Khối Warszawa
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Hiệp ước Warszawa,[lower-alpha 4] tên chính thức là Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Tương trợ,[lower-alpha 5] là một hiệp ước an ninh tập thể được Liên Xô và bảy nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa khác thuộc Khối phía Đông ở Trung và Đông Âu ký tại Warszawa, Ba Lan vào tháng 5 năm 1955. Thuật ngữ "Hiệp ước Warszawa" thường đề cập đến cả chính hiệp ước và liên minh quân sự do hiệp ước thành lập, Tổ chức Hiệp ước Warszawa.[lower-alpha 6] Hiệp ước Warszawa là khối quân sự bổ trợ cho Hội đồng Tương trợ Kinh tế, khối kinh tế của các nước thuộc Khối phía Đông.[5][6]
Dưới sự chi phối của Liên Xô, Khối Warszawa là một đối trọng của NATO và Khối phía Tây. Khối Warszawa và NATO không trực tiếp đối đầu quân sự mà đấu tranh trên mặt trận tư tưởng và thông qua chiến tranh ủy nhiệm. NATO và Khối Warszawa mở rộng, tăng cường hội nhập quân đội của các nước thành viên. Tháng 8 năm 1968, Khối Warszawa tấn công Tiệp Khắc, một trong những nước thành viên, là cuộc can thiệp quân sự lớn nhất của Khối Warszawa. Albania và Romania từ chối tham gia cuộc tấn công; Albania rút khỏi Khối Warszawa trong cùng năm. Khối Warszawa tan rã trong Cách mạng năm 1989, bắt đầu với phong trào Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan,[7] cuộc bầu cử nghị viện Ba Lan vào tháng 6 năm 1989 và Cuộc dã ngoại toàn châu Âu vào tháng 8 năm 1989.[8]
Cộng hòa Dân chủ Đức rút khỏi Khối Warszawa sau khi nước Đức tái thống nhất. Ngày 25 tháng 2 năm 1991, tại một cuộc họp ở Hungary, các bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao của sáu nước thành viên còn lại tuyên bố chấm dứt hiệp ước. Tháng 12 năm 1991, Liên Xô giải thể. Hầu hết các nước hậu Xô viết thành lập Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể vào năm 1992. Trong 20 năm tiếp theo, các nước thuộc Khối Warszawa ngoài Liên Xô gia nhập NATO (Cộng hòa Dân chủ Đức thông qua việc thống nhất với Tây Đức; Séc và Slovakia sau khi Tiệp Khắc giải thể), cũng như các nước Baltic.
Lịch sử
Nguồn gốc
Trước khi Khối Warszawa được thành lập, Tiệp Khắc nỗ lực thiết lập một hiệp ước an ninh với Cộng hòa Dân chủ Đức và Ba Lan vì phản đối, lo sợ Tây Đức tái quân sự hóa.[9] Khối Warszawa được thiết lập do Tây Đức tái vũ trang trong NATO. Liên Xô và nhiều nước châu Âu ở cả hai bên Bức màn sắt lo sợ Đức sẽ trở lại thành một cường quốc quân sự và là mối đe dọa trực tiếp. Hậu quả của chủ nghĩa quân phiệt Đức vẫn còn là ký ức mới mẻ đối với Liên Xô và Đông Âu.[10] Vì Liên Xô đã có sự hiện diện quân sự và chi phối chính trị tại các quốc gia vệ tinh Đông Âu vào năm 1955, việc thiết lập hiệp ước này được coi là "thừa thãi". Các quan chức NATO gọi liên minh là "lâu đài bằng bìa cứng" do cách thức hình thành vội vã.

Năm 1954, Liên Xô đề nghị gia nhập NATO với lý do lo sợ chủ nghĩa quân phiệt Đức được khôi phục ở Tây Đức, nhưng bị Hoa Kỳ bác bỏ.
Liên Xô yêu cầu gia nhập NATO sau Hội nghị Berlin tháng 1-tháng 2 năm 1954. Tại hội nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Molotov đề xuất tái thống nhất nước ĐứcLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. và tổ chức tổng tuyển cử thành lập một chính phủ toàn ĐứcLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. với điều kiện bốn nước chiếm đóng rút quân và Đức tuyên bố trung lập,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. nhưng bị Hoa Kỳ, Anh và Pháp bác bỏ.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Đây không phải là lần đầu tiên Liên Xô đề xuất tái thống nhất nước Đức: các cuộc đàm phán về tái thống nhất nước Đức xuất phát từ Bản ghi nhớ Stalin kết thúc sau khi Vương quốc Anh, Pháp và Hoa Kỳ khẳng định rằng một nước Đức thống nhất không nên trung lập và nên được tự do gia nhập Cộng đồng Quốc phòng châu Âu, tái vũ trang. Nhà ngoại giao người Mỹ James Dunn khẳng định rằng mục tiêu nên là "tránh thảo luận với Nga và tiến tới Cộng đồng Quốc phòng châu Âu".[11] Nhà sử học người Mỹ John Gaddis cho rằng các nước phương Tây không có hứng thú tìm hiểu đề xuất của Liên Xô.[12] Nhà sử học người Đức Rolf Steininger nhận định rằng sở dĩ đề xuất của Liên Xô bị bác bỏ chủ yếu là vì Adenauer tin rằng "trung lập hóa có nghĩa là Xô viết hóa", ám chỉ chính sách Phần Lan hóa của Liên Xô đối với Phần Lan.[13] Adenauer cũng lo sợ rằng việc tái thống nhất nước Đức có thể chấm dứt vị thế chính trị hàng đầu của Liên minh Dân chủ Kitô giáo trong Quốc hội.[14]
Molotov lo sợ rằng Cộng đồng Quốc phòng châu Âu sẽ nhắm vào Liên Xô. Ông đề xuất một hiệp ước an ninh tập thể chung đối với toàn châu Âu, cho phép tất cả các nước châu Âu gia nhập bất kể chế độ chính trị, xã hội, bao gồm nước Đức thống nhất, với chủ đích vô hiệu hóa Cộng đồng Quốc phòng châu Âu. Tuy nhiên, Anh, Pháp, Hoa Kỳ bác bỏ đề xuất này.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Không chỉ những thành phần ủng hộ mà ngay cả những thành phần phản đối Cộng đồng Quốc phòng châu Âu ở phương Tây cũng bác bỏ đề xuất của Liên Xô vì Hoa Kỳ không thể tham gia vào hệ thống an ninh tập thể châu Âu. Sau đó, Liên Xô tuyên bố sẵn sàng xem xét tham gia NATO, đồng thời nêu rõ rằng việc kết nạp Hoa Kỳ vào hiệp ước an ninh tập thể châu Âu chung không phụ thuộc vào việc ba cường quốc phương Tây đồng ý cho Liên Xô tham gia NATO. Sở dĩ Liên Xô đưa ra đề xuất mới là vì các cường quốc phương Tây coi đề xuất cũ là "nhằm chống lại Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương và giải thể nó".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Anh, Hoa Kỳ và Pháp lại bác bỏ các đề xuất của Liên Xô, bao gồm đề nghị gia nhập NATO. Tổng Thư ký NATO Hastings Ismay, một người ủng hộ mạnh mẽ việc mở rộng NATO, gọi đề nghị gia nhập NATO của Liên Xô[15] "giống như một tên trộm không hối cải yêu cầu gia nhập lực lượng cảnh sát".
Tháng 4 năm 1954, Adenauer có chuyến thăm đầu tiên tới Hoa Kỳ và hội kiến Nixon, Eisenhower và Dulles. Việc phê chuẩn Hiệp ước thành lập Cộng đồng Quốc phòng châu Âu bị trì hoãn nhưng Hoa Kỳ nói rõ với Adenauer rằng Cộng đồng Quốc phòng châu Âu sẽ phải sáp nhập vào NATO.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Những ký ức về sự chiếm đóng của Đức Quốc Xã vẫn còn mới và Pháp lo sợ về khả năng Tây Đức tái vũ trang. Ngày 30 tháng 8 năm 1954, Nghị viện Pháp bác bỏ Hiệp ước thành lập Cộng đồng Quốc phòng châu Âu, cản trở một mục tiêu chính của Hoa Kỳ đối với châu Âu là liên kết Tây Đức với phương Tây về quân sự. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bắt đầu vạch ra phương án mời Tây Đức gia nhập NATO. Trong trường hợp Pháp phản đối thì Đức sẽ tái vũ trang ngoài NATO.

Tại Hội nghị Luân Đôn và Paris vào ngày 23 tháng 10 năm 1954, Tây Đức được cho phép gia nhập NATO. Tây Đức gia nhập NATO vào ngày 9 tháng 5 năm 1955. Bộ trưởng Ngoại giao Na Uy Halvard Lange mô tả sự kiện này là "một bước ngoặt quyết định trong lịch sử lục địa của chúng ta".[16] Tháng 11 năm 1954, Liên Xô đề xuất một hiệp ước an ninh tập thể mới[17] nhằm ngăn cản việc Tây Đức tái vũ trang, nhưng thất bại.
Ngày 14 tháng 5 năm 1955, Liên Xô và bảy nước Đông Âu khác thành lập Khối Warszawa để đáp trả việc Tây Đức gia nhập NATO, tuyên bố rằng: "một nước Tây Đức được tái quân sự hóa và gia nhập khối Bắc Đại Tây Dương [...] làm tăng nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh khác và là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của các quốc gia hòa bình". Liên Xô cho phép Cộng hòa Dân chủ Đức tái vũ trang. Quân đội Nhân dân Quốc gia được thành lập để chống lại việc tái vũ trang của Tây Đức.[18]
Tháng 11 năm 1956, Liên Xô tấn công Hungary, một nước thành viên Khối Warszawa, nhằm đàn áp cuộc Cách mạng Hungary. Sau đó, Liên Xô ký các hiệp ước song phương thời hạn 20 năm với Ba Lan (17 tháng 12 năm 1956), Cộng hòa Dân chủ Đức (12 tháng 3 năm 1957), Romania (15 tháng 4 năm 1957; Liên Xô sau đó rút quân trong quá trình phi vệ tinh hóa Romania) và Hungary (27 tháng 5 năm 1957)[19] để đảm bảo khả năng triển khai quân đội ở các nước này.
Chiến tranh Lạnh
Trong 36 năm, NATO và Khối Warszwa không trực tiếp gây chiến với nhau ở châu Âu. Hoa Kỳ, Liên Xô và các đồng minh thực hiện các chính sách, chiến lược nhằm kiềm chế nhau ở châu Âu, đồng thời tiến hành chiến tranh ủy nhiệm trên trường quốc tế. Những cuộc chiến này bao gồm Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Việt Nam, Sự kiện Vịnh Con Lợn, Chiến tranh bẩn thỉu, Chiến tranh biên giới Việt Nam – Campuchia và những cuộc chiến khác.[21]
Lục quân Liên Xô thành lập, chỉ đạo các quân đội Đông Âu theo hình mẫu của mình và định hình chúng cho khả năng đối đầu với NATO. Sau năm 1956, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev giảm biên chế Lục quân để xây dựng Lực lượng Tên lửa Chiến lược và năng lực vũ khí hạt nhân. Năm 1957, Khrushchyov cách chức Nguyên soái Georgy Zhukov khỏi Bộ Chính trị vì phản đối việc giảm biên chế Lục quân.[22] Liên Xô và Khối Warszawa nhiều lần diễn tập việc sử dụng vũ khí hạt nhân quy mô lớn trong các cuộc tập trận xâm lược, chẳng hạn như cuộc tập trận Tiệp Khắc năm 1964 và cuộc tập trận Bảy ngày tới sông Rhine năm 1979.[23] Tuy nhiên, phải đến giữa thập niên 1980 thì Liên Xô mới có đủ vũ khí hạt nhân cấp chiến trường để thực hiện kế hoạch tác chiến.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị các kế hoạch xâm lược Tây Âu. Quy mô của kế hoạch này được công bố sau khi các nhà nghiên cứu tiếp cận được các hồ sơ của Khối phía Đông sau khi Liên Xô giải thể.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.[24]
Sau khi Hungary tuyên bố rút khỏi Khối Warszawa, Liên Xô tấn công Hungary và lật đổ chính phủ vào năm 1956.[25] Lực lượng Vũ trang Liên Xô đàn áp cuộc Cách mạng Hungary, khiến khoảng 2.500 người Hungary thiệt mạng.[26]
Tháng 8 năm 1968, Khối Warszawa tấn công Tiệp Khắc, một nước thành viên, là chiến dịch quân sự chung duy nhất của Khối Warszawa.[27] Tất cả các nước thành viên, ngoại trừ Romania và Albania, đều tham gia cuộc tấn công, trong khi Cộng hòa Dân chủ Đức chỉ cung cấp sự hỗ trợ tối thiểu. Albania rút khỏi Khối Warszawa một tháng sau cuộc tấn công.
Tan rã
Cách mạng năm 1989 lật đổ các chính phủ cộng sản của các nước thuộc Khối Warszawa, khởi đầu từ cuộc dã ngoại toàn châu Âu vào tháng 8 năm 1989. Tuy chính phủ phi cộng sản mới của Ba Lan dưới Lech Wałęsa ban đầu cam kết với Liên Xô sẽ tiếp tục tham gia Khối Warszawa,[28] nhưng sự liên kết của Khối phía Đông đã bị phá vỡ. Các chính sách glasnost và perestroika bộc lộ những thiếu sót và thất bại trong chế độ chính trị, kinh tế của Liên Xô, dẫn đến Liên Xô giải thể vào năm 1991.
Ngày 25 tháng 2 năm 1991, các bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao từ những nước thành viên còn lại tuyên bố giải thể Khối Warszawa. Ngày 1 tháng 7 năm 1991, Tổng thống Tiệp Khắc Václav Havel chính thức chấm dứt Hiệp ước Warszawa. Liên Xô giải thể vào tháng 12 năm 1991.
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Khối Warszawa gồm Ủy ban Tham vấn chính trị và Bộ Tư lệnh Liên hợp Lực lượng Vũ trang Khối. Ủy ban Tham vấn chính trị xử lý các vấn đề chính trị, Bộ Tư lệnh Liên hợp kiểm soát các lực lượng đa quốc gia, có trụ sở chính tại Warszawa, Ba Lan.
Tuy có vẻ là một liên minh an ninh tập thể tương tự, nhưng Khối Warszawa khác biệt đáng kể so với NATO. De jure, các nước thành viên Khối Warszawa cam kết bảo vệ lẫn nhau nếu một thành viên bị tấn công, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và tôn trọng chủ quyền quốc gia, độc lập chính trị của nhau.[29]
Trên thực tế, Khối Warszawa phản ánh vai trò chủ đạo của Liên Xô trong Khối phía Đông, khác hoàn toàn vai trò của Hoa Kỳ trong Khối phía Tây. Tất cả các tư lệnh Khối Warszawa đều là sĩ quan cấp cao của Lực lượng Vũ trang Liên Xô và không có nhiệm kỳ cố định: Tư lệnh Tối cao Lực lượng Vũ trang Thống nhất luôn là thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô, Tham mưu trưởng Liên hợp Lực lượng Vũ trang Thống nhất luôn là phó tổng tham mưu trưởng thứ nhất Lực lượng Vũ trang Liên Xô. Trái lại, tổng thư ký NATO và chủ tịch Ủy ban Quân sự NATO là những chức vụ có nhiệm kỳ cố định, do tất cả các nước thành viên luân phiên giữ trên cơ sở ngẫu nhiên thông qua sự đồng thuận.
Tuy Hoa Kỳ có vai trò chi phối về quân sự và kinh tế trong NATO, quyết định của NATO phải được Hội đồng Bắc Đại Tây Dương nhất trí thông qua. Trái lại trong Khối Warszawa, Liên Xô tự ra các quyết định cuối cùng; những nước thành viên khác không có quyền bình đẳng trong việc đàm phán gia nhập hiệp ước hay tham gia quyết định trong Khối Warszawa.
Trên danh nghĩa là một liên minh "phòng thủ", chức năng chính của Khối Warszawa là bảo vệ bá quyền của Liên Xô tại các nước vệ tinh Đông Âu. Những can thiệp quân sự trực tiếp duy nhất của Khối Warszawa là tấn công chính những nước thành viên cố gắng rời khỏi hiệp ước.[30]
Thành viên

Các nước thành viên sáng lập Khối Warszawa bao gồm:[31]
- Bản mẫu:Flagicon/core Cộng hòa Nhân dân Albania (ngừng ủng hộ vào năm 1961 do chia rẽ Albania – Liên Xô, rút khỏi hiệp ước vào ngày 13 tháng 9 năm 1968)
- Bản mẫu:Country data People's Republic of Bulgaria Cộng hòa Nhân dân Bulgaria
- Bản mẫu:Flagicon/core Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
- Tập tin:Flag of East Germany.svg Cộng hòa Dân chủ Đức (rút khỏi hiệp ước vào ngày 24 tháng 9 năm 1990 để chuẩn bị cho tái thống nhất nước Đức, với sự đồng ý của Liên Xô)[32][33][34][35]
- Bản mẫu:Country data HPR Cộng hòa Nhân dân Hungary (rút khỏi hiệp ước từ ngày 1–4 tháng 11 năm 1956 trong Cách mạng Hungary)
- Bản mẫu:Country data PPR Cộng hòa Nhân dân Ba Lan
- Bản mẫu:Country data RSR Cộng hòa Nhân dân Romania (nước thành viên Khối Warszawa duy nhất không phải là nước vệ tinh của Liên Xô từ đầu thập niên 1960)
Liên Xô
Quan sát viên
Bản mẫu:Country data MPR: Tháng 7 năm 1963, Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ nộp đơn xin gia nhập Khối Warszawa. Do chia rẽ Trung – Xô, Mông Cổ chỉ được cấp quy chế quan sát viên. Romania phủ quyết việc kết nạp Mông Cổ vào Khối Warszawa, lần đầu tiên một đề xuất của Liên Xô bị một nước không lệ thuộc Liên Xô trong Khối Warszawa bác bỏ.[36][37] Năm 1966, Liên Xô đồng ý đóng quân tại Mông Cổ theo yêu cầu của chính phủ Mông Cổ.[38]
Ban đầu, Trung Quốc, Cộng hòa Dân chủ Nhân Triều Tiên và Việt Nam Dân chủ Công hòa có tư cách quan sát viên trong Khối Warszawa.[39] Năm 1961, Trung Quốc chấm dứt tư cách quan sát viên do chia rẽ Albania-Liên Xô, Trung Quốc ủng hộ Albania như một phần của chia rẽ Trung-Xô vào đầu thập niên 1960.[40]
Romania và Albania
Sau khi Albania rút khỏi Khối Warszawa, Romania là nước thành viên duy nhất có học thuyết quân sự độc lập, không cho phép Liên Xô sử dụng lực lượng vũ trang của mình và không lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung cấp thiết bị quân sự của Liên Xô.[41] Romania là nước thành viên duy nhất không có nghĩa vụ phải bảo vệ Liên Xô về mặt quân sự trong trường hợp bị tấn công.[42] Bulgaria và Romania là hai nước thành viên duy nhất không có lực lượng đồn trú Liên Xô trên lãnh thổ.[43] Tháng 12 năm 1964, Romania trở thành nước thành viên duy nhất (ngoại trừ Albania) không có cố vấn Liên Xô, bao gồm những cố vấn tình báo và an ninh.[44] Romania không chỉ từ chối tham gia vào các hoạt động chung với KGB mà còn thành lập các cơ quan phản gián chống KGB.[45]
Chiến lược
Chiến lược của Liên Xô khi thành lập Khối Warszawa là ngăn chặn kẻ thù của Liên Xô dùng Trung Âu và Đông Âu làm căn cứ tấn công. Về mặt hệ tư tưởng, Liên Xô tự cho mình quyền định hình chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và lãnh đạo phong trào xã hội chủ nghĩa quốc tế, bao gồm quyền can thiệp quân sự vào một nước "vi phạm" chủ nghĩa xã hội, tức là thoát ly khỏi phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô, được nêu rõ trong Học thuyết Brezhnev.[46]
Các cuộc tập trận đáng chú ý
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.
| Tập tin:Nuvola apps kaboodle.svg Czechoslovak Military Parade "Shield-84" – Vojenská přehlídka ČSLA "Štít-84 |
- "Szczecin" (Ba Lan, 1962)
- "Vltava" (Tiệp Khắc, 1966)
- Chiến dịch "Rhodope" (Bulgaria, 1967)
- "Oder-Neisse" (Cộng hòa Dân chủ Đức, 1969)
- Lá chắn 72 (Tiệp Khắc, 1972)
- Lá chắn 82 (Bulgaria, 1982)[47]
- "Bảy ngày tới sông Rhine" (một cuộc diễn tập sở chỉ huy không có hoạt động thực địa, 1979)
- Przyjaźń 84 (Ba Lan, 1984)
- Lá chắn 84 (Tiệp Khắc, 1984)[48]
Tương quan lực lượng NATO và Khối Warszawa
| Ước tính của NATO | Ước tính của Khối Warszawa | |||
|---|---|---|---|---|
| Khí tài quân sự | NATO | Khối Warszawa | NATO | Khối Warszawa |
| Quân số | 2.213.593 | 3.090.000 | 3.660.200 | 3.573.100 |
| Máy bay chiến đấu | 3.977 | 8.250 | 7.130 | 7.876 |
| Máy bay tấn công tổng lực | NA | NA | 4.075 | 2.783 |
| Máy bay trực thăng | 2.419 | 3.700 | 5.720 | 2.785 |
| Bệ phóng tên lửa chiến thuật | NA | NA | 136 | 1.608 |
| Xe tăng | 16.424 | 51.500 | 30.690 | 59.470 |
| Vũ khí chống tăng | 18.240 | 44.200 | 18.070 | 11.465 |
| Xe chiến đấu bộ binh bọc thép | 4.153 | 22.400 | 46.900 | 70.330 |
| Pháo binh | 14.458 | 43.400 | 57.060 | 71.560 |
| Các loại xe bọc thép khác | 35.351 | 71.000 | ||
| Cầu phóng xe bọc thép | 454 | 2.550 | ||
| Hệ thống phòng không | 10.309 | 24.400 | ||
| Tàu ngầm | 200 | 228 | ||
| Tàu ngầm (chạy bằng năng lượng hạt nhân) | 76 | 80 | ||
| Tàu mặt nước cỡ lớn | 499 | 102 | ||
| Tàu chở máy bay | 15 | 2 | ||
| Tàu chở máy bay được trang bị tên lửa hành trình | 274 | 23 | ||
| Tàu chiến đổ bộ | 84 | 24 | ||
Hậu tan rã
Ngày 12 tháng 3 năm 1999, Séc, Hungary và Ba Lan gia nhập NATO. Bulgaria, Estonia, Latvia, Litva, Romania, Slovenia và Slovakia gia nhập NATO vào tháng 3 năm 2004. Croatia và Albania gia nhập NATO vào ngày 1 tháng 4 năm 2009.[50][51]
Năm 1992, Nga và một số nước hậu Xô viết khác thành lập Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể. Năm 1996, Nga, Trung Quốc và ba nước hậu Xô viết thành lập Nhóm Năm nước Thượng Hải, đổi tên thành Tổ chức Hợp tác Thượng Hải sau khi kết nạp Uzbekistan vào năm 2001.[52]
Xem thêm
Ghi chú
- ^ De facto bị trục xuất vào năm 1961 do chia rẽ Albania – Liên Xô, chính thức rút khỏi Khối Warszawa vào năm 1968.
- ^ Chính thức rút khỏi Khối Warszawa vào năm 1990.
- ^ Nước thành viên không lệ thuộc Liên Xô của Khối Warszawa, sau khi phi vệ tinh hóa vào đầu thập niên 1960.[1][2]
- ^ * Bản mẫu:Langx,[3]
- ^ * Bản mẫu:Langx,
- ^ * Bản mẫu:Langx (ОВД),
- Bản mẫu:Langx (VMT),
- Bản mẫu:Langx (АВД),
- Bản mẫu:Langx (ОВД),
- Bản mẫu:Langx (OVS),
- Bản mẫu:Langx (OWV),
- Bản mẫu:Langx (VLO),
- Bản mẫu:Langx (ВКҰ, VKU),
- Bản mẫu:Langx (VLO),
- Bản mẫu:Langx (VSO),
- Bản mẫu:Langx (ВКУ),
- Bản mẫu:Langx (OUW),
- Bản mẫu:Langx (OVZ),
- Bản mẫu:Langx (ОВД),
- Bản mẫu:Langx (ВШТ, VShT)
Tham khảo
Trích dẫn
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên:0 - ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên:1 - ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
Thư mục
Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Bản mẫu:Country study
Đọc thêm
Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật.
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value). This book presents an overview of all the Warsaw Pact armed forces as well as a section on Soviet strategy, a model land campaign which the Soviet Union could have conducted against NATO and a full-colour section on the uniforms, nations, badges and rank-insignia of the Warsaw Pact. (Later CWIHP, Heuser, and CIA FOIA documents present a much better picture of Soviet plans.)
- redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
- Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
Tác phẩm không dùng tiếng Anh
Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.
- Bản mẫu:Ill. Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- Bản mẫu:Ill. Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- Original edition: Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
Hồi ký
Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.
- Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
Liên kết ngoài
- Đã hết thời gian dành để chạy kịch bản.
- The Woodrow Wilson Center Cold War International History Project's Warsaw Pact Document Collection
- Parallel History Project on Cooperative Security
- Library of Congress / Federal Research Division / Country Studies / Area Handbook Series / Soviet Union / Appendix C: The Warsaw Pact (1989)
- Map of Russia and the Warsaw Pact (omniatlas.com)
- Soviet Nuclear Weapons in Hungary 1961–1991
- The Warsaw Pact, 1955–1968 by Hugh Collins Embry. Contain extensive documentation of the Pact's first 13 years.
- Trang có lỗi kịch bản
- Trang có lỗi bảng kiểu bản mẫu
- Trang có lỗi chú thích
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Hiệp ước của Cộng hòa Nhân dân Ba Lan
- Hiệp ước của Cộng hòa Nhân dân Xã hội chủ nghĩa Albania
- Hiệp ước của Cộng hòa Nhân dân Bulgaria
- Hiệp ước thành lập tổ chức liên chính phủ
- Hiệp ước được ký năm 1955
- Quan hệ Ba Lan-Liên Xô
- Liên minh quân sự liên quan tới România
- Liên minh quân sự liên quan tới Ba Lan
- Liên minh quân sự liên quan tới Hungary
- Liên minh quân sự liên quan tới Bulgaria
- Chủ nghĩa Marx–Lenin
- Chủ nghĩa đế quốc
- Chủ nghĩa thực dân mới
- Chính trị Liên Xô
- Châu Âu hiện đại
- Tổ chức chính trị quốc tế
- Tổ chức quân sự quốc tế
- Lịch sử Ba Lan (1989-nay)
- Tổ chức quốc tế đã giải thể
- Quan hệ ngoại giao của Liên Xô
- Khối phía Đông
- Hiệp ước Chiến tranh Lạnh
- Tổ chức chiến tranh Lạnh
- Thuật ngữ Chiến tranh Lạnh
- Liên minh quân sự thế kỷ 20
- Chính trị năm 1991
- Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
- Nguồn CS1 tiếng Đức (de)
- Source attribution
- Nguồn CS1 tiếng Ý (it)
- Nguồn CS1 tiếng Nga (ru)
- Bài viết có văn bản tiếng Romania
- Bài viết có văn bản tiếng Hungary
- Bài viết có văn bản tiếng Gruzia
- Bài viết có văn bản tiếng Armenia
- Bài viết có văn bản tiếng Albania
- Bài viết có văn bản tiếng Uzbek
- Bài viết có văn bản tiếng Ukraina
- Bài viết có văn bản tiếng Slovak
- Bài viết có văn bản tiếng Ba Lan
- Bài viết có văn bản tiếng Kyrgyz
- Bài viết có văn bản tiếng Litva
- Bài viết có văn bản tiếng Latvia
- Bài viết có văn bản tiếng Kazakh
- Bài viết có văn bản tiếng Estonia
- Bài viết có văn bản tiếng Đức
- Bài viết có văn bản tiếng Séc
- Bài viết có văn bản tiếng Bulgaria
- Bài viết có văn bản tiếng Belarus
- Bài viết có văn bản tiếng Azerbaijan
- Trang sử dụng bản mẫu nhiều hình với các hình được chia tỷ lệ tự động
- Pages using infobox country or infobox former country with the symbol caption or type parameters
- Bài viết có văn bản tiếng Nga