Karl Marx
Bản mẫu:Infobox person Karl Heinrich Marx (phiên âm tiếng Việt: Các Mác; 5 tháng 5 năm 1818 – 14 tháng 3 năm 1883) là một nhà triết học, kinh tế học, sử học, xã hội học, lý luận chính trị, nhà báo và nhà cách mạng người Đức. Tên tuổi của Marx gắn liền với hai danh tác nổi bật, đó là cuốn pamfơlê Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) và bốn tập sách Das Kapital. Những tư tưởng chính trị và triết học của Marx đã có tầm ảnh hưởng lớn lao đến lịch sử của các lĩnh vực tri thức, kinh tế và chính trị mãi tận về sau.
Karl Marx chào đời tại Trier, Đức. Ở bậc đại học, Marx lựa chọn học ngành luật và triết. Ông kết hôn với nhà phê bình kịch nghệ sân khấu kiêm nhà hoạt động chính trị tên là Jenny von Westphalen vào năm 1843. Do liên tục tung ra các ấn bản chính trị làm phật lòng chính quyền sở tại, Marx lâm vào cảnh không quốc tịch, rồi đành sống lưu vong cùng vợ và con cái tại Luân Đôn suốt nhiều thập kỷ. Tại đây, ông tiếp tục xây dựng các tư tưởng của mình với sự trợ giúp của triết gia người Đức Friedrich Engels và cho xuất bản nhiều tác phẩm, miệt mài nghiên cứu tại phòng đọc của Bảo tàng Anh.
Những lý thuyết phê phán của Marx về xã hội, kinh tế, chính trị – gọi chung là chủ nghĩa Marx – cho rằng các xã hội loài người từ xưa đến nay diễn tiến nhờ đấu tranh giai cấp. Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, điều này hiện thân ở dạng đấu tranh giữa giai cấp thống trị (hay giai cấp tư sản), giai cấp kiểm soát hoàn toàn phương tiện sản xuất, và giai cấp lao động (hay giai cấp vô sản), giai cấp phải vận hành những phương tiện sản xuất sở hữu bởi giai cấp tư sản bằng sức lao động của bản thân để được hưởng tiền công.[1] Dựa trên hướng tiếp cận mang tính phê phán mà ông gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử, Marx tiên đoán rằng chủ nghĩa tư bản sẽ liên tục nảy sinh các mâu thuẫn nội bộ giống như những hình thái kinh tế chính trị đi trước; điều này rốt cuộc sẽ khiến nó tự sụp đổ và bị thay thế bởi phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa. Theo Marx, sự đối kháng giai cấp trong lòng chủ nghĩa tư bản – bắt nguồn một phần từ bản tính bất ổn định và dễ khủng hoảng của nó – sẽ khơi mào ý thức giai cấp của toàn thể công nhân lao động, thôi thúc họ vùng lên tiếm đoạt quyền lực chính trị và cuối cùng tạo lập nên một xã hội cộng sản phi giai cấp nhờ liên tưởng tự do về sản xuất.[2] Marx luôn chủ trương áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, ông cho rằng giai cấp lao động phải thực hiện cách mạng vô sản một cách có tổ chức nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản và giải phóng thể chế kinh tế xã hội.[3]
Marx được đánh giá là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng to lớn nhất trong lịch sử nhân loại, các tác phẩm của ông đã nhận được nhiều lời tán dương cũng như nhiều lời chỉ trích.[4] Các công trình kinh tế học của ông đã đặt nền móng cho phần lớn sự hiểu biết hiện tại của ta về lao động và mối quan hệ của lao động với tư bản.[5][6][7] Vô số nhà trí thức, các tổ chức công đoàn, các nghệ sĩ và các đảng phái chính trị trên khắp thế giới đều chịu ảnh hưởng tư tưởng từ Marx, theo đó một số cá nhân và đoàn thể tiếp tục phát huy và sửa đổi lý thuyết của ông sao cho phù hợp với thế sự. Marx thường được trích dẫn là một trong những kiến trúc sư chính của ngành khoa học xã hội đương đại.[8][9]
Tiểu sử
Tuổi thơ và giáo dục thuở sớm: 1818–1836
Marx chào đời ngày 5 tháng 5 năm 1818 tại Brückengasse 664, Trier; một thị trấn cổ kính hồi bấy giờ thuộc tỉnh Rhine Hạ của Vương quốc Phổ.[10] Cha ông là Heinrich Marx (1778 – 1838) và mẹ ông là Henriette Pressburg (1788 – 1863), vốn là một gia đình gốc Do Thái không theo tôn giáo; song trước khi Marx ra đời họ đã chính thức theo Kitô giáo. Ông ngoại Marx là một giáo sĩ rabbi người Hà Lan. Họ hàng bên nội ông có truyền thống làm rabbi tại Trier kể từ năm 1723, và ông nội Marx là Meier Halevi Marx cũng giúp tiếp nối cái truyền thống lâu đời ấy.[11] Cha ông, hồi nhỏ có biệt danh Herschel, là người đầu tiên trong dòng họ được giáo dục theo hướng thế tục. Herschel trở thành một luật sư với mức lương khá giả thuộc lớp thượng trung lưu, hơn nữa gia đình ông cũng sở hữu nhiều mảnh vườn trồng nho ở Moselle. Trước thời điểm Marx ra đời và thời điểm mà phong trào bãi bỏ sự giải phóng Do Thái diễn ra tại Rhineland,[12] Herschel đã cải sang đạo Phúc Âm thuộc giáo hội Phổ, rồi đổi tên thành Heinrich.[13]
Heinrich không quá gắn bó với tôn giáo mà là người rất ngưỡng mộ phong trào Khai Sáng và lấy làm thú vị những tư tưởng của hai nhà hiền triết Immanuel Kant và Voltaire. Với tư cách là người theo chủ nghĩa tự do cổ điển, ông gia nhập phong trào ủng hộ tạo lập một hiến pháp và thực hiện cải cách tại Phổ, đất nước lúc ấy còn theo chế độ quân chủ chuyên chế.[16] Năm 1815, Heinrich Marx bắt đầu làm luật sư và trong năm 1819 đã chuyển gia đình tới một căn nhà 10 phòng gần Porta Nigra.[17] Vợ ông là Henriette Pressburg, một người phụ nữ Hà Lan theo Do Thái giáo, vốn xuất thân từ một gia đình doanh nhân thành đạt mà về sau sáng lập công ty Philips Electronics nổi tiếng. Em gái bà Sophie Pressburg (1797–1854) kết hôn với Lion Philips (1794–1866); Sophie là bà ngoại của Gerard Philips và Anton Philips, và là bà cố của Frits Philips. Em rể của Henriette, Lion Philips, làm chủ một công xưởng sản xuất thuốc lá Hà Lan rất thịnh vượng. Trong những năm tháng vợ chồng Karl và Jenny Marx lưu đày ở London, hai người họ đã nhiều lần phải vay mượn tiền từ Philips để trang trải cuộc sống.[18]
Ta có rất ít thông tin về thời thơ ấu của Marx.[19] Ông là con thứ ba trong gia đình với 9 anh chị em. Sau khi người anh trai Moritz mất vào năm 1819, ông trở thành người con cả trong mắt cha mẹ mình.[20] Marx và anh chị em còn lại của ông, Sophie, Hermann, Henriette, Louise, Emilie và Caroline, được rửa tội và gia nhập Giáo hội Luther vào tháng 8 năm 1824. Mẹ ông cũng cải theo vào tháng 12 năm 1825.[21] Cha Marx tự mình kèm cặp con trai cho tới năm 1830, khi ông được gửi tới học ở trường Trung học Trier (Bản mẫu:Interlanguage link multi). Hiệu trưởng trường này là Hugo Wyttenbach, một người bạn của cha Marx. Ông thường thuê các giáo viên theo chủ nghĩa tự do nhân bản đến đứng giảng tại trường, khiến cho giới chức tại địa phương vốn theo chủ nghĩa bảo thủ chính trị rất phẫn nộ. Năm 1832, cảnh sát được lệnh khám xét khẩn cấp ngôi trường và trong quá trình đó đã phát giác nhiều tài liệu chính trị tự do được phân phát cho học sinh. Sau vụ việc đó, chính quyền địa phương tiến hành cải tổ và thay thế nhiều giáo chức của nhà trường.[22]
Vào tháng 10 năm 1835, cậu thiếu niên Marx 17 tuổi lữ hành đến Đại học Bonn, háo hức muốn được nghiên cứu triết học và văn chương tuy rằng cha ông lúc ấy lại muốn hướng con theo ngành luật để phù hợp với thực tiễn hơn.[23] Do được chẩn đoán mắc chứng "lồng ngực yếu",[24] Marx được miễn tòng quân lúc 18 tuổi. Tại Đại học Bonn, Marx đã gia nhập Câu lạc bộ Nghệ sĩ, một hội nhóm quy tụ nhiều nhân vật có tư tưởng chính trị cấp tiến, sở dĩ do vậy mà bị cảnh sát theo dõi rất sát sao.[25] Ngoài ra Marx cũng từng tham gia Câu lạc bộ Tửu quán Trier (tiếng Đức: Landsmannschaft der Treveraner), sau giữ chức đồng chủ tịch của hội uống rượu này.[26][27] Ông cũng rất hay vướng vào những vụ cãi cọ đôi co, có khi còn làm to chuyện lên; ví dụ vào tháng 8 năm 1836, ông đề nghị tỉ thí đấu kiếm với một sinh viên từ Borussian Korps để giải quyết mâu thuẫn.[28] Điểm số kì học đầu của Marx tại trường Bonn tuy khá tốt, song về sau do chểnh mảng mà ngày càng tụt dốc. Điều này khiến cha Marx ép ông chuyển tới Đại học Berlin với hy vọng kết quả học tập của con mình sẽ tiến bộ hơn.[29]
Chủ nghĩa Hegel và nghiệp báo chí thuở sớm: 1836–1843
Bản mẫu:Chủ nghĩa Hegel Dành mùa hè và mùa thu năm 1836 ở Trier, Marx trở nên nghiêm túc hơn về nghiệp học và cuộc sống của mình. Ông đính hôn với Jenny von Westphalen, một thiếu nữ có học thức sinh ra trong một gia đình tiểu quý tộc, người đã quen Marx từ thuở ấu thơ. Jenny đã từ khước hôn ước với một chàng quý tộc trẻ tuổi để có thể ở bên Marx. Mối quan hệ này đã gây nhiều lùm xùm vì hai người họ khác biệt về cả tôn giáo lẫn tầng lớp xã hội, song mọi chuyện được giải quyết ổn thỏa sau khi Marx kết thân với cha cô là Ludwig von Westphalen (một quý tộc theo chủ nghĩa tự do).[30] Bảy năm sau khi đính hôn, vào ngày 19 tháng 6 năm 1843, Marx và Jenny kết hôn tại một nhà thờ Tin lành ở Kreuznach.[31]
Tháng 10 năm 1836, sau khi trúng tuyển khoa luật của trường đại học Berlin, Marx lên Berlin và thuê trọ ở Mittelstrasse.[32] Trong học kỳ đầu, Marx tham dự các bài giảng của Eduard Gans (đại biểu cho quan điểm Hegel tiến bộ, giảng giải rõ hơn về sự phát triển thuần lý trong lịch sử bằng cách nhấn mạnh vào các khía cạnh tự do của nó, và tầm quan trọng của nghi vấn xã hội) và của Karl von Savigny (đại biểu của Trường phái Luật Lịch sử Đức).[33] Mặc dù theo ngành luật, ông lại rất say mê triết học và tìm cách tổng hòa hai lĩnh vực ấy, với niềm tin rằng "không có triết học thì không thể đạt được điều gì".[34] Marx bắt đầu quan tâm hơn đến vị triết gia người Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel, nhân vật mà có tầm ảnh hưởng đáng kể đến giới triết học châu Âu hậu thế.[35] Trong thời gian dưỡng bệnh ở Stralau, ông tham gia câu lạc bộ Doktorklub, một hội sinh viên chuyên thảo luận về tư tưởng của chủ nghĩa Hegel. Qua đó, Marx biết đến trường phái Hegel Trẻ có tư tưởng chính trị cấp tiến và gia nhập nhóm này vào năm 1837. Ludwig Feuerbach và Bruno Bauer là hai nhân vật chủ chốt trong nội bộ nhóm lúc đó. Giống như Marx, những người Hegel Trẻ phê phán các giả định siêu hình học của Hegel, song họ tiếp thu phép biện chứng của Hegel để áp dụng nó theo quan điểm tả khuynh nhằm phê phán xã hội, chính trị và tôn giáo đã được thiết lập.[36] Cha của Marx qua đời vào tháng 5 năm 1838, khiến thu nhập của gia đình bị giảm sút.[37] Marx rất trân trọng ký ức của người cha quá cố, bởi ông và cha khi trước cực kỳ gần gũi với nhau.[38]
Đến năm 1837, Marx thử sức mình sáng tác một số tác phẩm văn học hư cấu và phi hư cấu; lúc bấy giờ ông đã hoàn thành một cuốn tiểu thuyết ngắn mang nhan đề Bọ cạp và Felix (tiếng Đức: Skorpion und Felix), và một vở kịch mang nhan đề Oulanem, cùng như một số bài thơ tình dành riêng cho Jenny von Westphalen. Không một tác phẩm nào trong thời kỳ này được xuất bản khi Marx còn sống.[39] Những bài thơ tình được biên khảo và xuất bản trong cuốn Tuyển văn Karl Marx và Frederick Engels: Tập 1 (tiếng Anh: Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 1).[40] Marx nhanh chóng từ bỏ viết tiểu thuyết để theo đuổi những mục tiêu khác, bao gồm nghiên cứu tiếng Anh, tiếng Ý, lịch sử nghệ thuật và dịch thuật các tác phẩm Latinh kinh điển.[41] Ông hợp tác với Bruno Bauer để biên tập cuốn Triết học tôn giáo Hegel vào năm 1840. Marx đồng thời cũng chắp bút viết luận văn tiến sĩ mang tên Sự khác biệt giữa triết học tự nhiên Democritus và Epicurus,[42] và hoàn thành nó vào năm 1841. Đây được mệnh danh là "một kiệt tác táo bạo và nguyên bản, trong đó Marx nỗ lực chứng tỏ rằng thần học phải quy phục trước sự thông thái siêu việt của triết học".[43] Bài luận đã gây khá nhiều tranh cãi, đặc biệt là đối với giới giáo sư bảo thủ của Đại học Berlin. Thay vào đó, Marx quyết định nộp luận văn của mình cho Đại học Jena có tư tưởng phóng khoáng hơn và được trao bằng Tiến sĩ vào tháng 4 năm 1841.[44][45] Vì Marx và Bauer đều theo chủ nghĩa vô thần, vào tháng 3 năm 1841 hai ông lên kế hoạch sáng lập tạp chí Văn khố vô thần (tiếng Đức: Archiv des Atheismus), nhưng rốt cuộc điều này không được thực hiện. Tháng 7 cùng năm, Marx và Bauer khởi hành từ Berlin đến Bonn. Ở đây, họ gây tai tiếng cho tập thể lớp do say xỉn, cười cợt trong nhà thờ và cưỡi lừa phi nước đại trên đường phố.[46]
Marx đã xem xét theo đuổi một sự nghiệp học thuật thực thụ, song giấc mơ này dường như đã bị ngăn cản bởi sự thù ghét chủ nghĩa tự do cổ điển và trường phái Hegel Trẻ của nhà nước Phổ.[47] Marx chuyển đến sống và làm việc ở Cologne vào năm 1842. Tại đây, ông viết cho tờ báo chính trị cấp tiến Rheinische Zeitung, bày tỏ những quan điểm ban sơ của ông về chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng dần để tâm hơn đến lĩnh vực kinh tế học. Marx chỉ trích các chính phủ cánh hữu ở châu Âu lúc bấy giờ, cũng như các nhân vật dẫn đầu các phong trào tự do và xã hội chủ nghĩa, những người mà ông cho là chẳng làm được tích sự gì hoặc thậm chí còn gây phản tác dụng.[48] Tờ báo thu hút sự chú ý của cơ quan kiểm duyệt trực thuộc chính phủ Phổ. Họ được lệnh rà soát các bản thảo nhằm chắt lọc nội dung kích động bạo loạn trước khi đem ra in ấn, đúng theo lời than phiền của Marx: "Tờ báo của chúng tôi phải được đệ trình cho đám cảnh sát đánh hơi, và nếu mũi chúng ngửi thấy bất cứ mùi gì phi-Kitô hoặc phi-Phổ, thì tờ báo đó sẽ không được phép xuất hiện".[49] Sau khi Rheinische Zeitung xuất bản một bài báo chỉ trích kịch liệt chế độ quân chủ Nga, Sa hoàng Nicholas I đã đề nghị cấm tờ báo, khiến chính phủ Phổ phải thực thi ngay lệnh cấm vào năm 1843.[50]
Tại Paris: 1843–1845
Năm 1843, Marx trở thành đồng chủ biên của tờ báo chính trị tả khuynh cấp tiến Deutsch-Französische Jahrbücher (Niên giám Đức-Pháp) đặt trụ sở tại Paris, vốn được thành lập bởi nhà hoạt động người Đức Arnold Ruge nhằm tập hợp những người có tư tưởng chính trị cấp tiến từ Đức và Pháp.[51] Marx và vợ chuyển đến Paris vào tháng 10 năm 1843 để dễ bề làm việc. Ban đầu họ ở chung với gia đình Ruge tại số 23 Rue Vaneau, song do điều kiện kham khổ, họ đành chuyển ra ngoài sau khi con gái đầu lòng Jenny của họ chào đời vào năm 1844.[52] Trái với mục đích ban đầu của nó, tờ Jahrbücher chỉ thu hút được toàn những người Đức cấp tiến chứ ít có bóng người ngoại quốc. Trên thực tế, cây bút duy nhất trong ban biên tập không phải người Đức là triết gia theo thuyết vô trị người Nga Mikhail Bakunin.[53] Marx đóng góp tổng cộng hai bài tiểu luận cho tờ báo, đó là "Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêgen"[54] và "Về vấn đề Do Thái".[55] Tác phẩm Vấn đề Do Thái thể hiện niềm tin của Marx rằng giai cấp vô sản là lực lượng cách mạng và đánh dấu xuất phát điểm theo con đường chủ nghĩa cộng sản của ông.[56] Chỉ duy nhất một ấn bản của Jahrbücher được ra mắt, song nó vẫn tương đối thành công, nhờ phần lớn vào chùm thơ châm biếm của Heinrich Heine nhằm vào vua Ludwig I của Bayern. Vụ việc này khiến các bang Đức ra lệnh cấm lưu hành tờ báo và tịch thu các bản sao nhập khẩu của nó (bản thân Ruge cũng từ chối tài trợ cho việc xuất bản các số tiếp theo, điều mà khiến tình bạn giữa ông và Marx tan vỡ).[57] Sau khi tờ Jahrbücher phá sản, Marx soạn cho tờ báo tiếng Đức theo tư tưởng cấp tiến duy nhất còn lại lọt qua lưới kiểm duyệt, đó là tờ Vorwärts! (Tiến lên!). Tờ này đặt trụ sở tại Paris và có kết nối với Liên đoàn Công bình (tiếng Đức: Bund der Gerechten), một hội kín theo chủ nghĩa xã hội không tưởng của giai cấp công nhân và nghệ nhân địa phương. Marx dự một số cuộc họp của hội này nhưng không gia nhập.[58] Trong thời gian này, ông cũng hoàn thiện quan điểm xã hội chủ nghĩa của mình dựa trên những sáng kiến triết học của Hegel và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Feuerbach, và đồng thời cũng phê phán gay gắt những người theo chủ nghĩa tự do và những người theo chủ nghĩa xã hội khác đang hoạt động ở châu Âu.[59]
Ngày 28 tháng 8 năm 1844, Marx gặp nhà xã hội chủ nghĩa người Đức Friedrich Engels tại quán Café de la Régence, đánh dấu khởi đầu của một tình bạn khăng khít suốt đời.[60] Tại đây, Engels đã đưa Marx đọc tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân Anh do chính ông viết và mới được xuất bản ít lâu.[61][62] Ông thuyết phục Marx rằng giai cấp công nhân chính là tác nhân lẫn công cụ của cuộc cách mạng cuối cùng trong lịch sử.[63][64] Chẳng bấy lâu sau, Marx và Engels bắt tay cùng viết tác phẩm Gia đình thần thánh (1845) nhằm đả kích Bruno Bauer, một người bạn cũ của Marx.[65][66] Mặc dù phê phán Bauer, Marx ngày càng chịu ảnh hưởng tư tưởng của những người theo phái Hegel trẻ, bao gồm Max Stirner và Ludwig Feuerbach, song Marx và Engels rốt cuộc cũng cáo chung với chủ nghĩa duy vật kiểu Feuerbach.[67]
Marx dành khoảng thời gian sống tại 38 Rue Vaneau, Paris (tháng 10 năm 1843-tháng 1 năm 1845)[68] tìm tòi và nghiền ngẫm về các tác giả kinh tế chính trị (như Adam Smith, David Ricardo, James Mill, v.v.),[69] các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng của Pháp (đặc biệt là Henri de Saint Simon và Charles Fourier)[70] và lịch sử Pháp.[71] Marx sẽ bám theo sự nghiệp nghiên cứu và phê bình kinh tế chính trị suốt quãng đời còn lại của ông,[72] và cũng trong quá trình đó, ông đã cho ra đời công trình kinh tế chính trị đồ sộ và nổi bật nhấtBản mẫu:Mdashbộ ba tập sách Das Kapital.[73] Chủ nghĩa Marx được xây dựng dựa trên ba cột trụ lớn, đó là: phép biện chứng của Hegel, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và kinh tế chính trị Anh. Điều này nghĩa là, kết hợp với những nghiên cứu trước đó của Marx về phép biện chứng, ba yếu tố chính yếu cấu thành "chủ nghĩa Marx" hầu như đã được ông chắp ghép đâu vào đấy kể từ mùa thu năm 1844.[74]
Khung sườn của "chủ nghĩa Marx" chắc hẳn đã thành hình trong tâm trí ông vào cuối năm 1844. Thật vậy, nhiều đặc điểm trong thế giới quan Mác-xít đã được mường tượng khá chi tiết, song Marx vẫn cần thảo các ý tưởng đó xuống giấy để làm sáng tỏ thêm lối phê phán kinh tế chính trị chỉ mới nằm trong suy nghĩ.[75] Theo đó, Marx đã chắp bút viết các bản thảo kinh tế và triết học[76] để bàn luận về nhiều chủ đề và trình bày kĩ càng khái niệm tha hóa lao động.[77] Đến mùa xuân năm 1845, quá trình nghiên cứu kinh tế chính trị, tư bản và chủ nghĩa tư bản, đã khiến Marx tin rằng phương pháp phê bình của ông về kinh tế chính trị—chủ nghĩa xã hội khoa học—cần được xây dựng trên cơ sở quan điểm duy vật triệt để về thế giới.[78]
Các bản thảo kinh tế và triết học năm 1844 được Marx viết từ tháng 4 đến tháng 8 trong năm 1844, nhưng không mấy lâu sau Marx lại nhận thấy công trình này còn chịu ảnh hưởng của một số tư tưởng không nhất quán của Ludwig Feuerbach. Theo đó, Marx nhận ra rằng ông phải đoạn tuyệt với triết học Feuerbach và áp dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử. Do đó một năm sau (vào tháng 4 năm 1845) sau khi chuyển từ Paris đến sống ở Brussels, Marx đã viết "Luận cương về Feuerbach";[79] trong đó nổi bật nhất với luận cương thứ 11, phát biểu rằng "các nhà triết học tự cổ chí kim lý giải thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song mấu chốt là làm cách nào để cải tạo thế giới ấy".[77][80] Qua đó Marx đã bày tỏ sự phê phán của ông về chủ nghĩa duy vật (còn quá trầm tư chiêm nghiệm), về chủ nghĩa duy tâm (đề cao lý thuyết hơn thực tiễn), và về triết học tổng thể (đề cao thực tại trừu tượng hơn thế giới vật chất).[77] Đây là những góc nhìn đầu tiên về chủ nghĩa duy vật lịch sử được Marx đề xướng, trong đó ông cho rằng thế giới xoay vần không nhờ các ý tưởng mà nhờ vào sự vận động của vật chất, của sự thực, của thực tiễn.[77][81] Năm 1845, chính phủ Pháp nhận được yêu cầu từ vua Phổ cấm tờ Vorwärts! và Bộ trưởng Nội vụ Pháp lúc bấy giờ là François Guizot đã ra lệnh trục xuất Marx.[82]
Tại Bruxelles: 1845–1848
Không thể ở tại Pháp hoặc quay về Đức, Marx quyết định di cư đến Bruxelles vào tháng 2 năm 1845. Tuy nhiên để được phép cư trú tại Bỉ, ông phải cam kết không xuất bản bất cứ thứ gì liên quan đến chính trị đương đại.[82] Tại Bruxelles, Marx liên kết với các nhà chủ nghĩa xã hội lưu vong khác từ khắp châu Âu, bao gồm Moses Hess, Karl Heinzen và Joseph Weydemeyer. Vào tháng 4 năm 1845, Engels rời Barmen chuyển đến Bruxelles để gia nhập cùng Marx và cộng đồng Liên đoàn Công bình ngày càng đông đảo nương náu ở đây.[82][83] Mary Burns, một người bạn lâu năm của Engels, cũng rời Manchester để đồng hành cùng ông sang Bruxelles.[84]
Giữa tháng 7 năm 1845, Marx và Engels sang Anh thăm các nhà lãnh đạo phong trào hiến chương của giai cấp công nhân địa phương. Đây là chuyến đi đầu tiên của Marx đến Anh quốc. Engels đóng vai trò là hướng dẫn viên lý tưởng cho chuyến công du này bởi lẽ ông đã từng dành hai năm sinh sống ở Manchester, từ tháng 11 năm 1842[85] đến tháng 8 năm 1844.[86] Trong thời gian đó, Engels không chỉ học được tiếng Anh[87] mà còn tạo lập thêm nhiều mối quan hệ với các nhà lãnh đạo của phòng trào hiến chương.[87] Ngoài ra, Engels khi trước cũng từng làm phóng viên cho một số tờ báo tiếng Anh theo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa hiến chương.[87] Về phần Marx, ông đã tranh thủ dịp này để khảo cứu tư liệu kinh tế có sẵn trong các thư viện ở London và Manchester.[88]
Hợp tác với Engels, Marx lên kế hoạch viết tác phẩm Hệ tư tưởng Đức luận về chủ nghĩa duy vật lịch sử.[89] Trong đó, Marx đã tuyên bố cáo chung với triết học của Ludwig Feuerbach, Bruno Bauer, Max Stirner nói riêng và phái Hegel Trẻ nói chung, cũng như từ khước triết học của Karl Grün và các "nhà xã hội chủ nghĩa chân chính" vẫn níu giữ "chủ nghĩa duy tâm". Qua đó, Marx và Engels cuối cùng đã hoàn thiện triết lý của riêng mình, coi rằng chủ nghĩa duy vật như là thế lực duy nhất thúc đẩy tiến trình lịch sử.[90] Hệ tư tưởng Đức được viết theo phong cách hài hước với dụng ý châm biếm, song điều này không qua mắt được các cơ quan kiểm duyệt. Giống các công trình ban sớm của Marx, Hệ tư tưởng Đức chỉ được xuất bản sau khi ông mất, cụ thể là vào năm 1932.[77][91][92]
Sau khi hoàn thành cuốn Hệ tư tưởng Đức, Marx muốn viết một tác phẩm làm rõ lập trường của ông về "lý thuyết và chiến thuật" của một "phong trào cách mạng vô sản" khả thi đứng trên quan điểm của một triết học "duy vật khoa học" thực thụ,[93] cũng là nhằm để phân định chủ nghĩa xã hội không tưởng của những triết gia đời trước với chủ nghĩa xã hội khoa học của Marx. Để bản thảo đây có thể lọt lưới kiểm duyệt, Marx đã đặt nhan đề cho nó là Sự khốn cùng của triết học (1847),[94] quảng bá nó là một phản ứng đối với "triết học tiểu-tư sản" của nhà xã hội chủ nghĩa vô chính phủ người Pháp Pierre-Joseph Proudhon, như được thể hiện trong cuốn Triết học về sự khốn cùng (1840) của ông ta.[95]
Những cuốn sách trên đã đặt nền móng cho danh tác nổi bật nhất của Marx và Engels, cuốn pamfơlê chính trị mà ngày nay thường được biết đến với tên gọi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Marx, hồi năm 1846 tại Bruxelles, vẫn còn giữ liên lạc với Liên đoàn Công bình khi trước.[96] Ông đánh giá rằng tổ chức đây đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy giai cấp công nhân châu Âu hướng tới phong trào quần chúng, điều mà tất yếu dẫn đến một cuộc cách mạng của giai cấp công nhân.[97] Tuy nhiên để đạt được mục đích ấy, Liên đoàn phải chấm dứt chủ trương hoạt động "bí mật" hoặc "ngấm ngầm" của họ mà phải mạnh dạn hoạt động công khai như một chính đảng thực sự.[98] Các thành viên của Liên đoàn rốt cuộc bị thuyết phục bởi quan điểm của Marx; vào tháng 6 năm 1847, Liên đoàn Công bình được tái cơ cấu thành một đảng chính trị công khai đấu tranh vì lợi ích của công nhân lao động,[99] đổi tên thành Liên đoàn Cộng sản.[100] Cả Marx và Engels đều tham gia vào việc vạch ra cương lĩnh và nguyên tắc của tổ chức mới này.[101]
Tại Köln: 1848–1849
Tạm thời ổn định cuộc sống ở Paris, Marx chuyển trụ sở điều hành của Liên đoàn Cộng sản lên thành phố và sáng lập Hội Công nhân Đức cùng nhiều nhà xã hội người Đức tại đó.[102] Hi vọng một ngày sẽ được chứng kiến cuộc cách mạng lan khắp nước Đức, năm 1848, Marx quay trở lại Köln, nơi ông tuyên truyền bản thông cáo Yêu sách của Đảng Cộng sản tại Đức.[103] Tuy nhiên, ở đây Marx chỉ đề cập đến bốn trong số mười điểm nêu ra trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, bởi lẽ ông tin rằng ở Đức thời bấy giờ, giai cấp tư sản phải lật đổ chế độ quân chủ phong kiến và tầng lớp quý tộc trước đã, rồi giai cấp vô sản mới có thể lật độ giai cấp tư sản.[104] Mùng 1 tháng 6 cùng năm, Marx bắt đầu cho xuất bản tờ nhật báo Neue Rheinische Zeitung bằng khoản tiền ông mới được thừa kế từ người cha quá cố.
Nghiên cứu về toán học
Trong lời giới thiệu bản thân năm 1885 của cuốn "Chống Duhrinh", Engels có viết: "Nhưng từ khi Karl Marx qua đời, thời giờ của tôi phải ngừng công việc nghiên cứu của tôi lại. Lúc bấy giờ tôi đành tạm bằng lòng với những phác thảo đã đưa ra trong sách này và đợi sau này có dịp thì sẽ tập hợp và công bố những kết quả đã thu nhận được, có thể là cùng một lúc với những bản thảo toán học rất quan trọng do Marx để lại."[105]
Cuốn tuyển tập Mathematical manuscripts of Karl Marx (tạm dịch: Các công trình Toán học của Karl Marx) gồm hầu hết các tìm hiểu của Marx về nền tảng của phép tính vi tích phân được viết khoảng những năm 1873–1883.[106] Một phiên bản Tiếng Nga được Sofya Yanovskaya dịch và biên tập lại cuối cùng cũng được xuất bản năm 1968,[107] và sao đó bản dịch sang tiếng Anh (dài hơn 300 trang) được xuất bản vào năm 1983.[108][109] Các học giả cho rằng dường như Marx muốn sử dụng công cụ của phép tính tích phân để nghiên cứu định lượng về kinh tế sâu sắc hơn.[110]
Glivenko[111] cho rằng cách tiếp cận của Marx về phép tính vi tích phân tương tự như cách của Hadamard trong cuốn Cours d'Analyse xuất bản 50 năm sau đó. Kennedy[112] cũng đã biện giảng về cách hiểu của Marx về phép vi phân như một quá trình biện chứng.
Chuyển đến London và tiếp tục viết lách: 1850–1860
Marx chuyển đến Luân Đôn vào đầu tháng 6 năm 1849 và sống ở thành phố này cho đến hết đời. Trụ sở của Liên minh Cộng sản cũng chuyển đến London. Tuy nhiên, vào mùa đông năm 1849–1850, một sự chia rẽ đã xảy ra trong hàng ngũ của Liên minh Cộng sản khi một phe phái do August Willich và Karl Schapper lãnh đạo bắt đầu kích động một cuộc nổi dậy ngay lập tức. Willich và Schapper tin rằng một khi Liên minh Cộng sản khởi xướng cuộc nổi dậy, toàn bộ giai cấp công nhân trên khắp châu Âu sẽ "tự phát" nổi dậy tham gia, từ đó tạo ra cuộc cách mạng trên toàn châu Âu. Marx và Engels phản đối rằng một cuộc nổi dậy không có kế hoạch như vậy từ phía Liên minh Cộng sản là "mạo hiểm" và sẽ là hành động tự sát đối với Liên minh Cộng sản.[113] Một cuộc nổi dậy như đề xuất của nhóm Schapper/Willich sẽ dễ dàng bị cảnh sát và lực lượng vũ trang của các chính phủ phản động ở châu Âu đàn áp. Marx cho rằng điều này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chính Liên minh Cộng sản, lập luận rằng những thay đổi trong xã hội không thể đạt được chỉ sau một đêm nhờ nỗ lực và ý chí của một nhóm nhỏ người.[113] Thay vào đó, chúng được tạo ra thông qua phân tích khoa học về điều kiện kinh tế của xã hội và bằng cách tiến tới cách mạng qua các giai đoạn phát triển xã hội khác nhau. Ở giai đoạn phát triển hiện tại (khoảng năm 1850), sau thất bại của các cuộc nổi dậy trên khắp châu Âu năm 1848, ông cảm thấy rằng Liên minh Cộng sản nên khuyến khích giai cấp công nhân đoàn kết với các yếu tố tiến bộ của giai cấp tư sản đang lên để đánh bại tầng lớp quý tộc phong kiến về các vấn đề liên quan đến yêu cầu cải cách chính phủ, chẳng hạn như một nền cộng hòa lập hiến với các quốc hội được bầu cử tự do và quyền bầu cử phổ thông (nam giới). Nói cách khác, giai cấp công nhân phải liên kết với các lực lượng tư sản và dân chủ để đạt được kết quả thành công của cuộc cách mạng tư sản trước khi nhấn mạnh vào chương trình nghị sự của giai cấp công nhân và một cuộc cách mạng của giai cấp công nhân.[cần dẫn nguồn]
Sau một cuộc đấu tranh kéo dài đe dọa đến sự tan rã của Liên minh Cộng sản, quan điểm của Marx đã thắng thế và cuối cùng, nhóm Willich/Schapper đã rời khỏi Liên minh Cộng sản. Trong khi đó, Marx cũng tham gia tích cực vào Hội Giáo dục Công nhân Đức theo chủ nghĩa xã hội. [114] Hội tổ chức các cuộc họp tại Great Windmill Street, Soho, khu giải trí trung tâm của London.[115] Tổ chức này cũng bị giằng xé bởi các cuộc đấu tranh nội bộ giữa các thành viên, một số người theo Marx trong khi những người khác theo phe Schapper/Willich. Các vấn đề trong sự chia rẽ của nội bộ này cũng chính là những vấn đề được nêu ra trong sự chia rẽ nội bộ trong Liên minh Cộng sản, nhưng Marx đã thất bại trong cuộc đấu tranh với phe Schapper/Willich trong Hội Giáo dục Công nhân Đức và vào ngày 17 tháng 9 năm 1850 đã rời khỏi Hội. [116]
Tờ báo "New-York Daily Tribune" và sự nghiệp báo chí
Trong giai đoạn đầu ở Luân Đôn, Marx hầu như chỉ tập trung vào việc học, đến nỗi gia đình ông phải sống trong cảnh nghèo khó. [117][118] Nguồn thu nhập chính của ông là từ Engels, người mà nguồn thu nhập lại đến từ người cha là một nhà công nghiệp giàu có. Ở Phổ, với tư cách là biên tập viên của tờ báo riêng và cộng tác viên cho các tờ báo khác có cùng hệ tư tưởng, Marx có thể tiếp cận được công chúng của mình, tầng lớp công nhân. Ở Luân Đôn, vì không có đủ kinh phí để tự điều hành một tờ báo, ông và Engels đã chuyển sang làm báo chí quốc tế. Có thời điểm, các bài viết của họ được đăng trên sáu tờ báo từ Anh, Hoa Kỳ, Phổ, Áo và Nam Phi. [119] Thu nhập chính của Marx đến từ công việc phóng viên châu Âu của ông, từ năm 1852 đến năm 1862, cho tờ báo"New-York Daily Tribune", [120]:17 và từ đó cũng viết bài cho các tờ báo "tư sản" hơn. Marx đã nhờ người dịch các bài báo của mình từ tiếng Đức cho đến khi khả năng tiếng Anh của ông đạt mức đủ tốt.[121]
Đời tư
Gia đình
Marx và von Westphalen có với nhau 7 đứa con, song do do điều kiện sống kham khổ khi ở London, chỉ có 3 người con sống sót đến tuổi trưởng thành.[122] Những người con của họ gồm: Jenny Caroline (cưới Longuet; 1844–1883); Jenny Laura (cưới Lafargue; 1845–1911); Edgar (1847–1855); Henry Edward Guy ("Guido"; 1849–1850); Jenny Eveline Frances ("Franziska"; 1851–1852); Jenny Julia Eleanor (1855–1898) và một đứa con mất ở cữ trước khi được đặt tên (tháng 7 năm 1857). Con rể Marx, Paul Lafargue, miêu tả ông là người cha hết mực yêu thương con cái.[123] Năm 1962, rộ lên tin đồn cho rằng Marx có một người con trai ngoài giá thú tên là Freddy[124] với người hầu nữ Helene Demuth,[125] song điều này còn bị tranh cãi do thiếu sót chứng cứ tài liệu.[126]
Tư tưởng
Các ảnh hưởng đến Marx
Tư tưởng của Marx chịu ảnh hưởng từ lối suy nghĩ của nhiều nhà hiền triết khác nhau, chẳng hạn:
- Triết học của Georg Wilhelm Friedrich Hegel[127]
- Kinh tế chính trị cổ điển (bình diện kinh tế) của Adam Smith và David Ricardo,[128] cộng với các phê phán của Jean Charles Léonard de Sismondi đối với chính sách kinh tế laissez-faire cũng như phân tích của ông về tình cảnh bấp bênh của giai cấp vô sản[129]
- Tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Pháp,[128] đặc biệt là các tư tưởng của Jean-Jacques Rousseau, Henri de Saint-Simon, Pierre-Joseph Proudhon và Charles Fourier[130][131]
- Chủ nghĩa duy vật Đức ban sơ của phái Hegel Trẻ, đặc biệt là các tư tưởng của Ludwig Feuerbach và Bruno Bauer,[67] cũng như chủ nghĩa duy vật Pháp cuối thế kỷ 18, bao gồm các tư tưởng của Diderot, Claude Adrien Helvétius và d'Holbach
- Sự phân tích giai cấp công nhân của Friedrich Engels,[63] cộng với những mô tả ban sơ về giai cấp của nhiều nhà tự do chủ nghĩa Pháp cũng như các nhà tư tưởng thuộc trường phái Saint-Simon như François Guizot và Augustin Thierry
- Truyền thống Do Thái giáo của gia đình Marx cũng góp phần hình thành quan điểm cá nhân của ông về đạo đức,[132] cũng như triết học duy vật của ông.[133]
Sử quan của Marx, gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử, bắt nguồn trực tiếp từ khẳng định của Hegel khi cho rằng người ta phải nhìn nhận thực tại (cũng như lịch sử) theo mặt biện chứng.[127] Tuy nhiên, Hegel là một triết gia duy tâm nên trong suy tưởng của ông thì ý thức vẫn giữ vai trò tiên phong chứ không phải vật chất. Thay vào đó, Marx muốn viết lại phép biện chứng trên danh nghĩa chủ nghĩa duy vật và biện giải ưu thế siêu việt của vật chất so với ý thức.[77][127] Hegel cho rằng "tinh thần" thúc đẩy diễn trình lịch sử. Trái lại, Marx cho rằng "tinh thần" của Hegel là một khái niệm mông muội thừa thãi, khái niệm mà làm che khuyết thực tại của nhân loại và các hoạt động vật lý của nó trong việc hình thành thế giới.[127] Marx cho rằng chủ nghĩa Hegel đã hiểu sai hoàn toàn về sự vận động của thực tại, và qua đó Marx khuyên ta rằng cái thế giới quan lầm lỡ ấy cần được chỉnh đốn cho đúng đắn trở lại.[127] Mặc dù Marx không ưa thích lối viết văn hàm hồ kì bí, bản thân ông đôi khi cũng vận dụng phép ẩn dụ văn học Gothic trong một số tác phẩm của mình: chẳng hạn trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, ông có viết như sau "Một bóng ma đang ám ảnh châu Âu: bóng ma chủ nghĩa cộng sản. Tất cả những thế lực của châu Âu cũ: Giáo hoàng và Nga hoàng, Mét-téc-ních và Ghi-dô, bọn cấp tiến Pháp và bọn cảnh sát Đức, đều đã liên hợp lại thành một liên minh thần thánh để trừ khử bóng ma đó", hoặc trong cuốn Das Kapital, ông đã miêu tả tư bản như "thứ ma thuật bủa vây các thành quả lao động".[134]
Triết học
Marx thường luận chiến với các nhà tư tưởng khác thông qua các bài phê bình, vì lẽ ấy mà ông được mệnh danh là "vĩ nhân đầu tiên sử dụng phương pháp phê phán trong khoa học xã hội".[127][128] Ông chỉ trích gay gắt triết học tư biện, đặt siêu hình học ngang hàng với hệ tư tưởng.[135] Bằng cách tiếp cận này, Marx muốn tách những phát hiện quan trọng khỏi các thiên kiến sinh ra từ hệ tư tưởng.[128] Điều này khiến ông khác biệt với đa số triết gia đương thời.[3]
Bản chất con người
Một cách nền tảng, Marx cho rằng bản chất loài người liên quan tới việc cải tạo tự nhiên. Với quá trình cải tạo này ông đặt ra thuật ngữ "lao động", và với khả năng cải tạo tự nhiên là thuật ngữ "sức lao động." Marx phát biểu: Bản mẫu:Cquote2
Kinh tế chính trị
Marx cho rằng sự liên kết của công việc của con người (và commodity fetishism) hoạt động chính xác như đặc điểm định nghĩa của chủ nghĩa tư bản. Trước chủ nghĩa tư bản, các thị trưởng tồn tại ở châu Âu nơi những nhà sản xuất và các nhà buôn mua và bán hàng hoá. Theo Marx, một phương thức sản xuất tư bản đã phát triển ở châu Âu khi chính lao động trở thành một hàng hoá – khi những người nông dân được tự do bán sức lao động của chính mình – khả năng, và cần phải làm như vậy bởi họ không còn sở hữu đất đai của mình nữa. Mọi người bán sức lao động của mình – khả năng khi họ chấp nhận sự thanh toán trở lại cho bất cứ công việc nào họ làm trong một đơn vị thời gian cho trước (nói cách khác, họ không bán sản phẩm của lao động của mình, mà bán khả năng làm việc). Để đổi lại việc bán lao động – khả năng họ nhận được tiền, cho phép họ tồn tại. Những người phải bán sức lao động – khả năng của mình là "những người vô sản". Người mua sức lao động khả năng, nói chung là người sở hữu đất đai và công nghệ để sản xuất, là một "nhà tư bản" hay "tư sản". Những người vô sản do vậy sẽ chiếm đa số so với những nhà tư bản.
Marx phân biệt các nhà tư bản công nghiệp khỏi các nhà buôn tư bản. Các nhà buôn mua hàng hoá tại một thị trường và bán chúng tại một thị trường khác. Vì các quy luật cung cầu hoạt động bên trong các thị trường đó, một sự khác biệt thường tồn tại giữa giá của một mặt hàng tại một thị trường này và một thị trường khác. Sau đó, các nhà buôn thực hiện việc buôn bán, và hy vọng có được sự khác biệt giữa hai thị trường đó. Theo Marx, các nhà tư bản, ở mặt khác, lợi dụng ưu thế của sự khác biệt giữa thị trường lao động và thị trường cho bất kỳ mặt hàng nào nhà tư bản có thể sản xuất. Marx quan sát thấy rằng trên thực tế mọi ngành công nghiệp thành công đều có các đơn giá đầu vào thấp hơn đơn giá đầu ra. Marx gọi sự khác biệt đó là "giá trị thặng dư" và cho rằng giá trị này có nguồn gốc từ thặng dư lao động, sự khác biệt giữa cái người công nhân phải có để sống và cái họ có thể tạo ra.
Chủ nghĩa tư bản có thể tạo ra sự tăng trưởng cao bởi nhà tư bản có thể, và có ý muốn, tái đầu tư lợi nhuận vào các công nghệ và thiết bị tư bản mới. Marx coi tầng lớp tư bản là tầng lớp cách mạng nhất trong lịch sử, bởi họ thưởng xuyên cải tiến công cụ sản xuất. Nhưng Marx cho rằng chủ nghĩa tư bản có khuynh hướng khủng hoảng theo định kỳ. Ông cho rằng cùng với thời gian, những nhà tư bản sẽ đầu tư ngày càng nhiều vào các kỹ thuật mới, và ngày càng ít hơn vào lao động. Bởi Marx tin rằng giá trị thặng dư bị chiếm đoạt từ lao động là nguồn gốc của lợi nhuận, ông kết luận rằng tỷ suất lợi nhuận phải giảm thậm chí khi nền kinh tế tăng trưởng. Khi tỷ suất lợi nhuận giảm dưới một mức nào đó, kết quả sẽ là một sự giảm phát hay khủng hoảng trong đó một số lĩnh vực của nền kinh tế sẽ sụp đổ. Marx cho rằng trong một cuộc khủng hoảng kinh tế như vậy giá lao động cũng sẽ sụt giảm, và cuối cùng khiến không thể đầu tư vào các kỹ thuật mới và sự tăng trưởng của các lĩnh vực của nền kinh tế.
Marx tin rằng sự gia tăng mức độ nghiêm trọng của các cuộc khủng hoảng sẽ xé rách chu kỳ tăng trưởng, sụp đổ, và tăng trưởng tiếp này. Hơn nữa, ông tin rằng về dài hạn quá trình này sẽ tăng cao và làm tăng cường sức mạnh cho tầng lớp tư bản và làm khốn khó tầng lớp vô sản. Ông tin rằng nếu tầng lớp vô sản nắm được phương tiện sản xuất, họ sẽ khuyến khích các quan hệ xã hội để mọi người đều được có lợi ích một cách công bằng, và một hệ thống sản xuất ít bị ảnh hưởng hơn bởi các cuộc khủng hoảng định kỳ. Ông đặt ra lý thuyết rằng giữa chủ nghĩa tư bản và việc thành lập một hệ thống xã hội chủ nghĩa, có một sự chuyên chính của tầng lớp tư sản – một giai đoạn khi tầng lớp lao động giữ quyền lực chính trị và bắt buộc xã hội hoá các phương tiện sản xuất – tồn tại. Và ông đã viết trong cuốn "Phê phán cương lĩnh Gotha" của mình, "giữa xã hội tư bản và cộng sản có một giai đoạn chuyển tiếp cách mạng từ xã hội này tới xã hội kia. Tương ứng với nó cũng là một giai đoạn chuyển tiếp chính trị trong đó nhà nước có thể không là gì mà chỉ là sự chuyên chính cách mạng của tầng lớp vô sản."[136] Tuy ông cho phép khả năng chuyển tiếp hoà bình ở một số quốc gia có các thể chế dân chủ mạnh (như Anh Quốc, Hoa Kỳ và Hà Lan), ông cho rằng ở các quốc gia khác với các truyền thống nhà nước tập trung mạnh, như Pháp, Đức, "đòn bẩy cuộc cách mạng của chúng ta phải là bạo lực."[137]
Trong một bức thư gửi Vera Zasulich ngày 8 tháng 3 năm 1881, Marx thậm chí dự tính về khả năng nước Nga bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên cơ sở sở hữu chung về ruộng đất của làng mir.[138] Tuy chấp nhận rằng ở nông thôn Nga "làng xã là điểm tựa của sự cải tạo xã hội ở Nga ", Marx cũng cảnh báo rằng để mir hoạt động như một phương tiện để đi thẳng lên giai đoạn xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, nó "đầu tiên phải loại bỏ các ảnh hưởng độc hại đang tấn công nó (làng xã nông thôn) từ mọi phía".[139] Với điều kiện loại bỏ các ảnh hưởng nguy hiểm đó, Marx cho phép, rằng "các điều kiện bình thường của sự phát triển tự sinh" của làng xã nông thôn có thể tồn tại.[140] Tuy nhiên cũng trong lá thư gửi Vera Zaulich, Marx chỉ ra rằng "ở cốt lõi của chế độ tư bản chủ nghĩa...có sự tách biệt hoàn toàn người sản xuất khỏi phương tiện sản xuất".[140] Marx có thể được tha thứ vì đã không thấy điều này ở giai đoạn đầu năm 1881, các điều kiện bên trong làng xã nông thôn sẽ nhanh chóng dẫn tới "sự khác biệt của giới nông dân" bên trong làng xã nông thôn Nga và sự dần tách biệt của nhiều nông dân bên trong làng xã khỏi phương tiện sản xuất.
Với hai mươi năm lợi thế quan sát kỹ hơn các làng xã nông nghiệp ở Nga, V. I. Lenin đã có thể kết luận rằng làng xã nông nghiệp không thể là hạt nhân phát triển xã hội chủ nghĩa ở Nga, chính xác bởi sự gia tăng số lượng nông dân Nga tại các làng xã nông nghiệp đang bị chia tách khỏi phương tiện sản xuất bên trong làng xã nông nghiệp.[141] Bên trong làng xã nông thôn Nga, đất đai là "phương tiện sản xuất". Theo cách lý tưởng, mọi nông dân trong làng xã nông thôn sẽ sở hữu hay được tiếp cận phần đất đai ngang nhau trong làng. Sự phân tích kỹ của Lenin về các làng xã kết luận rằng không phải mọi nông dân bên trong làng xã nông thôn có quyền tiếp cận như nhau với đất đai. Quả thực, ở thời điểm Lenin viết cuốn sách của mình (1899), đã có sự khác biệt rất lớn giữa lượng đất đai được trồng cấy bởi một số nông dân kulak giàu có tương phản với những nông dân nghèo bên trong làng xã nông nghiệp.[142] Hơn nữa, kết luận này không cố định. Đúng hơn là sự tách biệt của nông dân bên trong làng xã nông nghiệp là một quá trình đang diễn ra. Ngày càng nhiều các nông dân nhỏ bên trong làng xã nông thôn trở nên không thể tự duy trì cho mình với lượng đất đai nhỏ mà họ được tiếp cận bên trong làng xã nông thôn.
Một cách không thể tránh khỏi, nhiều nông dân nghèo bên trong làng xã nông thôn trên khắp nước Nga thực tế "không có ruộng đất". Khi thời gian trôi đi nhiều nông dân nhỏ khác bên trong các làng xã nông thôn trở nên không có đất đai khi quá trình "tách biệt nông dân" cho phép các nông dân giàu có trở nên giàu hơn và nông dân nghèo nghèo hơn.
Một số nông dân không có ruộng đất phải tìm kiếm việc làm từ các nông dân "kulak" giàu có hơn bên trong làng xã nông thôn. Những nông dân không đất đai này sẽ được coi là một phần của tầng lớp vô sản nông thôn. Những nông dân không đất đai khác sẽ rời bỏ làng xã và gia nhập vào tầng lớp vô sản thành thị. Dù trong trường hợp nào đi nữa, Lenin chỉ ra rằng sự phát triển này hoàn toàn quen thuộc với chúng ta cũng như quá trình suy sụp và "vô sản hoá" tầng lớp nông dân nhỏ, bằng cách hoàn thành sự tách biệt những nông dân nhỏ "không ruộng đất" khỏi phương tiện sản xuất.[143]
Ảnh hưởng
Bản mẫu:Cquote2 Bản mẫu:Cquote2
Tác phẩm của Marx và Engels đề cập tới rất nhiều chủ đề và có một sự phân tích phức tạp về lịch sử và xã hội về các quan hệ giai cấp. Những người theo Marx và Engels đã lấy từ tác phẩm này để đề ra những lý thuyết tương lai to lớn và liên kết được gọi là "Chủ nghĩa Marx". Tuy nhiên, những người Marxist thường tranh luận lẫn nhau về cách giải thích các tác phẩm của Marx và cách để áp dụng những ý tưởng của ông vào các sự kiện và điều kiện hiện thời của họ. Sinh thời, Marx cho rằng những người xưng là "Marxist" khi đó thật ra chỉ là những kẻ không thật sự hiểu tư tưởng Marx, mà miêu tả và chủ nghĩa này một cách "nông cạn, hời hợt, thậm chí lệch lạc, mang tính chất biếm hoạ". Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam cũng ghi nhận "Họ là những kẻ kiếm chác lợi lộc, danh vị ở các luận điểm đó, và họ lại tạo thành những bè phái, tự nhận là Marxist". Hơn nữa, cũng cần phân biệt giữa "Chủ nghĩa Marx" và "cái Marx tin tưởng"; ví dụ, ngay trước khi ông mất năm 1883, Marx đã viết một bức thư cho nhà lãnh đạo công nhân Pháp Jules Guesde, và cho con rể của mình là Paul Lafargue, buộc tội họ "revolutionary phrase-mongering" và thiếu niềm tin ở giai cấp lao động. Sau khi đảng Pháp chia rẽ thành một đảng cải cách và cách mạng, một số người buộc tội Guesde (lãnh đạo đảng cách mạng) đã nhận mệnh lệnh từ Marx; Marx đã lưu ý Lafargue, "nếu đó là Chủ nghĩa Marx, thì tôi không phải là một người Marxist" (trong một bức thư gửi Engels, Marx sau này buộc tội Guesde là một "Bakuninist").[144][145]
Đặc biệt, mọi người đã sử dụng từ "Marxist" theo một trong hai cách:
- để miêu tả những người dựa vào ngôn ngữ ý tưởng của Marx (ví dụ: "phương thức sản xuất", "giai cấp", "commodity fetishism") để hiểu chủ nghĩa tư bản và các xã hội khác; hay:
- để miêu tả những người coi cuộc cách mạng công nhân là phương tiện duy nhất tới một xã hội cộng sản.
Một số người, đặc biệt trong giới hàn lâm, những người chấp nhận hầu hết lý thuyết của Marx, nhưng không phải tất cả những giải pháp do Marx đề xuất, tự gọi mình là "Marxian" để thay thế.
Sáu năm sau cái chết của Marx, Engels và những người khác đã thành lập "Quốc tế cộng sản hai" như một cơ sở để tiếp tục hoạt động chính trị. Tổ chức này chứng tỏ thành công hơn nhiều so với Quốc tế cộng sản một: nó bao gồm các đảng công nhân, đặc biệt là Đảng Dân chủ Xã hội Đức lớn và thành công, chủ yếu thể hiện một viễn cảnh Marxist. Quốc tế cộng sản hai sụp đổ năm 1914, tuy nhiên, một phần bởi một số thành viên đã quay sang với "chủ nghĩa xã hội cách mạng" của Eduard Bernstein, và một phần bởi những sự chia rẽ do Thế chiến I gây ra.
Thế chiến I cũng dẫn tới cuộc Cách mạng Nga năm 1917, trong những giai đoạn sau này của nó một nhóm ly khai cánh tả của Quốc tế cộng sản hai, nhóm Bolshevik, dưới sự lãnh đạo của Vladimir Lenin, lên nắm quyền lực. Cách mạng Nga đã khuyến khích công nhân trên khắp thế giới lập ra "Quốc tế cộng sản ba" Bolshevik. Lenin hiện diện như một người thừa kế chính trị và triết học của Marx, và đã phát triển một chương trình chính trị, được gọi là "Chủ nghĩa Lenin" hay "Chủ nghĩa Bolshevik", kêu gọi cách mạng có tổ chức và được lãnh đạo bởi một tổ chức trung ương tiền phong "Đảng Cộng sản".
Marx tin rằng cách mạng vô sản sẽ diễn ra trước hết ở những xã hội công nghiệp tiên tiến như Pháp, Đức và Anh, nhưng Lenin cho rằng trong thời đại của chủ nghĩa đế quốc, và bởi "quy luật phát triển không đều", theo đó nước Nga một mặt có một xã hội nông nghiệp lạc hậu, nhưng mặt khác lại có một trong số những vấn đề mới nhất của nền công nghiệp, "dây xích" có thể đứt ở điểm yếu nhất của nó, đó là, trong cái gọi là các quốc gia "lạc hậu", và sau đó gây ra cách mạng tại các xã hội công nghiệp phát triển tại châu Âu, nơi xã hội đã sẵn sàng cho chủ nghĩa xã hội, và sau đó nó lại giúp đỡ trở lại cho nhà nước công nhân tại Nga.[146]
Karl Marx và Friedrich Engels đã có một bình luận đáng chú ý trong lời nói đầu của ấn bản tiếng Nga cuốn Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản:
Những lời của Marx đã là điểm khởi đầu cho Lenin,[147] người, cùng với Trotsky, luôn tin rằng cách mạng Nga phải trở thành một "tín hiệu cho một cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây". Những người ủng hộ Trotsky cho rằng sự thất bại của cách mạng ở phương Tây (theo những sự kiện đã được Marx dự đoán) để giúp đỡ cuộc cách mạng Nga sau năm 1917 đã dẫn tới sự xuất hiện của Chủ nghĩa Stalin[148] và đã đặt ra khuôn khổ của lịch sử loài người trong bảy mươi năm.
Tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông cũng tự thể hiện mình là một người thừa kế của Marx, nhưng cho rằng những người nông dân – không chỉ những người công nhân – có thể đóng vai trò lãnh đạo trong một cuộc cách mạng vô sản, thậm chí tại các quốc gia thuộc thế giới thứ ba với đặc điểm là chủ nghĩa phong kiến nông dân và sự vắng mặt của những người công nhân công nghiệp. Mao Trạch Đông gọi nó là Cách mạng Dân chủ Mới. Chủ nghĩa Marx–Lenin như được thể hiện bởi Mao Trạch Đông được quốc tế gọi là "chủ nghĩa Mao". Tại tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, sau khi thực hiện một cuộc khảo sát, người ta nhận thấy rằng số người biết Karl Marx là ai chiếm đến 100% dân số Trung Quốc, họ cho rằng tư tưởng Marx quả là tư tưởng đã làm cho lịch sử nhân loại có sự chuyển biến. Người cha đẻ của chủ nghĩa Marx này được xem là "người thầy của giai cấp công nhân, nhân dân lao động toàn thế giới".[149]
Dưới thời Joseph Stalin, chính quyền Liên Xô đã thực hiện những chính sách sai lầm, đồng thời tệ sùng bái cá nhân trở nên phổ biến (xem thêm bài Đại thanh trừng và Về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó). Những người theo chủ nghĩa chống cộng không cho rằng những sai lầm trong công cuộc phát triển chủ nghĩa cộng sản là do chủ ý của người thực hiện chúng, mà chứng tỏ bộ mặt thật của chủ nghĩa Marx. Các quốc gia phương Tây có khuynh hướng theo chủ nghĩa tư bản khuyến khích cảm giác này, và bối cảnh chính trị thời Chiến tranh Lạnh cũng vậy. Quả thực, luôn có những giọng điệu bất đồng quan điểm với Marx—những người theo chủ nghĩa Marx của Quốc tế Cộng sản hai cũ, những người Cộng sản cánh tả chia rẽ khỏi Quốc tế Cộng sản ba ngay sau sự thành lập của nó, và sau này là Leon Trotsky và những người ủng hộ ông, đã lập ra một "Quốc tế Cộng sản bốn" năm 1938 để cạnh tranh với Quốc tế Cộng sản của Stalin, tuyên bố đại diện cho chủ nghĩa Bolshevik đích thực.
Từ hoàn cảnh của Quốc tế Cộng sản hai trong thập niên 1920 và 1930, một nhóm những người theo chủ nghĩa Marx bất đồng đã thành lập Viện Nghiên cứu Xã hội tại Đức, trong số đó có Max Horkheimer, Theodor Adorno, Erich Fromm, và Herbert Marcuse. Với tư cách một nhóm, những tác giả này đã được gọi là Trường phái Frankfurt. Trường phái tư tưởng của họ, được gọi là Lý thuyết Phê phán, đại diện cho một kiểu chỉ trích triết học và văn hoá Marxist có ảnh hưởng mạnh bởi Hegel, Freud, Nietzsche, và Max Weber.
Trường phái Frankfurt chia rẽ với những người theo chủ nghĩa Marx thời kỳ đầu, gồm cả Lenin và những người Bolshevik ở nhiều khía cạnh quan trọng. Đầu tiên, thời ấy viết về sự gia tăng uy thế của chủ nghĩa Stalin, họ đã đưa ra những nghi ngờ về ý tưởng truyền thống Marxist về ý thức giai cấp của tầng lớp vô sản. Thứ hai, không giống những người Marxist thời kỳ đầu, đặc biệt là Lenin, họ phản đối thuyết định mệnh kinh tế. Dù Trường phái Frankfurt trở nên rất có ảnh hưởng, cả những người theo chủ nghĩa Marx chính thống và một số người khác tham gia vào hoạt động chính trị đã chỉ trích công việc của họ vì đã chia rẽ lý thuyết Marxist khỏi cuộc đấu tranh thực tế và đưa chủ nghĩa Marx vào một khuôn khổ hoàn toàn hàn lâm.
Những người theo chủ nghĩa Marx nổi bật trong cùng thời kỳ gồm cả Georg Lukács và Antonio Gramsci thuộc Quốc tế Cộng sản ba, thường gộp vào một nhóm cùng Trường phái Frankfurt dưới thuật ngữ "Chủ nghĩa Marx phương Tây". Marx cũng gây một ảnh hưởng quan trọng tới nhà triết học và phê bình văn học Đức Walter Benjamin, một người thỉnh thoảng liên kết với Adorno và Trường phái Frankfurt.
Năm 1949 Paul Sweezy và Leo Huberman đã thành lập Monthly Review, một tờ báo và tạp chí, để đưa ra tư tưởng Marx tại Hoa Kỳ độc lập với Đảng Cộng sản Hoa Kỳ.
Năm 1978, G. A. Cohen đã tìm cách bảo vệ tư tưởng Marx như một lý thuyết khoa học và có hệ thống của lịch sử bằng cách khởi động lại các giáo điều trung tâm của nó bằng ngôn ngữ triết học phân tích. Điều này đã làm phát sinh Chủ nghĩa Mác Phân tích, một phong trào hàn lâm cũng bao gồm Jon Elster, Adam Przeworski và John Roemer. Bertell Ollman trở thành một nhà vô địch khác về Marx trong phạm vi hàn lâm Anh ngữ, tương tự như Shlomo Avineri người Israel.
Trong cuốn Das Kapital của Marx (2006), người viết tiểu sử Francis Wheen đã lặp lại quan sát của David McLellan rằng bởi chủ nghĩa Marx không giành thắng lợi ở phương Tây, "nó đã không bị chuyển thành một triết lý chính thức và vì thế trở thành chủ đề của sự nghiên cứu nghiêm túc mà không bị các phương tiện kiểm soát của chính phủ ngăn cản".
Các quốc gia sau ở một số thời điểm trong lịch sử từng có các chính phủ với sự lãnh đạo ít nhất trên danh nghĩa là theo chủ nghĩa Marx (các quốc gia được in đậm vẫn đang có chính phủ đó ở thời điểm năm 2009): Albania, Afghanistan, Angola, Bulgaria, Trung Quốc, Cuba, Síp, Tiệp Khắc, Đông Đức, Ethiopia, Hungary, Lào, Moldova, Mông Cổ, Nepal, Mozambique, Nicaragua, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Ba Lan, România, Nga, Nam Tư, Việt Nam. Ngoài ra, các bang Kerala, Tripura và Tây Bengal tại Ấn Độ cũng từng có các chính phủ theo chủ nghĩa Marx.
Các đảng chính trị và các phong trào Marxist đã suy giảm đáng kể do ảnh hưởng từ sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, với một số ngoại lệ, có lẽ đáng chú ý nhất là Nepal. Ngoài ra, sau khi Liên Xô đã sụp đổ nhưng tại châu Mỹ, hàng triệu người vẫn chống đối mô hình tân tự do của nền kinh tế tư bản, mà đi theo con đường độc lập. Chính quyền Venezuela tuyên bố đất nước này thực hiện công cuộc phát triển xã hội chủ nghĩa vào thế kỷ XXI. Tại Bolivia, chính quyền đã thực hiện quốc hữu hóa ngành công nghiệp dầu khí.
Tại phương Tây, Marx vẫn được xem là một học giả quan trọng đối với nền khoa học xã hội hiện đại. Báo The Economist nói về Marx:
| “ | Cuối cùng, khi tượng đài đã bị kéo đổ, hình tượng của Karl Marx đã bị bôi bẩn một cách khinh khi cũng như Lenin và Stalin. Chủ nghĩa cộng sản đã bị từ chối trên lý thuyết cũng như thực tế; những lãnh đạo của nó đã bị gạt sang bên, những trí thức sáng lập và những nhà cai trị chống xã hội (sociopathic) cũng bị coi như nhau.
Những người sống ở phương Tây, sự phán xét không bị ảnh hưởng bởi việc sống trong hệ thống lấy Marx làm cảm hứng, phần lớn đã đưa ra một cái nhìn công bằng hơn. Marx đã bị hiểu lầm, họ hướng đến sự thông cảm. Chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô là một sự xuyên tạc tư tưởng của ông. Những gì đã xảy ra ở những vùng đất tăm tối đó sẽ khiến Marx cảm thấy kinh hoàng cũng như chúng ta cảm thấy. Nó không phải là sự xác nhận những ý tưởng của ông. Thật vậy, Marx đã đúng về nhiều ý tưởng tốt đẹp - về nhiều sai lầm của chủ nghĩa tư bản, về toàn cầu hóa và thị trường quốc tế, về chu kỳ kinh tế, về cách thức mà kinh tế tác động đến tư tưởng. Marx đã thấy trước; những điều đó vẫn tiếp tục diễn ra. Liên Xô và Đông Âu đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản trên thực tế bằng cách này hay cách khác (và Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba hoặc bất cứ nơi nào nó được áp dụng). Nhưng xin đừng loại bỏ Marx.[150] |
” |
Tháng 7 năm 2005, 27.9% thính giả trong một cuộc thăm dò ý kiến của chương trình In Our Time trên kênh Radio 4 của BBC đã chọn Marx là nhà tư tưởng ưa thích của họ, đứng đầu trong số những người được bình chọn.[151] Tại Hoa Kỳ, trong khảo sát tổng hợp những cuốn sách, tài liệu mà sinh viên Mỹ bắt buộc phải đọc trong hơn 1 triệu bài giảng năm 2016, "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" của Karl Marx đã bỏ xa các cuốn sách phía sau để trở thành tài liệu được giáo viên Mỹ giảng dạy rộng rãi nhất, cả về số bài giảng lẫn tần suất được giảng dạy. "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" được sử dụng làm tài liệu giảng dạy về lý thuyết xã hội, trong khi tại các lớp học kinh tế, các giáo sư thường ưa thích sử dụng cuốn "Capital" (Tư bản – bộ sách đồ sộ của Marx phân tích về sự vận hành của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa)[152].
Xem thêm
- Phê phán chủ nghĩa Marx
- Nhà Karl Marx
- Tượng đài Karl Marx
- Karl Marx trong phim ảnh
- Thuyết giai cấp của Marx
- Kinh tế chính trị Marx
- Thư viện Tưởng niệm Marx
- Nguyên lý của Marx
- Marx Reloaded
- Các bản thảo toán học của Karl Marx
- Kinh tế chính trị
- Các nhà xã hội chủ nghĩa tiền-Marx
- Giovanni Gentile
- Adam Smith
- 2807 Karl Marx
- Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Tham khảo
- ^ Marx, K. and Engels, F. (1848).The Communist Manifesto Lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2009 tại Wayback Machine
- ^ Marx, Karl. Critique of the Gotha Program. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2007 – qua Marxists Internet Archive.
- ^ a ă Calhoun 2002, tr. 23–24
- ^ "Marx the millennium's 'greatest thinker'". BBC News World Online. ngày 1 tháng 10 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2010.
- ^ Unger, Roberto Mangabeira (2007). Free Trade Reimagined: The World Division of Labor and the Method of Economics. Princeton: Nhà xuất bản Đại học Princeton.
- ^ Hicks, John (tháng 5 năm 1974). "Capital Controversies: Ancient and Modern". The American Economic Review. Quyển 64 số 2. tr. 307.
The greatest economists, Smith or Marx or Keynes, have changed the course of history ... [Những nhà kinh tế vĩ đại nhất, Smith hoặc Marx hoặc Keynes, đã thay đổi dòng chảy của lịch sử ...]
- ^ Joseph Schumpeter Ten Great Economists: From Marx to Keynes. Volume 26 of Unwin University books. Edition 4, Taylor & Francis Group, 1952 Bản mẫu:ISBN
- ^ Little, Daniel. "Marxism and Method". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2017.
- ^ Kim, Sung Ho (2017). "Max Weber". Trong Zalta, Edward N. (biên tập). Stanford Encyclopaedia of Philosophy. Lab Nghiên cứu Siêu hình học, Đại học Stanford. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2017.
Max Weber is known as a principal architect of modern social science along with Karl Marx and Emil Durkheim. [Max Weber nổi danh với vai trò là kiến trúc sư chính của ngành khoa học xã hội hiện đại, cùng với Karl Marx và Emil Durkheim.]
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 7; Wheen 2001, tr. 8, 12; McLellan 2006, tr. 1.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 4–5; Wheen 2001, tr. 7–9, 12; McLellan 2006, tr. 2–3.
- ^ Carroll, James (2002). Constantine's Sword: The Church and the Jews – A History (bằng tiếng Anh). Houghton Mifflin Harcourt. tr. 419. ISBN 978-0-547-34888-9. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2018.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 4–6; McLellan 2006, tr. 2–4.
- ^ McLellan 2006, tr. 178, Plate 1.
- ^ Wheen 2001. tr. 12–13.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 5, 8–12; Wheen 2001, tr. 11; McLellan 2006, tr. 5–6.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 7; Wheen 2001, tr. 10; McLellan 2006, tr. 7.
- ^ Wheen 2001, chpt. 6
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 12; Wheen 2001, tr. 13.
- ^ McLellan 2006, tr. 7.
- ^ Karl Marx: Dictionary of National Biography. Volume 37. Nhà xuất bản Đại học Oxford. 2004. tr. 57–58. ISBN 978-0-19-861387-9.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 12–15; Wheen 2001, tr. 13; McLellan 2006, tr. 7–11.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 15–16; Wheen 2001, tr. 14; McLellan 2006, tr. 13.
- ^ Wheen 2001, tr. 15.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 20; McLellan 2006, tr. 14.
- ^ Wheen 2001, tr. 16; McLellan 2006, tr. 14
- ^ Holmes, Rachel (ngày 14 tháng 10 năm 2017). "Karl Marx: the drinking years". The Times. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2017.Bản mẫu:CbignoreBản mẫu:Subscription required
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 21–22; McLellan 2006, tr. 14.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 22; Wheen 2001, tr. 16–17; McLellan 2006, tr. 14.
- ^ Fedoseyev 1973, tr. 23; Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 23–30; Wheen 2001, tr. 16–21, 33; McLellan 2006, tr. 15, 20.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 70–71; Wheen 2001, tr. 52–53; McLellan 2006, tr. 61–62.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 31; McLellan 2006, tr. 15.
- ^ McLellan 2006, tr. 21
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 33; McLellan 2006, tr. 21.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 32–34; Wheen 2001, tr. 21–22; McLellan 2006, tr. 21–22.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 34–38; Wheen 2001, tr. 34; McLellan 2006, tr. 25–27.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 44,69–70; McLellan 2006, tr. 17–18.
- ^ Sperber 2013, tr. 55–56.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 33; McLellan 2006, tr. 18–19
- ^ New York: International Publishers, 1975, tr. 531–632
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 33; Wheen 2001, tr. 25–26.
- ^ Luận văn của Marx được xuất bản sau khi ông mất trong cuốn Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 1 (New York: International Publishers, 1975) tr. 25–107.
- ^ Wheen 2001, tr. 32.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênwillamette1 - ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 45; Wheen 2001, tr. 33; McLellan 2006, tr. 28–29, 33.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 38–45; Wheen 2001, tr. 34; McLellan 2006, tr. 32–33, 37.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 49; McLellan 2006, tr. 33.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 50–51; Wheen 2001, tr. 34–36, 42–44; McLellan 2006, tr. 35–47.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 57; Wheen 2001, tr. 47; McLellan 2006, tr. 48–50.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 60–61; Wheen 2001, tr. 47–48; McLellan 2006, tr. 50–51.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 68–69, 72; Wheen 2001, tr. 48; McLellan 2006, tr. 59–61
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 77–79; Wheen 2001, tr. 62–66; McLellan 2006, tr. 73–74, 94.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 72; Wheen 2001, tr. 64–65; McLellan 2006, tr. 71–72.
- ^ Marx, Karl (1975). "Contribution to the Critique of Hegel's Philosophy of Law". Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels. Quyển 3. New York: International Publishers. tr. 3.
- ^ Marx, Karl (1975). "On the Jewish Question". Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels. Quyển 3. New York: International Publishers. tr. 146.
- ^ McLellan 2006, tr. 65–70, 74–80.
- ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 72, 75–76; Wheen 2001, tr. 65; McLellan 2006, tr. 88–90.
- ^ Wheen 2001, tr. 66–67, 112; McLellan 2006, tr. 79–80.
- ^ Wheen 2001, tr. 90.
- ^ Wheen 2001. tr. 75.
- ^ Mansel, Philip (2001). Paris Between Empires. New York: St. Martin Press. tr. 390.
- ^ Engels, Friedrich (1975). "Tình cảnh giai cấp công nhân Anh". Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels. Quyển 4. New York: International Publishers. tr. 295–596.
- ^ a ă T.B. Bottomore (1991). A Dictionary of Marxist thought. Wiley-Blackwell. tr. 108–. ISBN 978-0-631-18082-1. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011.
- ^ Fedoseyev 1973, tr. 82.
- ^ Wheen 2001. tr. 85–86.
- ^ Karl Marx, "Gia đình thần thánh", sưu tập trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 4, tr. 3–211.
- ^ a ă Several authors elucidated this long neglected crucial turn in Marx's theoretical development, such as Ernie Thomson in The Discovery of the Materialist Conception of History in the Writings of the Young Karl Marx, Lewiston, New York: Edwin Mellen Press, 2004; for a short account see Max Stirner, a durable dissident Lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2006 tại Wayback Machine
- ^ Taken from the caption of a picture of the house in a group of pictures located between pages 160 and 161 of Fedoseyev 1973.
- ^ Fedoseyev 1973, tr. 63.
- ^ Isaiah Berlin, Karl Marx: His Life and Environment (NXB Đại học Oxford: Luân Đôn, 1963) tr. 90–94.
- ^ Fedoseyev 1973, tr. 62.
- ^ Larisa Miskievich, "Preface" to Volume 28 of the Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels (International Publishers: New York, 1986) tr. xii
- ^ Karl Marx, Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 35, Volume 36 và Volume 37 (International Publishers: New York, 1996, 1997 và 1987).
- ^ Isaiah Berlin, Karl Marx: His Life and Environment, tr. 35–61.
- ^ Chú thích 54 ở tr. 598 trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 3.
- ^ Karl Marx, "Economic and Philosophical Manuscripts of 1844" Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 3 (International Publishers: New York, 1975) tr. 229–346.
- ^ a ă â b c d "Karl Marx". Stanford Encyclopaedia of Philosophy. Metaphysics Research Lab, Stanford University. 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2005.. First published Tue 26 August 2003; substantive revision Mon 14 June 2010. Retrieved 4 March 2011.
- ^ Fedoseyev 1973, tr. 83.
- ^ Karl Marx, "Theses on Feuerbach", trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 5 (International Publishers: New York, 1976) tr. 3–14.
- ^ Karl Marx, "Theses on Feuerbach," trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 5, tr. 8.
- ^ Doug Lorimer, in Friedrich Engels (1999). Socialism: utopian and scientific. Resistance Books. tr. 34–36. ISBN 978-0-909196-86-8. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011.
- ^ a ă â Wheen 2001. p. 90 Lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2015 tại Wayback Machine.
- ^ Heinrich Gemkow et al., Frederick Engels: A Biography (Verlag Zeit im Bild: Dresden, 1972) tr. 101
- ^ Heinrich Gemkow, et al., Frederick Engels: A Biography, tr. 102.
- ^ Heinrich Gemkow, et al., Frederick Engels: A Biography (Verlag Zeit im Bild [New Book Publishing House]: Dresden, 1972) tr. 53
- ^ Heinrich Gemkow, et al., Frederick Engels: A Biography, tr. 78.
- ^ a ă â Fedoseyev 1973, tr. 89.
- ^ Wheen 2001. tr. 92.
- ^ Karl Marx và Frederick Engels, "German Ideology" trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 5 (International Publishers: New York, 1976) tr. 19–539.
- ^ Fedoseyev 1973, tr. 96–97.
- ^ Baird, Forrest E.; Walter Kaufmann (2008). From Plato to Derrida. Upper Saddle River, New Jersey: Pearson Prentice Hall. ISBN 978-0-13-158591-1.
- ^ Wheen 2001. tr. 93.
- ^ Xem chú thích 71 ở tr. 672 trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 6 (International Publishers: New York, 1976).
- ^ Karl Marx, The Poverty of Philosophy trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 6 (International Publishers: New York, 1976) tr. 105–212.
- ^ Wheen 2001. tr. 107.
- ^ Fedoseyev 1973, tr. 124.
- ^ Chú thích 260 trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 11 (International Publishers: New York, 1979) tr. 671–72.
- ^ Chú thích 260 trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 11, tr. 672.
- ^ Fedoseyev 1973, tr. 123–125.
- ^ Fedoseyev 1973, tr. 125.
- ^ Frederick Engels, "Principles of Communism" trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 6 (International Publishers, New York, 1976) tr. 341–57.
- ^ Wheen 2001. tr. 128.
- ^ Karl Marx và Frederick Engels, "Demands of the Communist Party" trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 7 (International Publishers: New York, 1977) tr. 3–6.
- ^ Wheen 2001. tr. 129.
- ^ "Các Mác học toán". Tạp chí Pi - Tập 4 số 9 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2020.
- ^ Kennedy, Hubert (1978), "Marx's mathematical manuscripts", Science and Nature, 1: 59–62, ISSN 0193-3396, MR 0515991
- ^ Marx, Karl (1968), Yanovskaya, Sofya (ed.), Matematicheskie rukopist, Moscow, Nauk
- ^ Marx, Karl (1983) [1881], Yanovskaya, Sofya (ed.), Mathematical manuscripts of Karl Marx, London: New Park Publications Ltd., ISBN 978-0-86151-028-3, MR 0710831
- ^ Marx, Karl (2018) [1881], Pradip Baksi (ed.), Mathematical manuscripts of Karl Marx, translated by Pradip Baksi, Delhi: Aakar Books, ISBN 9789350025628
- ^ Peter Hans Matthews (2019) The dialectics of differentiation: Marx's mathematical manuscripts and their relation to his economics, Review of Social Economy, DOI: 10.1080/00346764.2019.1664758
- ^ Glivenko, V. (1935). Der Differentialbegriff bei Marx und Hadamard. Unter dem Banner des Marxismus, 102–110.
- ^ Kennedy, H. (1977). Karl Marx and the foundations of differential calculus. Historia Mathematica, 4, 303–318.
- ^ a ă Fedoseyev 1973, tr. 233.
- ^ Note 269 contained on p. 674 in the Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 11.
- ^ Wheen 2001, tr. 151–155.
- ^ Note 269 on p. 674 of the Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 11.
- ^ Dussel, Enrique D. (2001). Moseley, Fred Baker (biên tập). Towards an Unknown Marx: A Commentary on the Manuscripts of 1861–63. Angulo, Yolanda biên dịch. London; New York: Routledge. tr. xxxiii. ISBN 0415215455.
- ^ "Karl Heinrich Marx – Biography". The European Graduate School. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2011.
- ^ Jonathan Sperber, Karl Marx: A Nineteenth-Century Life, p. 295.
- ^ Kluger, Richard (1986). The Paper: The Life and Death of the New York Herald Tribune. New York: Alfred A. Knopf. ISBN 978-0394508771.
- ^ Marx, Karl (2007). Ledbetter, James (ed.). Dispatches for the New York Tribune: Selected Journalism of Karl Marx. Penguin Books. ISBN 978-0141441924.
- ^ Peter Singer (2000). Marx a very short introduction. Đại học Oxford. tr. 5. ISBN 0-19-285405-4.
- ^ Lafargue, Paul (1972). Viện Marx–Engels–Lenin (biên tập). Reminiscences of Marx (September 1890). Progress Publishers. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2022.
He was a loving, gentle and indulgent father. [...] There was never even a trace of the bossy parent in his relations with his daughters, whose love for him was extraordinary. He never gave them an order, but asked them to do what he wished as a favour or made them feel that they should not do what he wanted to forbid them. And yet a father could seldom have had more docile children than he.
- ^ Montefiore, Simon Sebag (ngày 23 tháng 9 năm 2011). "The Means of Reproduction". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2011.
- ^ Francis Wheen (2000). Karl Marx. W.W. Norton and Company. tr. 173.
- ^ Carver, Terrell (1991). "Reading Marx: Life and Works". Trong Carver, Terrell (biên tập). The Cambridge Companion to Marx. Cambridge, Vương quốc Anh: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr. 11. ISBN 978-0-521-36694-6. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2022.
this [claim] is not well founded on the documentary materials available
- ^ a ă â b c d Calhoun 2002, tr. 120–23
- ^ a ă â b Howard J. Sherman (1995). Reinventing marxism. JHU Press. tr. 5. ISBN 978-0-8018-5077-6. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011.
- ^ Chattopadhyay, Paresh (2016). Marx's Associated Mode of Production: A Critique of Marxism. Springer. tr. 39–41.
- ^ Peter Beilharz (1992). Labour's Utopias: Bolshevism, Fabianism and Social Democracy. CUP Archive. tr. 4. ISBN 978-0-415-09680-5. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011.
- ^ Barry Stewart Clark (1998). Political economy: a comparative approach. ABC-CLIO. tr. 57–59. ISBN 978-0-275-96370-5. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011.
- ^ Eagleton, Terry. Why Marx Was Right. NXB Đại học Yale, 2011, tr. 158
- ^ Seigel, Jerrold Marx's Fate. NXB Đại học Princeton, 1978, tr. 112–19
- ^ Neocleous, Mark. "The Political Economy of the Dead: Marx's Vampires" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013.
- ^ Himani Bannerji (2001). Inventing subjects: studies in hegemony, patriarchy and colonialism. Anthem Press. tr. 27. ISBN 978-1-84331-072-3. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2011.
- ^ "Karl Marx:Critique of the Gotha Programme".
- ^ "Bạn biết rằng các định chế, tập tục, và các truyền thống của nhiều quốc gia khác nhau phải được xem xét tới, và chúng ta không bác bỏ rằng có các quốc gia -- như Mỹ, Anh, và nếu tôi quen thuộc hơn với các định chế của bạn, tôi có lẽ sẽ thêm cả Hà Lan -- nơi những người công nhân có thể đạt tới mục đích của mình bằng các phương tiện hoà bình. Nếu đó là trường hợp, chúng ta cũng phải công nhận thực tế rằng tại hầu hết các quốc gia trên Lục địa đòn bẩy cuộc cách mạng của chúng ta phải là bạo lực; chính bạo lực là cái mà một ngày chúng ta sẽ phải viện dẫn tới để dựng lên quyền cai trị của người lao động." La Liberté Speech được Karl Marx đọc ngày 8 tháng 9 năm 1872, tại Amsterdam
- ^ Karl Marx & Frederick Engels, Collected Works Volume 46 (International Publishers: New York, 1992) p. 71.
- ^ Ibid. p. 72.
- ^ a ă Ibid.
- ^ Xem Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tại Nga viết năm 1899 bởi V.I. Lenin và có trong Lenin: Các tác phẩm tuyển chọn, Tập 3 (Nhà xuất bản Tiến bộ: Moscow, 1972) trang 21.
- ^ Sách đã dẫn trang 70.
- ^ Sách đã dẫn trang 380.
- ^ McLellan 1973, p. 443
- ^ Theo Thư Enghen gửi Becnơstainơ (E. Bernstein) 2 - 3.11.1882, và thư Enghen gửi Xmit 5.8.1890, "Mac - Enghen toàn tập", tiếng Đức, tập 35, trang 388, 436, Marx thường nói "tôi không phải là macxit".
- ^ "Chúng tôi đã luôn tuyên bố và nhắc lại sự thực cơ bản này của chủ nghĩa Marx, rằng thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đòi hỏi sự chung sức của công nhân tại một số quốc gia phát triển" (Lenin, Sochineniya (Works), 5th ed Vol XLIV p418, tháng 2 năm 1922. Stalin cũng có quan điểm tương tự cho tới khi Lenin mất).
- ^ Vào ngày sau cuộc cách mạng Nga tháng 10 năm 1917, một cuộc họp của Xô viết Petrograd đã thông qua nghị quyết của Lenin với kết luận: "Xô viết tin tưởng rằng giai cấp vô sản tại các quốc gia Tây Âu sẽ giúp chúng ta hoàn thành một thắng lợi hoàn toàn và vĩnh viễn cho lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản." Lenin đã nhắc lại điều này trong tuyên bố ngày 5 tháng 1917 Với Nhân dân kết luận rằng thắng lợi của chủ nghĩa xã hội "sẽ được hoàn thành bởi những công nhân tiên tiến tại những quốc gia văn minh nhất", và đã tiếp tục nhắc lại điều đó trong suốt cuộc đời mình.
- ^ Trotsky gọi đây là "sự thoái trào" của cách mạng Nga trong cuốn Cuộc cách mạng bị phản bội của mình, bởi sự thiếu hụt các điều kiện vật chất căn bản cho sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội tại một quốc gia lạc hậu và bị cô lập.
- ^ "Các-Mác, 187 năm nhìn lại... - Quốc tế - VietNamNet". Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2005.
- ^ Marx after communism, The Economist Newspaper, Dec 19th 2002
- ^ Wheen, Francis (17 tháng 7 năm 2005). "Why Marx is man of the moment". The Observer.
- ^ Karl Max là tác giả của cuốn sách kinh tế được nghiên cứu nhiều nhất tại các trường đại học ở Mỹ, cafef.vn, 15-08-2016
Thư mục
Nguồn sơ cấp
- Marx, Karl (2004) [1867]. Capital: Volume I [Tư bản: Tập I] (bằng tiếng Anh). Ben Fowkes biên dịch. London: Penguin Books. ISBN 0141920602.
- Marx, Karl & Engels, Friedrich (2017) [1848]. Phạm Minh Tuấn; Võ Văn Bé; Hoàng Mạnh Thắng & Đinh Ái Minh (biên tập). Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. ISBN 978-604-57-3645-6.
- Marx, Karl & Engels, Friedrich (1995). Nguyễn Đức Bình; Đặng Xuân Kỳ; Trần Ngọc Hiên; Hà Học Hợi; Phạm Xuân Nam; Trần Nhâm & Trần Xuân Trường (biên tập). C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập: Tập 3 (1845-1847). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.[lower-alpha 1]
- Marx, Karl & Engels, Friedrich (1995). Nguyễn Đức Bình; Đặng Xuân Kỳ; Trần Ngọc Hiên; Hà Học Hợi; Phạm Xuân Nam; Trần Nhâm & Trần Xuân Trường (biên tập). C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập: Tập 4 (tháng Năm 1846 - tháng Ba 1848). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.[lower-alpha 2]
- Marx, Karl & Engels, Friedrich (2002). Nguyễn Đức Bình; Đặng Xuân Kỳ; Trần Ngọc Hiên; Hà Học Hợi; Phạm Xuân Nam; Trần Nhâm & Trần Xuân Trường (biên tập). C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập: Tập 23. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.[lower-alpha 3]
- Marx, Karl & Engels, Friedrich (1995). Nguyễn Đức Bình; Đặng Xuân Kỳ; Trần Ngọc Hiên; Hà Học Hợi; Phạm Xuân Nam; Trần Nhâm & Trần Xuân Trường (biên tập). C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập: Tập 24. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.[lower-alpha 4]
- Marx, Karl & Engels, Friedrich (1995). Nguyễn Đức Bình; Đặng Xuân Kỳ; Trần Ngọc Hiên; Hà Học Hợi; Phạm Xuân Nam; Trần Nhâm & Trần Xuân Trường (biên tập). C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập: Tập 25 phần I-II. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.[lower-alpha 5]
- Marx, Karl & Engels, Friedrich (1995). Nguyễn Đức Bình; Đặng Xuân Kỳ; Trần Ngọc Hiên; Hà Học Hợi; Phạm Xuân Nam; Trần Nhâm & Trần Xuân Trường (biên tập). C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập: Tập 26 phần I-II-III. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.[lower-alpha 6]
Phụ chú
- ^ Bao gồm Luận cương về Feuerbach và Hệ tư tưởng Đức.
- ^ Bao gồm Sự khốn cùng của triết học và Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.
- ^ Trọn vẹn tập I cuốn Tư bản.
- ^ Trọn vẹn tập II cuốn Tư bản.
- ^ Trọn vẹn tập III cuốn Tư bản.
- ^ Trọn vẹn tập IV cuốn Tư bản hay Các học thuyết về giá trị thặng dư.
Nguồn thứ cấp
Chuyên khảo
- Anderson, Kevin (2016). Marx at the Margins: On Nationalism, Ethnicity, and Non-Western Societies [Marx ngoài biên: Về chủ nghĩa dân tộc, sắc tộc, và các xã hội ngoài phương Tây]. Anh: Nhà xuất bản Đại học Chicago. ISBN 022634570X.
- Aricó, José M. (2013) [1980]. Marx and Latin America [Marx và Mỹ Latinh]. Hà Lan: Brill. ISBN 9004256350.
- Berlin, Isaiah (2013). Henry Hardy (biên tập). Karl Marx. Anh: Nhà xuất bản Đại học Princeton. ISBN 0691156506.
- Blackburn, Robin (2011). An Unfinished Revolution: Karl Marx and Abraham Lincoln [Một cuộc cách mạng chưa hoàn tất: Karl Marx và Abraham Lincoln]. Anh: Verso Books. ISBN 1844677222.
- Bloch, Maurice (2004). Marxism and Anthropology: The History of a Relationship [Chủ nghĩa Marx và Nhân chủng học: Lịch sử của một mối quan hệ]. Anh: Routledge. ISBN 0415330610.
- Bottomore, Tom (1991). A Dictionary of Marxist Thought [Từ điển Tư tưởng Marxist]. Anh: Wiley. ISBN 0631180826.
- Carchedi, Guglielmo (2011) [2010]. Behind the Crisis: Marx's Dialectics of Value and Knowledge [Phía sau khủng hoảng: Biện chứng pháp giá trị và tri thức của Marx]. Hà Lan: Brill. ISBN 9004189947.
- Clarke, Simon (2016) [1994]. Marx's Theory of Crisis [Thuyết khủng hoảng của Marx]. Anh: Palgrave Macmillan UK. ISBN 134923186X.
- Comninel, George C. (2018). Alienation and Emancipation in the Work of Karl Marx [Tha hóa và giải phóng trong công trình của Karl Marx]. Đức: Palgrave Macmillan. ISBN 1137575344.
- Eckhardt, Wolfgang (2016). The First Socialist Schism: Bakunin Vs. Marx in the International Working Men's Association [Đứt gãy xã hội chủ nghĩa đầu tiên: Bakunin đối đầu Marx trong Hiệp hội Công nhân Quốc tế]. Hoa Kỳ: PM Press. ISBN 1629633089.
- Fedoseyev, Petr Nikolaevich (1973). Karl Marx: A Biography. Moskva: Nhà xuất bản Tiến bộ. OCLC 1365346.
- Gabriel, Mary (2011). Love and Capital: Karl and Jenny Marx and the Birth of a Revolution [Tình yêu và Tư bản: Karl và Jenny Marx và sự khai sinh của một cuộc cách mạng]. Hoa Kỳ: Little, Brown. ISBN 031619137X.
- Geras, Norman (2016). Marx and Human Nature: Refutation of a Legend [Marx và Bản chất con người: Chối bỏ một huyền thoại]. Anh: Verso. ISBN 178478236X.
- Harvey, David (2023). A Companion to Marx's Grundrisse [Một cẩm nang về Grundrisse của Marx]. Anh: Verso Books. ISBN 180429098X.
- Harvey, David (2018). A Companion To Marx's Capital: The Complete Edition [Một cẩm nang về cuốn Tư bản của Marx: Bản đầy đủ]. Anh: Verso Books. ISBN 1788731549.
- Heinrich, Michael (2021). How to Read Marx's Capital: Commentary and Explanations on the Beginning Chapters [Đọc Tư bản của Marx như thế nào: Bình phẩm và Lý giải về các chương mở đầu]. Hoa Kỳ: Monthly Review Press. ISBN 1583678956.
- Heinrich, Michael (2019). Karl Marx and the Birth of Modern Society: the Life of Marx and the Development of His Work. Volume I: 1818–1841 [Karl Marx và sự khai sinh của xã hội hiện đại: Cuộc đời của Marx và quá trình phát triển các tác phẩm của ông. Tập I: 1818–1841]. Alex Locascio biên dịch. New York: Monthly Review Press. ISBN 978-1-58367-735-3.
- Heinrich, Michael (2012). An Introduction to the Three Volumes of Karl Marx's Capital [Một dẫn nhập vào ba quyển Tư bản của Karl Marx]. Alex Locascio biên dịch. Hoa Kỳ: Monthly Review Press. ISBN 1583672915.
- Henning, Christoph (2014). Philosophy After Marx: 100 Years of Misreadings and the Normative Turn in Political Philosophy [Triết học sau Marx: 100 năm hiểu lầm và bước ngoặt quy phạm trong triết học chính trị]. Hà Lan: Brill. ISBN 9004270337.
- Holt, Justin P. (2014). The Social Thought of Karl Marx [Tư tưởng xã hội của Karl Marx]. Anh: SAGE Publications. ISBN 1483316076.
- Hosfeld, Rolf (2012). Karl Marx: An Intellectual Biography [Karl Marx: Một tiểu sử tri thức]. Đức: Berghahn Books. ISBN 1782384308.
- Hudis, Peter (2012). Marx's Concept of the Alternative to Capitalism [Khái niệm của Marx về Hệ thống thay thế Chủ nghĩa tư bản]. Hà Lan: Brill. ISBN 9004221972.
- Jones, Gareth Stedman (2016). Karl Marx: Greatness and Illusion [Karl Marx: Vĩ đại và Ảo vọng]. London: Allen Lane. ISBN 978-0-7139-9904-4.
- Kain, Philip J. (1988). Marx and Ethics [Marx và Luân lý học]. Anh: Clarendon Press. ISBN 0198239327.
- Kamenka, Eugene (2015). The Ethical Foundations of Marxism [Nền tảng Luân lý học của Chủ nghĩa Marx]. Anh: Taylor & Francis. ISBN 1317503872.
- Kemple, Thomas (2022). Marx’s Wager: Das Kapital and Classical Sociology [Canh bạc của Marx: Das Kapital và Xã hội học cổ điển]. Anh: Springer International Publishing. ISBN 3031080653.
- Leopold, David (2007). The Young Karl Marx: German Philosophy, Modern Politics, and Human Flourishing [Karl Marx thời trẻ: Triết học Đức, Chính trị hiện đại, và sự hưng thịnh của loài người]. Cambridge, Anh: Cambridge University Press. ISBN 9781139464987.
- Liedman, Sven-Eric. (2018). Jeffrey N. Skinner (biên tập). A World to Win: The Life and Works of Karl Marx [Giành lấy cả thế giới: Cuộc đời và các tác phẩm của Karl Marx]. London: Verso. ISBN 978-1-7866-3504-4.
- Löwy, Michael (2005). The Theory of Revolution in the Young Marx [Lý thuyết Cách mạng ở Marx Trẻ]. Chicago: Haymarket Books. ISBN 1-931859-1-91.
- Mandel, Ernest (1982). Introduction to Marxism [Dẫn nhập vào Chủ nghĩa Marx]. Anh: Pluto Press. ISBN 0861043898.
- McLellan, David (1995) [1973]. Karl Marx: A Biography [Karl Marx: Một tiểu sử]. Anh: Papermac. ISBN 0333639472.
- Mehring, Franz (2013) [1918]. Karl Marx: The Story of His Life [Karl Marx: Truyện về cuộc đời ông]. London: Routledge. ISBN 978-0-4153-1333-9.
- Musto, Marcello (2020). The Last Years of Karl Marx: An Intellectual Biography [Những năm cuối đời của Karl Marx: Một tiểu sử tri thức]. Hoa Kỳ: Nhà xuất bản Đại học Stanford. ISBN 1503612538.
- Musto, Marcello (2018). Another Marx: Early Manuscripts to the International [Một Marx khác: Từ các bản thảo sơ kỳ tới Quốc tế Cộng sản]. Ấn Độ: Bloomsbury Publishing. ISBN 1474267343.
- Nicolaievsky, Boris & Maenchen-Helfen, Otto (2015) [1936]. Karl Marx: Man and Fighter [Karl Marx: Con người và chiến binh]. Gwenda David & Eric Mosbacher biên dịch. Anh: Taylor & Francis. ISBN 1317484878.
- Ollman, Bertell (2003). Dance of the Dialectic: Steps in Marx's Method [Vũ điệu của biện chứng pháp: Các bước trong phương pháp của Marx]. Hoa Kỳ: Nhà xuất bản Đại học Illinois. ISBN 0252071182.
- Paolucci, Paul (2019). Marx’s Experiments and Microscopes: Modes of Production, Religion, and the Method of Successive Abstractions [Thí nghiệm và kính hiển vi của Marx: Phương thức sản xuất, Tôn giáo, và Phương pháp trừu tượng hóa liên tiếp]. Hà Lan: Brill. ISBN 9004413863.
- Paolucci, Paul (2007). Marx's Scientific Dialectics: A Methodological Treatise for a New Century [Biện chứng pháp khoa học của Marx: Một nghiên cứu phương pháp luận cho một thế kỷ mới]. Hà Lan: Brill. ISBN 900415860X.
- Patterson, Thomas C. (2020) [2003]. Marx's Ghost: Conversations with Archaeologists [Hồn ma của Marx: Đối thoại với các nhà khảo cổ]. Anh: Taylor & Francis. ISBN 1000181871.
- Patterson, Thomas C. (2020) [2009]. Karl Marx, Anthropologist [Karl Marx, Nhà nhân chủng học]. Anh: Berg Publishers. ISBN 1845205111.
- Prawer, Siegbert S. (2014) [1976]. Karl Marx and World Literature [Karl Marx và văn học thế giới]. Anh: Verso. ISBN 1781689539.
- Roberts, William C. (2018) [2016]. Marx's Inferno: The Political Theory of Capital [Hỏa ngục của Marx: Thuyết chính trị tư bản]. Anh: Nhà xuất bản Đại học Princeton. ISBN 0691180814.
- Sperber, Jonathan (2013). Karl Marx: A Nineteenth-Century Life [Karl Marx: Một cuộc đời thế kỷ thứ 19]. New York: W.W. Norton & Co. ISBN 978-0-87140-467-1.
- Tucker, Robert C. (1972). Philosophy and Myth in Karl Marx [Triết học và lầm tưởng ở Karl Marx]. Anh: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. ISBN 0-521-09701-0.
- Wheen, Francis (2001). Karl Marx. London: Fourth Estate. ISBN 978-1-85702-637-5.
- White, James D. (1996). Karl Marx and the Intellectual Origins of Dialectical Materialism [Karl Marx và Nguồn gốc tri thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng]. Anh: Palgrave Macmillan UK. ISBN 0230374212.
- Wood, Allen (2020) [1981]. Karl Marx. Anh: Taylor & Francis. ISBN 1000158993.
- Worsley, Peter (2013) [1982]. Marx and Marxism [Marx và Chủ nghĩa Marx]. Anh: Taylor & Francis. ISBN 1134451547.
Tuyển tập
- Nhiều tác giả (2020a). Hannes Kuch & Victoria Fareld (biên tập). From Marx to Hegel and Back: Capitalism, Critique, and Utopia [Từ Marx tới Hegel và ngược lại: Chủ nghĩa tư bản, Phê phán, và Ðịa đàng]. Anh: Bloomsbury Publishing. ISBN 1350082694.
- Nhiều tác giả (2020b). Alex Callinicos; Eustache Kouvélakis & Lucia Pradella (biên tập). Routledge Handbook of Marxism and Post-Marxism [Sổ tay Routledge về Chủ nghĩa Marx và hậu-Marx]. Hoa Kỳ: Taylor & Francis. ISBN 1351370014.
- Nhiều tác giả (2019). Matt Vidal; Tomás Rotta; Paul Prew & Tony Smith (biên tập). The Oxford Handbook of Karl Marx [Sổ tay Oxford về Karl Marx]. Anh: Nhà xuất bản Đại học Oxford. ISBN 0190695560.
- Nhiều tác giả (2018a). Frieder Otto Wolf & Judith Dellheim (biên tập). The Unfinished System of Karl Marx: Critically Reading Capital as a Challenge for Our Times [Hệ thống chưa thoàn thiện của Karl Marx: Đọc phản biện Tư bản như một thách thức đối với thời đại chúng ta]. Đức: Springer International Publishing. ISBN 3319703471.
- Nhiều tác giả (2018b). Gerald Hubmann & Marcel M. van der Linden (biên tập). Marx’s Capital: An Unfinishable Project? [Tư bản của Marx: Một dự án không thể hoàn thiện?]. Hà Lan: Brill. ISBN 9004367152.
- Nhiều tác giả (2017). Catherine P. Mulder; David Kristjanson-Gural; David M. Brennan & Erik K. Olsen (biên tập). Routledge Handbook of Marxian Economics [Sổ tay Routledge về kinh tế học Marxist]. Anh: Taylor & Francis. ISBN 978-1-138-77493-3.
- Nhiều tác giả (2013a). Ben Fine (biên tập). The Value Dimension: Marx Versus Ricardo and Sraffa [Chiều kích giá trị: Marx đối đầu Ricardo và Sraffa]. Anh: Taylor & Francis. ISBN 1135040400.
- Nhiều tác giả (2013b) [1995]. Bernd Magnus & Stephen Cullenberg (biên tập). Whither Marxism? Global Crises in International Perspective [Chủ nghĩa Marx đi về đâu? Khủng hoảng toàn cầu trong quan điểm quốc tế]. Anh: Taylor & Francis. ISBN 1134979169.
- Nhiều tác giả (2012). Alfredo Saad-Filho; Ben Fine & Marco Boffo (biên tập). The Elgar Companion to Marxist Economics [Cẩm nang Elger về Kinh tế học Marxist]. Anh: Edward Elgar. ISBN 1781001987.
- Nhiều tác giả (2008). Jacques Bidet & Eustache Kouvélakis (biên tập). Critical Companion to Contemporary Marxism [Cẩm nang phê phán Chủ nghĩa Marx đương đại]. Hà Lan: Brill. ISBN 9004145982.
- Nhiều tác giả (2006). Stephen Resnick & Richard D. Wolff (biên tập). New Departures in Marxian Theory [Các hướng mới trong Lý thuyết Marxist]. Anh: Taylor & Francis. ISBN 1135987572.
- Nhiều tác giả (1991). Terrell Carver (biên tập). The Cambridge Companion to Marx [Cẩm nang Cambridge về Marx]. Anh: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. ISBN 0-521-36694-1.
Đọc thêm
- Attali, Jacques (2007) [2005]. Karl marx ou l'esprit du monde [Karl Marx hay Tinh thần thế giới] (bằng tiếng Pháp). Paris: Fayard. ISBN 2253116068.
- Balibar, Étienne (2007). The Philosophy of Marx [Triết học của Marx]. Chris Turner biên dịch. Anh: Verso. ISBN 1844671879.
- Cohen, Gerald A. (2000) [1978]. Karl Marx's Theory of History: A Defence [Thuyết lịch sử của Karl Marx: Một bào chữa]. Anh: Clarendon Press. ISBN 0199242062.
- Fuchs, Christian (2014). Digital Labour and Karl Marx [Lao động số và Karl Marx]. Anh: Taylor & Francis. ISBN 1134747063.
- Kliman, Andrew (2007). Reclaiming Marx's Capital: A Refutation of the Myth of Inconsistency [Tái chiếm cuốn Tư bản của Marx: Một chối bỏ về lầm tưởng bất nhất]. Anh: Lexington Books. ISBN 0-7391-1852-8.
- Lapin, Nikolay Ivanovich (1976). Молодой Маркс [Marx trẻ] (bằng tiếng Nga). Moskva: Политиздат [Politizdat].
- Netto, José Paulo (2020). Karl Marx: Uma biografia [Karl Marx: Một tiểu sử] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Brazil: Boitempo Editorial. ISBN 6557170341.
- Rockwell, Russell (2018). Hegel, Marx, and the Necessity and Freedom Dialectic: Marxist-Humanism and Critical Theory in the United States [Hegel, Marx, và Biện chứng Tự do và Thiết yếu: Chủ nghĩa nhân bản Marxist và lý thuyết phê phán ở Hoa Kỳ]. Đức: Springer International Publishing. ISBN 3319756117.
- Saito, Kohei (2017). Karl Marx’s Ecosocialism: Capital, Nature, and the Unfinished Critique of Political Economy [Chủ nghĩa xã hội sinh thái của Karl Marx: Tư bản, Tự nhiên, và Phê phán chưa hoàn thiện về Kinh tế chính trị]. Hoa Kỳ: Monthly Review Press. ISBN 1583676406.
- Segrillo, Angelo (2017). Karl Marx: Uma biografia dialética [Karl Marx: Một tiểu sử biện chứng] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Brazil: Appris Editora. ISBN 8555079586.
- Vogel, Lise (2013). Marxism and the Oppression of Women: Toward a Unitary Theory [Chủ nghĩa Marx và sự áp bức phụ nữ: Tiến tới một lý thuyết tổng thể]. Hà Lan: Brill. ISBN 9004248951.
- Wolff, Richard D.; Resnick, Stephen A. (2012). Contending Economic Theories: Neoclassical, Keynesian, and Marxian [Tranh cãi giữa các trường phái kinh tế: Tân cổ điển, Keynesian, và Marxian]. Hoa Kỳ: MIT Press. ISBN 0262304449.
Liên kết ngoài
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Gutenberg”.
- Bản mẫu:Internet Archive author
- Bản mẫu:Librivox author
- Bản mẫu:Cite SEP
- Marx và Engels (1973). Selected Works. Quyển 1. Moskva: Progress Publishers.
- Marx và Engels (1973). Selected Works. Quyển 2. Moskva: Progress Publishers.
- Marx và Engels (1973). Selected Works. Quyển 3. Moskva: Progress Publishers.
- Marx và Engels (1982). Selected Correspondence (ấn bản thứ 3). Moskva: Progress Publishers.
- Viện Mác-Lênin của Đảng cộng sản Liên bang Xô-Viết (1989). Karl Marx: a Biography (ấn bản thứ 4). Moskva: Progress Publishers.
- Krader, Lawrence, biên tập (1974). The Ethnological Notebooks of Karl Marx (PDF) (ấn bản thứ 2). Assen: Van Gorcum.
- Kho lưu trữ các bản thảo của Karl Marx / Friedrich Engels tại Viện Lịch sử xã hội quốc tế
- Tư liệu-văn kiện C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập: Tập 1-50 trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
- "Marx", đàm thoại trên BBC Radio 4 cùng với Anthony Grayling, Francis Wheen & Gareth Stedman Jones (In Our Time, 14 tháng 7 năm 2005)
- Bài đánh giá của tờ NY Times về tác phẩm Das Kapital năm 1887
- Bản mẫu:PM20
- Trang có lỗi chú thích
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Lỗi không có mục tiêu Harv và Sfn
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Trang có lỗi kịch bản
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Thiếu trang đổi hướng
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Bài viết có văn bản tiếng Đức
- Bài viết có văn bản tiếng Anh
- Bài viết có trích dẫn không khớp
- Trang sử dụng bản mẫu nhiều hình với các hình được chia tỷ lệ tự động
- Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
- Nguồn CS1 tiếng Nga (ru)
- Nguồn CS1 tiếng Bồ Đào Nha (pt)
- Bài viết có liên kết Dự án Gutenberg
- Người vô thần
- Nhà kinh tế học Đức
- Người cộng sản
- Chủ nghĩa nhân văn
- Chủ nghĩa Marx
- Chủ nghĩa duy vật
- Nhà triết học chính trị
- Nhà cách mạng Đức
- Cách mạng 1848
- Karl Marx
- Lãnh tụ Cộng sản
- Kinh tế chính trị
- Nhà sử học Anh
- Nhà triết học Anh
- Nhà triết học vô thần
- Triết gia chính trị
- Người Đức gốc Do Thái
- Cựu sinh viên Đại học Bonn
- Nhà lý luận Mác-xít
- Nhà triết học Đức
- Sinh năm 1818
- Mất năm 1883
- Nhà kinh tế học Anh
- Nhà văn toàn cầu hóa
- Nhà xã hội học Đức
- Cộng sản
- Nhà văn từ Luân Đôn
- Người theo chủ nghĩa Marx
- Triết gia thế kỷ 19
- Chủ nghĩa chống tư bản
- Nhà phê bình tôn giáo
- Ủy viên Hiệp hội Nghệ thuật Vương thất Anh
- Chống chủ nghĩa đế quốc
- Chôn cất tại nghĩa trang Highgate
- Nhà tri thức luận
- Cựu sinh viên Đại học Humboldt Berlin
- Nhà siêu hình học
- Nhà bản thể học
- Nhà triết học khoa học
- Nhân loại học triết học