Preah Thong
| Kaundinya I | |
|---|---|
| Vị vua thứ 2 của Campuchia | |
| Tập tin:Statue of Kaundinya I and Queen Soma.jpg Tượng Soma và Kaundinya I (bên phải) | |
| Vua của Funan | |
| Tại vị | Thế kỷ 1 CN |
| Đăng quang | cuối thế kỷ 1 CN |
| Tiền nhiệm | Soma |
| Kế nhiệm | Hun Pan-huang |
| Thông tin chung | |
| Sinh | Bờ biển Kalinga |
| Mất | Phù Nam |
| Phối ngẫu | Soma |
| Hoàng tộc | Kaundinya |
| Tôn giáo | Ấn Độ giáo(Shaivism) |
Preah Thong (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) hay Kaundinya I (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., Kauṇḍinya; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), còn được gọi là Kaundanya ở Odia (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), Kaundeyan ở Tamil (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).),[1] cùng với Neang Neak (Nữ vương Soma) là những nhân vật biểu tượng trong văn hóa Khmer. Sau thời kỳ cai trị của Nữ vương Soma, Kaundinya I trở thành vị vua thứ hai của Phù Nam (trị vì từ khoảng năm 52 CN đến cuối thế kỷ I CN). Áp dụng mô hình quản trị từ Ấn Độ, họ cùng nhau thành lập vương quốc Phù Nam với kinh đô đặt tại Vyādhapura, vương quốc lâu đời nhất được ghi nhận ở Đông Nam Á, trải dài trên phần lớn khu vực đồng bằng sông Cửu Long.[2] Cuộc hôn nhân huyền thoại giữa hai người cũng được xem là nguồn gốc của phần lớn nghi thức đám cưới Khmer truyền thống.[3]
Lịch sử
Theo ghi chép giữa thế kỷ III của hai đặc sứ Đông Ngô là Khang Thái (康泰) và Chu Ứng (朱應),[4] Kaundinya (chữ Hán: 混填, Hỗn Điền) nằm mơ thấy được trao một ngọn giáo để đánh dấu lãnh thổ. Ngọn giáo rơi xuống vùng đất Phù Nam, dẫn đường cho ông du hành đến đây.[5] Tại đây, ông đánh bại nữ vương địa phương, kết hôn với bà và sáng lập ra vương tộc Phù Nam. Sau đó, Kaundinya cho xây dựng kinh đô và đổi tên nước thành 'Kambuja'.[6]
Tạp thuyết
Hỗn Điền
Sách Lương thư chép theo các báo cáo của Khang Thái và Chu Ứng, theo đó thì Phù Nam quốc được lập ra bởi một người ngoại quốc có tên là Hỗn Điền (混填). Người này đến từ Nam của Kiêu (徼) quốc (một địa điểm chưa thể xác định, có lẽ trên Bán đảo Malaysia hoặc ở quần đảo Indonesia) sau khi nằm mộng thấy vị thần bản mệnh đã chỉ cho anh ta cách tìm thấy một cây cung thần. Sau đó, anh ta theo một con tàu lênh đên trên biển cho đến khi cập bờ ở Phù Nam. Nữ vương Liễu Diệp (柳葉) của nước này muốn cướp và chiếm chiếc tàu nhưng đã bị Hỗn Điền dùng cây cung thần làm cho hoảng sợ và quy phục. Hỗn Điền sau đó đã cưới nữ vương làm vợ, rồi lên cai trị đất nước và truyền lại ngôi vị cho con trai mình.[7]
Một câu chuyện tương tự cũng được ghi chép trong sách Tấn thư do Phòng Huyền Linh biên soạn vào khoảng năm 648 sau Công nguyên. Tuy nhiên, các nhân vật trong truyện được phiên âm chữ Hán thành Hỗn Tu (混湏) và Diệp Liễu (葉柳).
Kaundinya
Một số học giả cho rằng câu nhà chinh phục Hỗn Điền trong sách Lương thư chính là một người Bà-la-môn tên là Kauṇḍinya, người đã kết hôn với một công chúa nāga (rắn) tên là Somā. Câu chuyện này được ghi lại trên một bi ký khắc bằng tiếng Phạn được tìm thấy tại Thánh địa Mỹ Sơn[7] và nó được xác định niên đại vào khoảng năm 658 sau Công nguyên. Một số học giả khác[8] lại bác bỏ giải thuyết này. Họ cho rằng từ Hỗn Điền (Hùntián) vốn chỉ có hai âm tiết, trong khi từ "Kauṇḍinya" lại có ba âm, và khả năng đặc sứ Trung Quốc sẽ không dùng phiên âm có hai âm tiết để phiên âm từ có những ba âm tiết từ một ngôn ngữ khác.[9]
Tuy nhiên, cái tên "Kaundinya" xuất hiện trong một số nguồn độc lập và dường như chỉ ra một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Phù Nam.
Trong các tài liệu chữ Hán, từ tiếng Phạn "Kaundinya", [Kauṇḍinya, Koṇḍañña, Koṇḍinya, v.v.] thường được phiên âm thành Kiều Trần Như (僑陳如).[10] Một nhân vật với tên này đã được nhắc đến trong Lương thư, sau câu chuyện của Hỗn Điền. Theo mô tả thì Kiều Trần Như là một trong những người kế vị của Thiên Trúc Chiên Đàn (天竺 旃檀), nhà cai trị của Phù Nam vào khoảng năm 357 sau Công nguyên, người đã gửi những con voi được thuần hóa để tỏ lòng thần phục Tấn Mục Đế. Cũng theo câu chuyện, Kiều Trần Như vốn là một người Bà-la-môn đến từ Ấn Độ. Một ngày nọ, anh ta đã nghe được lời phán truyền rằng mình phải đến để trị vì Phù Nam và đã đi đến nước Bàn Bàn. Người dân Phù Nam rất vui mừng đón Kiều Trần Như và tôn anh ta lên làm vua. Kiều Trần Như sau đó đã thay đổi các luật lễ cũ để phù hợp với luật lệ của Ấn Độ.
Câu chuyện tương tự về Kaundinya cũng được ghi chép vắn tắt bên bi ký khắc bằng tiếng Phạn (được đánh ký hiệu C. 96) của vua Champa Prakasadharma được tìm thấy tại Mỹ Sơn.[11][12] Một bi ký khác (được đánh ký hiệu K.5) cũng được tìm thấy tại Tháp Mười (được gọi là "Prasat Pram Loven" trong tiếng Khmer) ở tỉnh Đồng Tháp (Việt Nam) và hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, cũng ghi chép câu chuyện tương tự.[13]
Preah Thaong
Trong văn hóa dân gian Khmer, vị hoàng tử ngoại quốc được gọi là Preah Thaong và nữ vương là Neang Neak. Theo truyền thuyết thì nơi Preah Thaong cập bến là một hòn đảo được đánh dấu bởi một cây thlok khổng lồ, có nguồn gốc từ Campuchia. Trên đảo, ông tìm thấy nhà của nāgas và gặp Neang Neak, con gái của vua nāga. Anh kết hôn với cô với lời chúc phúc từ cha cô và trở về thế giới loài người. Vua nāga uống biển quanh đảo và đặt tên là "Kampuchea Thipdei", có nguồn gốc từ tiếng Phạn (Kambujādhipati) và có thể được hiểu như là "chúa tể của Campuchia". Trong một phiên bản khác, lại khẳng định rằng Preah Thaong đã chiến đấu với Neang Neak.[14][15][16]
Tường thuật
Theo truyền thuyết, tàu buôn Ấn Độ của Kaundinya từng bị lực lượng do Công chúa Soma, con gái tộc trưởng tộc Nāga cầm đầu tấn công. Dù đẩy lùi được đối phương, con tàu vẫn bị hư hại và phải tấp vào bờ sửa chữa. Cảm phục trước lòng dũng cảm của Kaundinya, Soma đã chủ động cầu hôn và được chấp nhận.[17] Cuộc hôn nhân này đã khai sinh ra vương triều cai trị Phù Nam qua nhiều thế hệ, đồng thời xác lập tính hợp pháp của hoàng gia dựa trên dòng dõi mẫu hệ. Nguồn gốc huyền thoại này cũng giải thích lý do hình tượng rắn Nāga trở thành biểu tượng cốt lõi trong văn hóa và các nghi lễ hoàng gia của Đế quốc Khmer tại Angkor sau này.[18][19][20]
Các lý thuyết hiện đại
Phát hiện ADN mới củng cố một phần thần thoại sáng tạo Khmer: mẫu di truyền tiền sử tại nghĩa địa Wat Komnou (Angkor Borei, Campuchia) sở hữu khoảng 40–50% nguồn gốc Nam Á.
Niên đại cacbon phóng xạ trên xương người (78–234 calCE) xác định cá thể này thuộc giai đoạn đầu văn hóa Phù Nam.[21]
Lịch sử hàng hải và các bản khắc cổ cho thấy Kaundinya xuất thân từ Kalinga cổ đại (nay là Odisha, Ấn Độ), vùng đất có truyền thống thương mại biển phát triển từ thế kỷ 3 TCN với cảng quốc tế Palur nổi tiếng vào thế kỷ 2 SCN.[18][22][23] Danh xưng Kaundinya vốn là một gotra (dòng họ) Bà La Môn phổ biến ở dải ven biển đông Ấn Độ. Mối liên kết giữa Kalinga và Phù Nam được thể hiện rõ qua văn bản đồng Ragolu thời vua Nandaprabhanjanavarman (triều Pitrbhakta)[24][25] cấp đất cho các Bà La Môn họ Kaundinya tại vùng núi Mahendragiri; sự tương đồng giữa tục thờ Shaiva quanh núi Mo-tan thời Jayavarman Kaundinya với tín ngưỡng Saivism tại Kalinga;[26][27] cùng hoạt động ngoại giao vào thế kỷ 3 SCN khi vua Fan Chan của Phù Nam cử sứ thần Su-Wu sang triều kiến vua Dhamadamadhara thuộc triều đại Murunda ở bắc Kalinga.[28][29][30][28]
Theo truyền thuyết khác, ông là con trai Vua Adityavamsa (Intapah), người từng bị trục xuất khỏi thành Indraprastha, Ấn Độ (nam Delhi ngày nay).[31]
Di sản
Tàu buồm hải quân Ấn Độ INSV Kaundinya đã gia nhập biên chế tại Căn cứ Karwar ngày 21 tháng 5 năm 2025. Tên tàu do ông Sanjeev Sanyal đề xuất nhằm vinh danh nhà hàng hải Ấn Độ nổi tiếng. Con tàu là bản sao thế kỷ 5 mô phỏng từ hang động Ajanta, được nghệ nhân Kerala chế tác bằng kỹ thuật đóng khâu cổ xưa sử dụng xơ dừa, gỗ, nhựa tự nhiên và buồm bông. Thiết kế tàu đậm chất di sản với biểu tượng Gandabherunda, Simha Yali và mỏ neo đá Harappan. Tàu vận hành bằng buồm vuông cùng mái chèo kéo thay cho bánh lái hiện đại, buộc thủy thủ phải dùng phương pháp định vị truyền thống. Nhằm tái hiện tuyến thương mại cổ xưa và khôi phục di sản hàng hải, INSV Kaundinya đã được lên kế hoạch cho hành trình lịch sử đến Oman vào cuối năm 2025 theo dự án hợp tác giữa Hải quân Ấn Độ, Bộ Văn hóa và Công ty Hodi Innovations.[17]
Gia phả
- Bố vợ, tên là Muma
- Tên của nữ vương là Soma.
Xem thêm
Chú thích
- ^ "SEAlang Dictionary". www.sealang.net. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2023.
- ^ "The women who made Cambodia". The Phnom Penh Post. ngày 19 tháng 5 năm 2010.
- ^ "Funan | Cambodia, Map, & Facts | Britannica". www.britannica.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
- ^ Hall, D.G.E. (1981). A History of South-East Asia, Fourth Edition. Hong Kong: Macmillan Education Ltd. tr. 25. ISBN 0-333-24163-0.
- ^ Ainslie Thomas Embree, Carol Gluck, George Sansom Professor of History Carol Gluck (1997). Asia in Western and World History: A Guide for Teaching. M.E. Sharpe Project on Asia in the Core Curriculum of Schools and Colleges (Columbia University). tr. 998. ISBN 9781563242656.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - ^ The Asia-Pacific World [liên kết hỏng]. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2013.
- ^ a b Coedès, George (1968). Walter F. Vella (biên tập). The Indianized States of Southeast Asia. trans.Susan Brown Cowing. University of Hawaii Press. ISBN 978-0-8248-0368-1.
- ^ Vickery, "Funan reviewed", p. 197
- ^ Edwin George Pulleyblank, Lexicon of reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, and early mandarin, Vancouver: UBC Press 1991, pp. 135 and 306
- ^ Hackmann, Erklären des Wörterbuch zum chinesischen Buddhismus, p. 80, s. v. Chiao-ch'ên-ju
- ^ Louis Finot,Notes d'Epigraphie XI: Les Inscriptions de Mi-so'n, p.923
- ^ Golzio, "Kauṇḍinya in Südostasien", pp. 157–165
- ^ Georges Cœdès, "Études Cambodgiennes XXV: Deux inscriptions sanskrites du Fou-nan", pp. 2–8
- ^ Rudiger Gaudes, Kaundinya, Preah Thong, and the Nagi Soma: Some Aspects of a Cambodian Legend, p. 337
- ^ Eveline Poree-Maspero, Nouvelle Etude sur la Nagi Soma, pp. 239 & 246
- ^ R. C. Majumdar, Kambuja-Desa or An Ancient Cambodian Colony in Cambodia, pp. 18–19
- ^ a b "An ancient Indian mariner, a warrior queen, and a love story — what gave INSV Kaundinya its name". The Indian Express (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2025.
- ^ a b Sanyal, Sanjeev (ngày 10 tháng 8 năm 2016). The Ocean of Churn: How the Indian Ocean Shaped Human History (bằng tiếng Anh). Penguin UK. tr. 82–84. ISBN 978-93-86057-61-7.
- ^ Tarling, Nicholas (tháng 3 năm 2008). The Cambridge History of Southeast Asia (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. ISBN 9781139055482.
- ^ Hall, DGE (ngày 14 tháng 5 năm 1981). History of South East Asia (bằng tiếng Anh). Macmillan Education UK. ISBN 9780333241646.
- ^ Changmai, Piya; Pinhasi, Ron; Pietrusewsky, Michael; Stark, Miriam T.; Ikehara-Quebral, Rona Michi; Reich, David; Flegontov, Pavel (ngày 29 tháng 12 năm 2022). "Ancient DNA from Protohistoric Period Cambodia indicates that South Asians admixed with local populations as early as 1st–3rd centuries CE". Scientific Reports (bằng tiếng Anh). 12 (1): 22507. Bibcode:2022NatSR..1222507C. doi:10.1038/s41598-022-26799-3. ISSN 2045-2322. PMC 9800559. PMID 36581666.
- ^ Sila Tripati (2002), Early Maritime Activities of Orissa on the East Coast of India: Linkages in Trade and Cultural Developments (PDF), Marine Archaeology Centre, National Institute of Oceanography, Dona Paula, Goa, truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2021
- ^ Patra, Benudhar (2013), "Ports and Port Towns of Early Odisha: Text, Archaeology and Identification", Proceedings of the Indian History Congress, 74, Indian History Congress: 54–63, JSTOR 44158798
- ^ Sunil Kumar Patnaik, Sarita Nayak (tháng 11 năm 2020), The Mountain Mahendragiri (PDF), Odisha Review, tr. 20, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2021, truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2021
- ^ Snigdha Tripathy (1997). Inscriptions of Orissa. Quyển I - Circa 5th-8th centuries A.D. Indian Council of Historical Research and Motilal Banarsidass. tr. 13. ISBN 978-81-208-1077-8.
- ^ Coedès, George (1968). The Indianized States of Southeast Asia (bằng tiếng Anh). University of Hawaii Press. tr. 61. ISBN 9780824803681.
- ^ Le, Hien (ngày 22 tháng 9 năm 2016), "Indian Values in Oc Eo Culture Case Study – Go Thap, Dong Thap Province", American Scientific Research Journal for Engineering, Technology, and Sciences, quyển 25 số 1, American Scientific Research Journal for Engineering, Technology, and Sciences (ASRJETS), tr. 174
- ^ a b Benudhar Patra (tháng 11 năm 2011), Kalinga and Funan : A Study in Ancient Relations (PDF), Orissa Review, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2023, truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2021
- ^ Pelliot, Paul (1903). "Le Fou-nan". Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient (bằng tiếng Pháp). 3: 292. doi:10.3406/befeo.1903.1216. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2021.
- ^ Coedès, George (1968). Walter F. Vella (biên tập). The Indianized States of Southeast Asia (PDF). trans.Susan Brown Cowing. University of Hawaii Press. tr. 46–47. ISBN 978-0-8248-0368-1.
- ^ Kenneth T. So. "Preah Khan Reach and The Genealogy of Khmer Kings" (PDF). Cambosastra. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
Tham khảo
- Michael Vickery, "Funan reviewed: Deconstructing the Ancients." Bulletin de l'École Française d'Extrême Orient XC-XCI (2003–2004), pp. 101–143. [1]
- Louis Finot, "Notes d'Épigraphie XI: Les Inscriptions de Mi-so'n", Bulletin de l'École Française d'Extrême Orient IV (1904), pp. 918–925
- Karl-Heinz Golzio, "Kauṇḍinya in Südostasien", in Martin Straube, Roland Steiner, Jayandra Soni, Michael Hahn and Mitsuyo Demoto (eds.) Pāsādikadānaṁ. Festschrift für Bhikkhu Pāsādika, Marburg: Indica et Tibetica Verlag 2009, pp. 157–165
- George Cœdès, "Études Cambodgiennes XXV: Deux inscriptions sanskrites du Fou-nan",Bulletin de l'École Française d'Extrême Orient XXXI (1931), pp. 1–12