩu Kiểu 54 đã được xuất khẩu sang Miền Bắc Việt Nam.[26]
- M20: Về cơ bản là một khẩu Kiểu 54 nhưng không có các ký tự khắc (súng trơn) nhằm phục vụ cho các chiến dịch bí mật. Ít nhất một số lượng súng đã được cung cấp cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam. Ước tính có chưa đầy 50.000 khẩu được chế tạo.[27]
- TU-20[28]
- Mẫu 213 (Model 213): Phiên bản xuất khẩu của hãng Norinco, thực chất là một khẩu Kiểu 54 được lắp thêm chốt an toàn bên ngoài và hoán cải buồng đạn để sử dụng cỡ đạn 9×19mm Parabellum.[29]
- Model 213A: Một biến thể của Mẫu 213 sử dụng hộp tiếp đạn hàng đôi 14 viên.[29]
- Model 213B: Một biến thể của Mẫu 213 với phần ốp báng dạng bọc quanh để cải thiện tính công thái học.[29]
- NP-10: Phiên bản xuất khẩu có khả năng hoán đổi nòng súng linh hoạt. Nó có thể bắn được các cỡ đạn 7,62×25mm, 9×19mm, và .38 Super.[29]
- NP-15: Phiên bản xuất khẩu dùng cỡ đạn 9×19mm với hệ thống ngắm ba điểm trắng và phần ốp báng bằng cao su đen.[29]
- NP-17: Phiên bản bắn tập xuất khẩu dùng cỡ đạn 9×19mm với nòng súng dài 116 mm (4,6 in) và tích hợp loa giảm giật đầu nòng.[29]
Hungary
- M48: Thường được biết đến phổ biến với tên gọi 48M, danh pháp Pisztoly 48 Minta là phiên bản sao chép có bản quyền của khẩu TT-33, do hãng Fegyver- és Gépgyár (FÉG) sản xuất từ năm 1948 cho đến năm 1958. Chúng có thể được nhận biết thông qua biểu tượng phù hiệu Rákosi hoặc János Kádár trên ốp báng súng. Khoảng 100.000 khẩu đã được chế tạo.[30]
- Tokagypt 58: Phiên bản xuất khẩu dành riêng cho Ai Cập, sử dụng cỡ đạn 9×19mm Parabellum và từng được các lực lượng cảnh sát tại quốc gia này sử dụng rộng rãi.[17]
Triều Tiên
- Kiểu 68: Còn được biết đến với tên gọi Kiểu 66/68 hoặc M68,[17][31] mẫu súng này được sản xuất tại Nhà máy Vũ khí Chongyul và có thể phân biệt với khẩu TT-33 nhờ phần nòng súng ngắn hơn,[lower-alpha 3] cùng các rãnh khía lớn ở phía sau bệ khóa nòng nhằm giúp xạ thủ có điểm bám tốt hơn khi kéo bệ khóa nòng lên đạn.[32] Các điểm khác biệt khác bao gồm lẫy giữ hộp tiếp đạn được đặt ở đáy báng súng,[31] hệ thống khóa nòng nòng góc nghiêng tương tự như khẩu Browning Hi-Power, cụm kim hỏa được sửa đổi và bộ phận dừng bệ khóa nòng được gia cường. Hộp tiếp đạn của TT-33 có thể sử dụng được cho khẩu Kiểu 68, nhưng không thể làm ngược lại.[32] Trong thập niên 1980, khẩu Kiểu 68 dần bị thay thế hoàn toàn bởi súng ngắn Baek Du San (Bạch Đầu Sơn) - một phiên bản sao chép của Triều Tiên từ mẫu súng ngắn CZ 75 của Tiệp Khắc.[33]
Pakistan
- Súng nhái Đèo Khyber: Cả các phiên bản súng ngắn TT hợp pháp lẫn bất hợp pháp hiện vẫn đang được chế tạo tại nhiều xưởng cơ khí khác nhau thuộc khu vực Đèo Khyber của Pakistan.[34] Chất lượng của chúng rất thượng vàng hạ cám, với một số bản sao cá biệt tinh vi đến mức gần như không thể phân biệt được với súng nguyên bản. Những bản sao này thường có thể bị nhận dạng qua các ký tự khắc sai chính tả hoặc lớp hoàn thiện thô ráp. Do áp suất buồng đạn cực cao được tạo ra bởi viên đạn 7.62×25mm kết hợp với chất lượng thép và quy trình nhiệt luyện thường kém của các cơ sở gia công này, chúng có thể gây nguy hiểm lớn cho xạ thủ khi bắn.[16]
Ba Lan
- wz. 1933: Phiên bản sản xuất theo giấy phép nhượng quyền với định danh Pistolet wzór 1933.[35] Có khoảng 225.500 khẩu súng ngắn đã được hãng FB "Łucznik" Radom chế tạo từ năm 1948 cho đến năm 1955, tiếp nối sau một đợt sản xuất giới hạn trong giai đoạn 1946−1947. Nó bị thay thế bởi khẩu FB P-64 vào năm 1967, dù mẫu wz. 1933 vẫn tiếp tục phục vụ với số lượng hạn chế cho đến thập niên 1990.[13]
- TT Sportowy: Phiên bản súng ngắn huấn luyện sử dụng cỡ đạn .22 LR,[13] áp dụng các ống lót tạm bằng nhôm hoặc đồng thau để giữ các viên đạn nổ lề (rimfire).
Romania
- TTC: Được đặt định danh là Tula Tokarev Cugir, mẫu súng này do Nhà máy vũ khí Cugir chế tạo. Mẫu thử nghiệm đầu tiên ra đời vào năm 1951, và quá trình sản xuất hàng loạt kéo dài cho đến năm 1957. Bản TTC được quân đội Romania thông qua vào năm 1952 và nằm trong biên chế (bao gồm cả các đơn vị cảnh sát) cho đến tận cuối thập niên 1990.[36] Tổng cộng có 155.648 khẩu súng ngắn đã được sản xuất. Trong số đó, khoảng 30.000 khẩu đã được xuất khẩu sang Syria và Iraq, trong khi vài nghìn khẩu khác được bán cho các khách hàng nước ngoài khác.[36]
Việt Nam
- K-54VN: Phiên bản súng ngắn nội địa do Nhà máy Z111 sản xuất nhằm thay thế và đại tu cho các khẩu súng ngắn Kiểu 54 cũ (được Việt Nam gọi với định danh K-54) đang có trong biên chế.[37]
- K14: Phiên bản nâng cấp từ khẩu K-54VN cũng do Nhà máy Z111 chế tạo. Súng sở hữu nòng dài hơn 11 mm (0,43 in), hộp tiếp đạn được nâng dung lượng lên thành 13 viên, đi kèm phần báng súng dày hơn để chứa vừa hộp tiếp đạn hàng đôi (double stack).[37] Vào đầu tháng 10 năm 2014, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp nhận 50 khẩu súng này để tiến hành thử nghiệm đánh giá.[38]
Yugoslavia / Serbia
- M57: Mẫu Zastava Model M57 là một phiên bản cải tiến từ khẩu TT-33 do hãng Zastava Arms chế tạo, với phần báng súng dài hơn để chứa vừa hộp tiếp đạn 9 viên (so với 8 viên của khẩu TT nguyên bản), và tích hợp thêm chốt an toàn hộp tiếp đạn, dù phần lòng nòng không được mạ chrome. Có khoảng 260.000−270.000 khẩu súng ngắn đã được sản xuất từ năm 1963 đến năm 1982, đi kèm một dây chuyền sản xuất riêng biệt dành cho Croatia.[39]
- M70: Tránh nhầm lẫn với mẫu súng ngắn hoạt động theo nguyên lý phản lực bắn lùi tự do M70 cũng do Zastava sản xuất; đây thực chất là một khẩu M57 cải hoán buồng đạn cho cỡ đạn 9×19mm. Nó sử dụng hệ thống khương tuyến 6 rãnh thay vì 4 rãnh như bản gốc.[40]
- M70A: Phiên bản cải tiến từ khẩu M70, sở hữu một chốt an toàn phụ gắn trên bệ khóa nòng giúp khóa chặt kim hỏa.[40]
- M70: Một mẫu súng ngắn hoạt động bằng phản lực bắn lùi tự do sử dụng cỡ đạn .32 ACP. Nó được tích hợp một chốt an toàn thủ công để khóa cơ cấu cò và một chốt an toàn tự động giúp khóa lẫy cản khi hộp tiếp đạn bị tháo ra khỏi súng.[40]
- M70(k): Mẫu súng ngắn phản lực bắn lùi tự do có kết cấu đồng nhất với khẩu M70, nhưng hoán cải buồng đạn để sử dụng cỡ đạn .380 ACP.[40]
- M88: Phiên bản gọn nhẹ và được hiện đại hóa từ mẫu súng ngắn M70 9×19mm với hộp tiếp đạn 8 viên. Dù phần lớn vẫn giữ nguyên cơ chế vận hành kiểu Tokarev, ngoại hình bên ngoài của nó có rất ít điểm tương đồng với khẩu TT-33. Súng tích hợp một chốt an toàn nằm trên khung thân.[41]
- Zastava M88A: Gần như đồng nhất với khẩu M88, nhưng sở hữu chốt an toàn gắn ở phía sau bệ khóa nòng. Bộ phận này không chỉ khóa chặt kim hỏa mà còn ngắt hoàn toàn liên kết truyền động giữa thanh cò và búa đập.[41]
Các cuộc xung đột
- Nội chiến Tây Ban Nha[9]
- Chiến tranh Thế giới thứ hai[42]
- Chiến tranh Triều Tiên[43]
- Chiến tranh Việt Nam
- Xung đột Ả Rập – Israel[44]
- Chiến tranh giải phóng Bangladesh[45]
- Cách mạng Hungary 1956[46]
- Bạo loạn cộng sản tại Thái Lan
- Nội chiến El Salvador
- Nội chiến Burundi[47]
- Chiến tranh Afghanistan (2001–2021)[48]
- Chiến tranh giành độc lập Namibia[49][50]
- Chiến tranh Chechnya lần thứ nhất[51]
- Chiến tranh Nga-Ukraina[52][53]
Các quốc gia sử dụng
Hiện tại
- Bản mẫu:AFG[54] − Được sử dụng bởi lực lượng đặc nhiệm Red Unit[55]
- Bản mẫu:Flaglist[54]
- Bản mẫu:Country data Angola[54]
- Bản mẫu:Country data Armenia[54]
- Bản mẫu:Country data Azerbaijan[54]
- Bản mẫu:Country data Belarus[56] − Được lực lượng Phòng thủ Lãnh thổ sử dụng[57]
- Bản mẫu:Country data Benin[56]
- Tập tin:Flag of Cambodia.svg Campuchia[58]
- Bản mẫu:Country data Congo-Brazzaville[59]
- Bản mẫu:Country data Equatorial Guinea[60]
- Bản mẫu:Country data Georgia[61]
- Bản mẫu:Country data Guinea[61]
- Bản mẫu:Country data Guinea-Bissau[61]
- Tập tin:Flag of Hungary.svg Hungary[62] − Được sản xuất nội địa với định danh M48[30]
- Tập tin:Flag of Indonesia.svg Indonesia[63]
- Bản mẫu:Country data Iraq[62]
- Bản mẫu:Country data Ivory Coast[64]
- Bản mẫu:Country data Kazakhstan[65]
- Bản mẫu:Country data Kyrgyzstan[66]
- Bản mẫu:Country data Laos[66]
- Bản mẫu:Country data Libya[67]
- Tập tin:Flag of Lithuania.svg Litva[67]
- Bản mẫu:Country data Madagascar[67]
- Tập tin:Flag of Malta.svg Malta[67]
- Bản mẫu:Country data Mauritania[67]
- Bản mẫu:Country data Moldova[68]
- Bản mẫu:Country data Mongolia[68]
- Bản mẫu:Country data Montenegro − Sử dụng các dòng súng ngắn M57 và M70[68]
- Bản mẫu:Country data Mozambique[68]
- Tập tin:Flag of Pakistan.svg Pakistan[16]
Nga[69]
- Bản mẫu:Country data Sierra Leone[70]
- Bản mẫu:Country data Somalia[70]
- Bản mẫu:Country data Sri Lanka[71]
- Bản mẫu:Country data Syria[72]
- Bản mẫu:Country data Uganda[73]
- Bản mẫu:Country data Ukraine[53]
- Tập tin:Flag of Vietnam.svg Việt Nam − Đồng thời sử dụng cả phiên bản Kiểu 54 của Trung Quốc và Kiểu 68 của Triều Tiên[26][73]
- Bản mẫu:Country data Zambia[74]
- Bản mẫu:Country data Zimbabwe[74]
Trước đây
- Bản mẫu:BUL[75]
- Bản mẫu:Country data Finland − Sử dụng hạn chế những khẩu TT-33 tịch thu được trong Chiến tranh Mùa đông và Chiến tranh Tiếp diễn. Binh lính Phần Lan gọi loại súng này với biệt danh là "Súng ngắn Ngôi sao" (tähti-pistooli)[42]
- Bản mẫu:Country data East Germany − Sử dụng hạn chế dòng súng TT-33 cho đến khi mẫu súng ngắn Pistole M (K-59) được thông qua vào giai đoạn 1958−1959[76]
- Bản mẫu:Country data Nazi Germany − Tịch thu từ Lực lượng Liên Xô[17]
- Bản mẫu:Country data North Korea − Sản xuất nội địa dưới định danh Kiểu 66/68.[31] Về sau bị thay thế bởi mẫu súng ngắn Baek Du San[33]
- Bản mẫu:LAT[66]
- Bản mẫu:Country data Poland − Sản xuất nội địa dưới định danh wz. 1933. Bị thay thế bởi khẩu FB P-64 vào năm 1967, nhưng vẫn tiếp tục phục vụ với số lượng hạn chế cho đến thập niên 1990[13]
- Bản mẫu:Country data Romania − Sản xuất nội địa dưới định danh TTC (Tula Tokarev Cugir). Nằm trong kho trang bị của các đơn vị quân đội và cảnh sát cho đến cuối thập niên 1990[36]
- Bản mẫu:Country data Soviet Union − Các phiên bản TT-30 và TT-33[77]
Ghi chú
- ^ tiếng Nga: 7,62-мм самозарядный пистолет Токарева образца 1930 года, đã Latinh hoá: 7,62 mm Samozaryadny Pistolet Tokareva obraztsa 1930 goda, "Súng ngắn tự nạp đạn Tokarev 7,62 mm mẫu năm 1930", tên viết tắt TT đại diện cho Tula-Tokarev)
- ^ Theo Yelshin, một số mẫu súng ngắn nước ngoài được đưa vào thử nghiệm bao gồm các thiết kế đến từ hãng Browning và Walther Bản mẫu:Harv
- ^ Khẩu Type 66/68 sở hữu phần nòng súng dài 107 mm (4,2 in), ngắn hơn so với nòng súng dài 116 mm (4,6 in) của khẩu TT-33. Bản mẫu:Harv
Chú thích
- ^ a ă â Weeks 1980, tr. 51.
- ^ a ă Jones & Ness 2010, tr. 59.
- ^ Thompson 2022, tr. 12−15.
- ^ Thompson 2022, tr. 13−17.
- ^ Thompson 2022, tr. 17.
- ^ a ă â Yelshin 1981, tr. 37.
- ^ Thompson 2022, tr. 45.
- ^ Thompson 2022, tr. 40.
- ^ a ă Thompson 2022, tr. 37.
- ^ Thompson 2022, tr. 38.
- ^ Thompson 2022, tr. 47.
- ^ Thompson 2022, tr. 62, 64–65.
- ^ a ă â b Thompson 2022, tr. 62.
- ^ Dobson & Payne 1979, tr. 105.
- ^ Central Intelligence Agency 1984, tr. 23–24.
- ^ a ă â Thompson 2022, tr. 69.
- ^ a ă â b Bishop, Chris (2006). The Encyclopedia of Small Arms and Artillery. Grange Books. tr. 13–14. ISBN 978-1-84013-910-5.
- ^ a ă Thompson 2022, tr. 19.
- ^ Bản mẫu:Cite AV media
- ^ Thompson 2022, tr. 21,40.
- ^ Thompson 2022, tr. 21.
- ^ Thompson 2022, tr. 17−18.
- ^ Thompson 2022, tr. 16−17.
- ^ a ă Thompson 2022, tr. 20.
- ^ Jones & Ness 2010, tr. 16.
- ^ a ă â Thompson 2022, tr. 64.
- ^ Thompson 2022, tr. 64−65.
- ^ Kokalis, Peter (tháng 1 năm 2001). Weapons Tests And Evaluations: The Best Of Soldier Of Fortune. Boulder, Colorado, US: Paladin Press. tr. 96. ISBN 978-1-58160-122-0.
- ^ a ă â b c d Jones & Ness 2010, tr. 16−17.
- ^ a ă Thompson 2022, tr. 62−63.
- ^ a ă â Thompson 2022, tr. 67.
- ^ a ă Jones & Ness 2010, tr. 43.
- ^ a ă Hong, Heebum; Shea, Dan (ngày 11 tháng 8 năm 2023). "North Korean Small Arms". Small Arms Defense Journal. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2025.
- ^ "The Way of the Gun: The legendary gunsmiths of Darra Adam Khel". Riaz Ahmed. Express Tribune. ngày 4 tháng 11 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2016.
- ^ Instrukcja Piechoty Pistolet wz. 1933 (wydanie drugie) Piech. 38/48 [Infantry Manual Pistol pattern. 1933 (second edition) Piech. 38/48] (bằng tiếng Polish) (ấn bản thứ 2). Warsaw, Poland: Wydawnictwo Ministerstwa Obrony Narodowej. ngày 18 tháng 10 năm 1961.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ^ a ă â Thompson 2022, tr. 65.
- ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênDatviet - ^ "Súng ngắn K14 Việt Nam được phát triển thế nào?". ngày 18 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2016.
- ^ Thompson 2022, tr. 65−67.
- ^ a ă â b Jones & Ness 2010, tr. 61.
- ^ a ă Jones & Ness 2010, tr. 62.
- ^ a ă "Finnish Army 1918 - 1945: Revolvers & Pistols Part 2". www.jaegerplatoon.net. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2018.
- ^ Rottman, Gordon L. (tháng 12 năm 2002). Korean War Order of Battle: United States, United Nations, and Communist Ground, Naval, and Air Forces, 1950-1953. Praeger. tr. 198. ISBN 978-0-275-97835-8. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2018.
- ^ Katz, Sam (ngày 24 tháng 3 năm 1988). Arab Armies of the Middle East Wars (2). Men-at-Arms 128. Osprey Publishing. tr. 39. ISBN 9780850458008.
- ^ "Arms for freedom". ngày 29 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
- ^ Schmidl, Erwin; Ritter, László (ngày 10 tháng 11 năm 2006). The Hungarian Revolution 1956. Elite 148. Osprey Publishing. tr. 45. ISBN 9781846030796.
- ^ Small Arms Survey (2007). "Armed Violence in Burundi: Conflict and Post-Conflict Bujumbura" (PDF). The Small Arms Survey 2007: Guns and the City. Cambridge University Press. tr. 204. ISBN 978-0-521-88039-8. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
- ^ Small Arms Survey (2012). "Surveying the Battlefield: Illicit Arms In Afghanistan, Iraq, and Somalia". Small Arms Survey 2012: Moving Targets. Cambridge University Press. tr. 332. ISBN 978-0-521-19714-4. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2018.
- ^ Lord, Dick (2012). From Fledgling to Eagle: The South African Air Force during the Border War. Solihull: Helion & Company. tr. 42–53. ISBN 978-1-908916-62-4.
- ^ Namakalu, Oswin Onesmus (2004). Armed Liberation Struggle: Some Accounts of PLAN's Combat Operations. Windhoek: Gamsberg Macmillan. tr. 22. ISBN 978-99916-0-505-0.
- ^ German 2003, tr. 58.
- ^ Ferguson & Jenzen-Jones 2014, tr. 86.
- ^ a ă Pospelov, Andrey (ngày 15 tháng 11 năm 2014). "Ukrainian Defense Industry in the "Hybrid War" with Russia. Part 2". Borysfen Intel. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2025.
- ^ a ă â b c Jones & Ness 2010, tr. 903.
- ^ "Taliban's 'Red Unit' spearheads blitzkrieg in Afghanistan". ETV Bharat News (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2025.
- ^ a ă Jones & Ness 2010, tr. 904.
- ^ "It Became Known What the belarusian Territorial Defense is Armed With, Which the Wagnerians Will Train". Defense Express (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2023.
- ^ Jones & Ness 2010, tr. 905.
- ^ Jones & Ness 2010, tr. 906.
- ^ Jones & Ness 2010, tr. 907.
- ^ a ă â Jones & Ness 2010, tr. 908.
- ^ a ă Jones & Ness 2010, tr. 909.
- ^ "40 Prajurit Korem Bhaskara Jaya Diminta Tingkatkan Kemampuan Menembak". timesindonesia.co.id (bằng tiếng Indonesia). ngày 17 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2021.
- ^ Anders, Holger (tháng 6 năm 2014). Identifier les sources d'approvisionnement: Les munitions de petit calibre en Côte d'Ivoire (PDF) (bằng tiếng Pháp). Small Arms Survey and United Nations Operation in Côte d'Ivoire. tr. 15. ISBN 978-2-940-548-05-7. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2018.
- ^ Small Arms Survey (2012). "Blue Skies and Dark Clouds: Kazakhstan and Small Arms". Small Arms Survey 2012: Moving Targets. Cambridge University Press. tr. 131. ISBN 978-0-521-19714-4. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2018.
- ^ a ă â Jones & Ness 2010, tr. 910.
- ^ a ă â b c Jones & Ness 2010, tr. 911.
- ^ a ă â b Jones & Ness 2010, tr. 912.
- ^ Jones & Ness 2010, tr. 914.
- ^ a ă Jones & Ness 2010, tr. 915.
- ^ Smith, Chris (tháng 10 năm 2003). In the Shadow of a Cease-fire: The Impacts of Small Arms Availability and Misuse in Sri Lanka (PDF). Small Arms Survey. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2017.
- ^ Jones & Ness 2010, tr. 916.
- ^ a ă Jones & Ness 2010, tr. 917.
- ^ a ă Jones & Ness 2010, tr. 918.
- ^ Hogg 1987, tr. 977.
- ^ Thompson 2022, tr. 68.
- ^ Thompson 2022, tr. 16−20.
Tài liệu
- Central Intelligence Agency (tháng 1 năm 1984). East European Involvement in the International Gray Arms Market (PDF). Freedom of Information Act Electronic Reading Room (Báo cáo). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2025.
- Dobson, Christopher; Payne, Ronald (1979). The Weapons of Terror: International Terrorism at Work (bằng tiếng Anh). Springer. ISBN 978-1-349-16111-9.
- Ferguson, Jonathan; Jenzen-Jones, N. R. (tháng 11 năm 2014). Raising Red Flags: An Examination of Arms & Munitions in the Ongoing Conflict in Ukraine, 2014 (PDF) (Báo cáo). Armament Research Services Pty. Ltd. ISBN 978-0-9924624-3-7. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2023.
- German, Tracey C. (2003). Russia's Chechen War (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 58. ISBN 978-1-134-43250-9.
- Hogg, Ian V., biên tập (1987). Jane's Infantry Weapons, 1987−88 (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 13). London: Jane's Information Group, Incorporated. ISBN 978-0-7106-0843-7.
- Jones, Richard D; Ness, Leland S, biên tập (2010). Jane's Infantry Weapons 2010−2011 (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 36). Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-2908-1.
- Thompson, Leroy (2022). Soviet Pistols: Tokarev, Makarov, Stechkin and others (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. ISBN 9781472853493.
- Weeks, Col. John, biên tập (1980). Jane's Infantry Weapons 1980−1981 (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 6). New York, NY: Jane's Publishing Incorporated. ISBN 978-0-531-03936-6.
- Bản mẫu:Cite magazine
Liên kết ngoài
- Tháo lắp K-54
- Các kiểu súng Tokarev TT-30, TT-33 và cấu tạo chung Lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2010 tại Wayback Machine
- Giới thiệu sơ Tokarev
- Bài viết có văn bản tiếng Nga
- Trang có lỗi chú thích
- Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Nguồn CS1 tiếng Indonesia (id)
- Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Súng ngắn bán tự động dùng đạn 7,62×25mm Tokarev
- Súng ngắn bán tự động dùng đạn 9×19mm Parabellum
- Vũ khí quân dụng thời Chiến tranh Lạnh của Liên Xô
- Sản phẩm của Nhà máy cơ khí Izhevsk
- Súng ngắn Chiến tranh Lạnh
- Súng ngắn bán tự động Liên Xô
- Hệ súng ngắn TT
- Sản phẩm của Nhà máy vũ khí Tula
- Vũ khí và đạn dược giới thiệu năm 1930
- Vũ khí bộ binh trong Chiến tranh Thế giới thứ hai của Trung Quốc
- Vũ khí bộ binh trong Chiến tranh Thế giới thứ hai của Liên Xô
- Vũ khí trong Chiến tranh Việt Nam
- Súng ngắn bán tự động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai