Khối Warszawa
Hiệp ước Warszawa,[lower-alpha 4] tên chính thức là Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Tương trợ,[lower-alpha 5] là một hiệp ước an ninh tập thể được Liên Xô và bảy nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa khác thuộc Khối phía Đông ở Trung và Đông Âu ký tại Warszawa, Ba Lan vào tháng 5 năm 1955. Thuật ngữ "Hiệp ước Warszawa" thường đề cập đến cả chính hiệp ước và liên minh quân sự do hiệp ước thành lập, Tổ chức Hiệp ước Warszawa.[lower-alpha 6] Hiệp ước Warszawa là khối quân sự bổ trợ cho Hội đồng Tương trợ Kinh tế, khối kinh tế của các nước thuộc Khối phía Đông.[5][6]
Dưới sự chi phối của Liên Xô, Khối Warszawa là một đối trọng của NATO và Khối phía Tây. Khối Warszawa và NATO không trực tiếp đối đầu quân sự mà đấu tranh trên mặt trận tư tưởng và thông qua chiến tranh ủy nhiệm. NATO và Khối Warszawa mở rộng, tăng cường hội nhập quân đội của các nước thành viên. Tháng 8 năm 1968, Khối Warszawa tấn công Tiệp Khắc, một trong những nước thành viên, là cuộc can thiệp quân sự lớn nhất của Khối Warszawa. Albania và Romania từ chối tham gia cuộc tấn công; Albania rút khỏi Khối Warszawa trong cùng năm. Khối Warszawa tan rã trong Cách mạng năm 1989, bắt đầu với phong trào Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan,[7] cuộc bầu cử nghị viện Ba Lan vào tháng 6 năm 1989 và Cuộc dã ngoại toàn châu Âu vào tháng 8 năm 1989.[8]
Cộng hòa Dân chủ Đức rút khỏi Khối Warszawa sau khi nước Đức tái thống nhất. Ngày 25 tháng 2 năm 1991, tại một cuộc họp ở Hungary, các bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao của sáu nước thành viên còn lại tuyên bố chấm dứt hiệp ước. Tháng 12 năm 1991, Liên Xô giải thể. Hầu hết các nước hậu Xô viết thành lập Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể vào năm 1992. Trong 20 năm tiếp theo, các nước thuộc Khối Warszawa ngoài Liên Xô gia nhập NATO (Cộng hòa Dân chủ Đức thông qua việc thống nhất với Tây Đức; Séc và Slovakia sau khi Tiệp Khắc giải thể), cũng như các nước Baltic.
Lịch sử
Nguồn gốc
Trước khi Khối Warszawa được thành lập, Tiệp Khắc nỗ lực thiết lập một hiệp ước an ninh với Cộng hòa Dân chủ Đức và Ba Lan vì phản đối, lo sợ Tây Đức tái quân sự hóa.[9] Khối Warszawa được thiết lập do Tây Đức tái vũ trang trong NATO. Liên Xô và nhiều nước châu Âu ở cả hai bên Bức màn sắt lo sợ Đức sẽ trở lại thành một cường quốc quân sự và là mối đe dọa trực tiếp. Hậu quả của chủ nghĩa quân phiệt Đức vẫn còn là ký ức mới mẻ đối với Liên Xô và Đông Âu.[10] Vì Liên Xô đã có sự hiện diện quân sự và chi phối chính trị tại các quốc gia vệ tinh Đông Âu vào năm 1955, việc thiết lập hiệp ước này được coi là "thừa thãi". Các quan chức NATO gọi liên minh là "lâu đài bằng bìa cứng" do cách thức hình thành vội vã.
Năm 1954, Liên Xô đề nghị gia nhập NATO với lý do lo sợ chủ nghĩa quân phiệt Đức được khôi phục ở Tây Đức, nhưng bị Hoa Kỳ bác bỏ.
Liên Xô yêu cầu gia nhập NATO sau Hội nghị Berlin tháng 1-tháng 2 năm 1954. Tại hội nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Molotov đề xuất tái thống nhất nước Đức[11] và tổ chức tổng tuyển cử thành lập một chính phủ toàn Đức[12] với điều kiện bốn nước chiếm đóng rút quân và Đức tuyên bố trung lập,[13] nhưng bị Hoa Kỳ, Anh và Pháp bác bỏ.[14] Đây không phải là lần đầu tiên Liên Xô đề xuất tái thống nhất nước Đức: các cuộc đàm phán về tái thống nhất nước Đức xuất phát từ Bản ghi nhớ Stalin kết thúc sau khi Vương quốc Anh, Pháp và Hoa Kỳ khẳng định rằng một nước Đức thống nhất không nên trung lập và nên được tự do gia nhập Cộng đồng Quốc phòng châu Âu, tái vũ trang. Nhà ngoại giao người Mỹ James Dunn khẳng định rằng mục tiêu nên là "tránh thảo luận với Nga và tiến tới Cộng đồng Quốc phòng châu Âu".[15] Nhà sử học người Mỹ John Gaddis cho rằng các nước phương Tây không có hứng thú tìm hiểu đề xuất của Liên Xô.[16] Nhà sử học người Đức Rolf Steininger nhận định rằng sở dĩ đề xuất của Liên Xô bị bác bỏ chủ yếu là vì Adenauer tin rằng "trung lập hóa có nghĩa là Xô viết hóa", ám chỉ chính sách Phần Lan hóa của Liên Xô đối với Phần Lan.[17] Adenauer cũng lo sợ rằng việc tái thống nhất nước Đức có thể chấm dứt vị thế chính trị hàng đầu của Liên minh Dân chủ Kitô giáo trong Quốc hội.[18]
Molotov lo sợ rằng Cộng đồng Quốc phòng châu Âu sẽ nhắm vào Liên Xô. Ông đề xuất một hiệp ước an ninh tập thể chung đối với toàn châu Âu, cho phép tất cả các nước châu Âu gia nhập bất kể chế độ chính trị, xã hội, bao gồm nước Đức thống nhất, với chủ đích vô hiệu hóa Cộng đồng Quốc phòng châu Âu. Tuy nhiên, Anh, Pháp, Hoa Kỳ bác bỏ đề xuất này.[19]
Không chỉ những thành phần ủng hộ mà ngay cả những thành phần phản đối Cộng đồng Quốc phòng châu Âu ở phương Tây cũng bác bỏ đề xuất của Liên Xô vì Hoa Kỳ không thể tham gia vào hệ thống an ninh tập thể châu Âu. Sau đó, Liên Xô tuyên bố sẵn sàng xem xét tham gia NATO, đồng thời nêu rõ rằng việc kết nạp Hoa Kỳ vào hiệp ước an ninh tập thể châu Âu chung không phụ thuộc vào việc ba cường quốc phương Tây đồng ý cho Liên Xô tham gia NATO. Sở dĩ Liên Xô đưa ra đề xuất mới là vì các cường quốc phương Tây coi đề xuất cũ là "nhằm chống lại Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương và giải thể nó".[20] Anh, Hoa Kỳ và Pháp lại bác bỏ các đề xuất của Liên Xô, bao gồm đề nghị gia nhập NATO. Tổng Thư ký NATO Hastings Ismay, một người ủng hộ mạnh mẽ việc mở rộng NATO, gọi đề nghị gia nhập NATO của Liên Xô[21] "giống như một tên trộm không hối cải yêu cầu gia nhập lực lượng cảnh sát".
Tháng 4 năm 1954, Adenauer có chuyến thăm đầu tiên tới Hoa Kỳ và hội kiến Nixon, Eisenhower và Dulles. Việc phê chuẩn Hiệp ước thành lập Cộng đồng Quốc phòng châu Âu bị trì hoãn nhưng Hoa Kỳ nói rõ với Adenauer rằng Cộng đồng Quốc phòng châu Âu sẽ phải sáp nhập vào NATO.[22]
Những ký ức về sự chiếm đóng của Đức Quốc Xã vẫn còn mới và Pháp lo sợ về khả năng Tây Đức tái vũ trang. Ngày 30 tháng 8 năm 1954, Nghị viện Pháp bác bỏ Hiệp ước thành lập Cộng đồng Quốc phòng châu Âu, cản trở một mục tiêu chính của Hoa Kỳ đối với châu Âu là liên kết Tây Đức với phương Tây về quân sự. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bắt đầu vạch ra phương án mời Tây Đức gia nhập NATO. Trong trường hợp Pháp phản đối thì Đức sẽ tái vũ trang ngoài NATO.
Tại Hội nghị Luân Đôn và Paris vào ngày 23 tháng 10 năm 1954, Tây Đức được cho phép gia nhập NATO. Tây Đức gia nhập NATO vào ngày 9 tháng 5 năm 1955. Bộ trưởng Ngoại giao Na Uy Halvard Lange mô tả sự kiện này là "một bước ngoặt quyết định trong lịch sử lục địa của chúng ta".[23] Tháng 11 năm 1954, Liên Xô đề xuất một hiệp ước an ninh tập thể mới[24] nhằm ngăn cản việc Tây Đức tái vũ trang, nhưng thất bại.
Ngày 14 tháng 5 năm 1955, Liên Xô và bảy nước Đông Âu khác thành lập Khối Warszawa để đáp trả việc Tây Đức gia nhập NATO, tuyên bố rằng: "một nước Tây Đức được tái quân sự hóa và gia nhập khối Bắc Đại Tây Dương [...] làm tăng nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh khác và là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của các quốc gia hòa bình". Liên Xô cho phép Cộng hòa Dân chủ Đức tái vũ trang. Quân đội Nhân dân Quốc gia được thành lập để chống lại việc tái vũ trang của Tây Đức.[25]
Tháng 11 năm 1956, Liên Xô tấn công Hungary, một nước thành viên Khối Warszawa, nhằm đàn áp cuộc Cách mạng Hungary. Sau đó, Liên Xô ký các hiệp ước song phương thời hạn 20 năm với Ba Lan (17 tháng 12 năm 1956), Cộng hòa Dân chủ Đức (12 tháng 3 năm 1957), Romania (15 tháng 4 năm 1957; Liên Xô sau đó rút quân trong quá trình phi vệ tinh hóa Romania) và Hungary (27 tháng 5 năm 1957)[26] để đảm bảo khả năng triển khai quân đội ở các nước này.
Chiến tranh Lạnh
Trong 36 năm, NATO và Khối Warszwa không trực tiếp gây chiến với nhau ở châu Âu. Hoa Kỳ, Liên Xô và các đồng minh thực hiện các chính sách, chiến lược nhằm kiềm chế nhau ở châu Âu, đồng thời tiến hành chiến tranh ủy nhiệm trên trường quốc tế. Những cuộc chiến này bao gồm Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Việt Nam, Sự kiện Vịnh Con Lợn, Chiến tranh bẩn thỉu, Chiến tranh biên giới Việt Nam – Campuchia và những cuộc chiến khác.[28]
Lục quân Liên Xô thành lập, chỉ đạo các quân đội Đông Âu theo hình mẫu của mình và định hình chúng cho khả năng đối đầu với NATO. Sau năm 1956, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev giảm biên chế Lục quân để xây dựng Lực lượng Tên lửa Chiến lược và năng lực vũ khí hạt nhân. Năm 1957, Khrushchyov cách chức Nguyên soái Georgy Zhukov khỏi Bộ Chính trị vì phản đối việc giảm biên chế Lục quân.[29] Liên Xô và Khối Warszawa nhiều lần diễn tập việc sử dụng vũ khí hạt nhân quy mô lớn trong các cuộc tập trận xâm lược, chẳng hạn như cuộc tập trận Tiệp Khắc năm 1964 và cuộc tập trận Bảy ngày tới sông Rhine năm 1979.[30] Tuy nhiên, phải đến giữa thập niên 1980 thì Liên Xô mới có đủ vũ khí hạt nhân cấp chiến trường để thực hiện kế hoạch tác chiến.[31] Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị các kế hoạch xâm lược Tây Âu. Quy mô của kế hoạch này được công bố sau khi các nhà nghiên cứu tiếp cận được các hồ sơ của Khối phía Đông sau khi Liên Xô giải thể.[32][33]
Sau khi Hungary tuyên bố rút khỏi Khối Warszawa, Liên Xô tấn công Hungary và lật đổ chính phủ vào năm 1956.[34] Lực lượng Vũ trang Liên Xô đàn áp cuộc Cách mạng Hungary, khiến khoảng 2.500 người Hungary thiệt mạng.[35]
Tháng 8 năm 1968, Khối Warszawa tấn công Tiệp Khắc, một nước thành viên, là chiến dịch quân sự chung duy nhất của Khối Warszawa.[36] Tất cả các nước thành viên, ngoại trừ Romania và Albania, đều tham gia cuộc tấn công, trong khi Cộng hòa Dân chủ Đức chỉ cung cấp sự hỗ trợ tối thiểu. Albania rút khỏi Khối Warszawa một tháng sau cuộc tấn công.
Tan rã
Cách mạng năm 1989 lật đổ các chính phủ cộng sản của các nước thuộc Khối Warszawa, khởi đầu từ cuộc dã ngoại toàn châu Âu vào tháng 8 năm 1989. Tuy chính phủ phi cộng sản mới của Ba Lan dưới Lech Wałęsa ban đầu cam kết với Liên Xô sẽ tiếp tục tham gia Khối Warszawa,[37] nhưng sự liên kết của Khối phía Đông đã bị phá vỡ. Các chính sách glasnost và perestroika bộc lộ những thiếu sót và thất bại trong chế độ chính trị, kinh tế của Liên Xô, dẫn đến Liên Xô giải thể vào năm 1991.
Ngày 25 tháng 2 năm 1991, các bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao từ những nước thành viên còn lại tuyên bố giải thể Khối Warszawa. Ngày 1 tháng 7 năm 1991, Tổng thống Tiệp Khắc Václav Havel chính thức chấm dứt Hiệp ước Warszawa. Liên Xô giải thể vào tháng 12 năm 1991.
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Khối Warszawa gồm Ủy ban Tham vấn chính trị và Bộ Tư lệnh Liên hợp Lực lượng Vũ trang Khối. Ủy ban Tham vấn chính trị xử lý các vấn đề chính trị, Bộ Tư lệnh Liên hợp kiểm soát các lực lượng đa quốc gia, có trụ sở chính tại Warszawa, Ba Lan.
Tuy có vẻ là một liên minh an ninh tập thể tương tự, nhưng Khối Warszawa khác biệt đáng kể so với NATO. De jure, các nước thành viên Khối Warszawa cam kết bảo vệ lẫn nhau nếu một thành viên bị tấn công, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và tôn trọng chủ quyền quốc gia, độc lập chính trị của nhau.[38]
Trên thực tế, Khối Warszawa phản ánh vai trò chủ đạo của Liên Xô trong Khối phía Đông, khác hoàn toàn vai trò của Hoa Kỳ trong Khối phía Tây. Tất cả các tư lệnh Khối Warszawa đều là sĩ quan cấp cao của Lực lượng Vũ trang Liên Xô và không có nhiệm kỳ cố định: Tư lệnh Tối cao Lực lượng Vũ trang Thống nhất luôn là thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô, Tham mưu trưởng Liên hợp Lực lượng Vũ trang Thống nhất luôn là phó tổng tham mưu trưởng thứ nhất Lực lượng Vũ trang Liên Xô. Trái lại, tổng thư ký NATO và chủ tịch Ủy ban Quân sự NATO là những chức vụ có nhiệm kỳ cố định, do tất cả các nước thành viên luân phiên giữ trên cơ sở ngẫu nhiên thông qua sự đồng thuận.
Tuy Hoa Kỳ có vai trò chi phối về quân sự và kinh tế trong NATO, quyết định của NATO phải được Hội đồng Bắc Đại Tây Dương nhất trí thông qua. Trái lại trong Khối Warszawa, Liên Xô tự ra các quyết định cuối cùng; những nước thành viên khác không có quyền bình đẳng trong việc đàm phán gia nhập hiệp ước hay tham gia quyết định trong Khối Warszawa.
Trên danh nghĩa là một liên minh "phòng thủ", chức năng chính của Khối Warszawa là bảo vệ bá quyền của Liên Xô tại các nước vệ tinh Đông Âu. Những can thiệp quân sự trực tiếp duy nhất của Khối Warszawa là tấn công chính những nước thành viên cố gắng rời khỏi hiệp ước.[39]
Thành viên
Các nước thành viên sáng lập Khối Warszawa bao gồm:[40]
- Bản mẫu:Country data Albania Cộng hòa Nhân dân Albania (ngừng ủng hộ vào năm 1961 do chia rẽ Albania – Liên Xô, rút khỏi hiệp ước vào ngày 13 tháng 9 năm 1968)
- Bản mẫu:Country data People's Republic of Bulgaria Cộng hòa Nhân dân Bulgaria
- Bản mẫu:Country data Czechoslovakia Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
- Bản mẫu:Country data Đông Đức (rút khỏi hiệp ước vào ngày 24 tháng 9 năm 1990 để chuẩn bị cho tái thống nhất nước Đức, với sự đồng ý của Liên Xô)[41][42][43][44]
- Bản mẫu:Country data HPR Cộng hòa Nhân dân Hungary (rút khỏi hiệp ước từ ngày 1–4 tháng 11 năm 1956 trong Cách mạng Hungary)
- Bản mẫu:Country data PPR Cộng hòa Nhân dân Ba Lan
- Bản mẫu:Country data RSR Cộng hòa Nhân dân Romania (nước thành viên Khối Warszawa duy nhất không phải là nước vệ tinh của Liên Xô từ đầu thập niên 1960)
- Bản mẫu:Country data Liên Xô
Quan sát viên
Bản mẫu:Country data MPR: Tháng 7 năm 1963, Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ nộp đơn xin gia nhập Khối Warszawa. Do chia rẽ Trung – Xô, Mông Cổ chỉ được cấp quy chế quan sát viên. Romania phủ quyết việc kết nạp Mông Cổ vào Khối Warszawa, lần đầu tiên một đề xuất của Liên Xô bị một nước không lệ thuộc Liên Xô trong Khối Warszawa bác bỏ.[45][46] Năm 1966, Liên Xô đồng ý đóng quân tại Mông Cổ theo yêu cầu của chính phủ Mông Cổ.[47]
Ban đầu, Trung Quốc, Cộng hòa Dân chủ Nhân Triều Tiên và Việt Nam Dân chủ Công hòa có tư cách quan sát viên trong Khối Warszawa.[48] Năm 1961, Trung Quốc chấm dứt tư cách quan sát viên do chia rẽ Albania-Liên Xô, Trung Quốc ủng hộ Albania như một phần của chia rẽ Trung-Xô vào đầu thập niên 1960.[49]
Romania và Albania
Sau khi Albania rút khỏi Khối Warszawa, Romania là nước thành viên duy nhất có học thuyết quân sự độc lập, không cho phép Liên Xô sử dụng lực lượng vũ trang của mình và không lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung cấp thiết bị quân sự của Liên Xô.[50] Romania là nước thành viên duy nhất không có nghĩa vụ phải bảo vệ Liên Xô về mặt quân sự trong trường hợp bị tấn công.[51] Bulgaria và Romania là hai nước thành viên duy nhất không có lực lượng đồn trú Liên Xô trên lãnh thổ.[52] Tháng 12 năm 1964, Romania trở thành nước thành viên duy nhất (ngoại trừ Albania) không có cố vấn Liên Xô, bao gồm những cố vấn tình báo và an ninh.[53] Romania không chỉ từ chối tham gia vào các hoạt động chung với KGB mà còn thành lập các cơ quan phản gián chống KGB.[54]
Chiến lược
Chiến lược của Liên Xô khi thành lập Khối Warszawa là ngăn chặn kẻ thù của Liên Xô dùng Trung Âu và Đông Âu làm căn cứ tấn công. Về mặt hệ tư tưởng, Liên Xô tự cho mình quyền định hình chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và lãnh đạo phong trào xã hội chủ nghĩa quốc tế, bao gồm quyền can thiệp quân sự vào một nước "vi phạm" chủ nghĩa xã hội, tức là thoát ly khỏi phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô, được nêu rõ trong Học thuyết Brezhnev.[55]
Các cuộc tập trận đáng chú ý
- "Szczecin" (Ba Lan, 1962)
- "Vltava" (Tiệp Khắc, 1966)
- Chiến dịch "Rhodope" (Bulgaria, 1967)
- "Oder-Neisse" (Cộng hòa Dân chủ Đức, 1969)
- Lá chắn 72 (Tiệp Khắc, 1972)
- Lá chắn 82 (Bulgaria, 1982)[56]
- "Bảy ngày tới sông Rhine" (một cuộc diễn tập sở chỉ huy không có hoạt động thực địa, 1979)
- Przyjaźń 84 (Ba Lan, 1984)
- Lá chắn 84 (Tiệp Khắc, 1984)[57]
Tương quan lực lượng NATO và Khối Warszawa
| Ước tính của NATO | Ước tính của Khối Warszawa | |||
|---|---|---|---|---|
| Khí tài quân sự | NATO | Khối Warszawa | NATO | Khối Warszawa |
| Quân số | 2.213.593 | 3.090.000 | 3.660.200 | 3.573.100 |
| Máy bay chiến đấu | 3.977 | 8.250 | 7.130 | 7.876 |
| Máy bay tấn công tổng lực | NA | NA | 4.075 | 2.783 |
| Máy bay trực thăng | 2.419 | 3.700 | 5.720 | 2.785 |
| Bệ phóng tên lửa chiến thuật | NA | NA | 136 | 1.608 |
| Xe tăng | 16.424 | 51.500 | 30.690 | 59.470 |
| Vũ khí chống tăng | 18.240 | 44.200 | 18.070 | 11.465 |
| Xe chiến đấu bộ binh bọc thép | 4.153 | 22.400 | 46.900 | 70.330 |
| Pháo binh | 14.458 | 43.400 | 57.060 | 71.560 |
| Các loại xe bọc thép khác | 35.351 | 71.000 | ||
| Cầu phóng xe bọc thép | 454 | 2.550 | ||
| Hệ thống phòng không | 10.309 | 24.400 | ||
| Tàu ngầm | 200 | 228 | ||
| Tàu ngầm (chạy bằng năng lượng hạt nhân) | 76 | 80 | ||
| Tàu mặt nước cỡ lớn | 499 | 102 | ||
| Tàu chở máy bay | 15 | 2 | ||
| Tàu chở máy bay được trang bị tên lửa hành trình | 274 | 23 | ||
| Tàu chiến đổ bộ | 84 | 24 | ||
Hậu tan rã
Ngày 12 tháng 3 năm 1999, Séc, Hungary và Ba Lan gia nhập NATO. Bulgaria, Estonia, Latvia, Litva, Romania, Slovenia và Slovakia gia nhập NATO vào tháng 3 năm 2004. Croatia và Albania gia nhập NATO vào ngày 1 tháng 4 năm 2009.[59][60]
Năm 1992, Nga và một số nước hậu Xô viết khác thành lập Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể. Năm 1996, Nga, Trung Quốc và ba nước hậu Xô viết thành lập Nhóm Năm nước Thượng Hải, đổi tên thành Tổ chức Hợp tác Thượng Hải sau khi kết nạp Uzbekistan vào năm 2001.[61]
Xem thêm
Ghi chú
- ^ De facto bị trục xuất vào năm 1961 do chia rẽ Albania – Liên Xô, chính thức rút khỏi Khối Warszawa vào năm 1968.
- ^ Chính thức rút khỏi Khối Warszawa vào năm 1990.
- ^ Nước thành viên không lệ thuộc Liên Xô của Khối Warszawa, sau khi phi vệ tinh hóa vào đầu thập niên 1960.[1][2]
- ^ * tiếng Nga: Варшавский пакт, đã Latinh hoá: Varshavsky pakt,[3]
- tiếng Albania: Pakti i Varshavës,
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).,
- tiếng Belarus: Варшаўскі дагавор, đã Latinh hoá: Varshawski dahavor,
- tiếng Bulgaria: Варшавският договор, đã Latinh hoá: Varshavskiyat dogovor,
- tiếng Séc: Varšavská Smlouva,
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).,
- tiếng Đức: Warschauer Pakt,
- tiếng Estonia: Varssavi Pakt,
- tiếng Hungary: Varsói Szerződés,
- tiếng Kyrgyz: Варшавa келишими, đã Latinh hoá: Varshava kelishimi,
- tiếng Litva: Varšuvos paktas,
- tiếng Latvia: Varšavas Pakts,
- tiếng Ba Lan: Układ Warszawski,
- tiếng Romania: Pactul de la Varșovia,
- tiếng Slovak: Varšavská zmluva,[4]
- tiếng Ukraina: Варшавський договір, đã Latinh hoá: Varshavskyi dohovir
- ^ * tiếng Nga: Договор о дружбе, сотрудничестве и взаимной помощи, đã Latinh hoá: Dogovor o druzhbe, sotrudnichestve i vzaimnoy pomoshchi,
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).,
- tiếng Belarus: Дагавор аб дружбе, супрацоўніцтве і ўзаемнай дапамозе, đã Latinh hoá: Dahavor ab druzhbye, supratsownitstvye i wzayemnay dapamozye,
- tiếng Bulgaria: Договор за приятелство, съдействие и взаимопомощ, đã Latinh hoá: Dogovor za priyatelstvo, sadeystvie i vzaimopomosht,
- tiếng Séc: Smlouva o Přátelství, Spolupráci a Vzájemné Pomoci,
- tiếng Đức: Vertrag über Freundschaft, Zusammenarbeit und gegenseitige Unterstützung,
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).,
- tiếng Latvia: Līguma par Draudzību, Sadarbību un Savstarpējo Palīdzību,
- tiếng Ba Lan: Układ o Przyjaźni, Współpracy i Pomocy Wzajemnej,
- tiếng Romania: Tratatul de Prietenie, Cooperare și Asistență Mutuală,
- tiếng Slovak: Zmluva o Priateľstve, Spolupráci a Vzájomnej Pomoci,
- tiếng Ukraina: Договір про дружбу, співробітництво і взаємну допомогу, đã Latinh hoá: Dohovir pro druzhbu. spitrobititnitstvo i vzaiemnu,
- tiếng Uzbek: До'стлик, ҳамкорлик ва о'заро ёрдам шартномаси, đã Latinh hoá: Do'stlik, hamkorlik va o'zaro yordam shartnomasi
- ^ * tiếng Nga: Организация Варшавского договора, đã Latinh hoá: Organizatsiya Varshavskogo dogovora (ОВД),
- tiếng Azerbaijani: Varşava Müqaviləsi Təşkilatı (VMT),
- tiếng Belarus: Арганізацыя Варшаўскага Дагавора, đã Latinh hoá: Arhanizacyja Varšaŭskaha Dahavora (АВД),
- tiếng Bulgaria: Организация на Варшавския договор (ОВД),
- tiếng Séc: Organizace Varšavské Smlouvy (OVS),
- tiếng Đức: Organisation des Warschauer Vertrags (OWV),
- tiếng Estonia: Varssavi Lepingu Organisatsioon (VLO),
- tiếng Kazakh: Варшава келісімі ұйымы, đã Latinh hoá: Varşava kelısımı ūiymy (ВКҰ, VKU),
- tiếng Latvia: Varšavas Līguma Organizācija (VLO),
- tiếng Litva: Varšuvos Sutarties Organizacija (VSO),
- tiếng Kyrgyz: Варшавa келишими уюму (ВКУ),
- tiếng Ba Lan: Organizacja Układu Warszawskiego (OUW),
- tiếng Slovak: Organizácia Varšavskej Zmluvy (OVZ),
- tiếng Ukraina: Організація варшавського договору, đã Latinh hoá: Orhanizatsiya varshavskoho dohovoru (ОВД),
- tiếng Uzbek: Варшава шартномаси ташкилоти, đã Latinh hoá: Varshava shartnomasi tashkiloti (ВШТ, VShT)
Tham khảo
Trích dẫn
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên:0 - ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên:1 - ^ "Протокольная запись заседания Президиума ЦК КПCC (к пункту I протокола № 49)". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2026.
- ^ "Slovenské pohl'ady". Matica slovenská. 1997 – qua Google Books.
- ^ Allen, Debra J. (2003). The Oder-Neisse Line: The United States, Poland, and Germany in the Cold War. ABC-Clio. tr. 158. ISBN 9780313052446.
Treaties approving Bonn's participation in NATO were ratified in May 1955...shortly thereafter Soviet Union...created the Warsaw Pact to counter the perceived threat of NATO
- ^ "Text of Warsaw Pact" (PDF). United Nations Treaty Collection. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2013.
- ^ "Cover Story: The Holy Alliance". TIME. ngày 24 tháng 6 năm 2001. ISSN 0040-781X. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2015.
- ^ "DDR-Massenflucht: Ein Picknick hebt die Welt aus den Angeln" [Mass Exodus of the GDR: A Picnic Clears the World]. Die Presse (bằng tiếng Đức). ngày 16 tháng 8 năm 2018.
- ^ Czubiński, Antoni (1998). Europa dwudziestego wieku: zarys historii politycznej [Outline of the Political History of Twentieth-Century Europe] (bằng tiếng Ba Lan). Wydawnictwo Poznańskie. tr. 298. ISBN 9788386138708.
- ^ Russett, Bruce; Starr, Harvey; Kinsella, David (2009). World Politics: The Menu for Choice. Cengage Learning. tr. 87. ISBN 9780495410683.
The Warsaw Pact was established in 1955 as a response to West Germany's entry into NATO; German militarism was still a recent memory among the Soviets and East Europeans.
- ^ Molotov 1954a, tr. 197, 201.
- ^ Molotov 1954a, tr. 202.
- ^ Molotov 1954a, tr. 197–198, 203, 212.
- ^ Molotov 1954a, tr. 211–212, 216.
- ^ Steininger, Rolf (1991). The German Question: The Stalin Note of 1952 and the Problem of Reunification. Columbia University Press. tr. 56.
- ^ Gaddis, John (1997). We Now Know: Rethinking Cold War History. Clarendon Press. tr. 126. ISBN 9780198780700.
- ^ Steininger, Rolf (1991). The German Question: The Stalin Note of 1952 and the Problem of Reunification. Columbia University Press. tr. 80.
- ^ Steininger, Rolf (1991). The German Question: The Stalin Note of 1952 and the Problem of Reunification. Columbia University Press. tr. 103.
- ^ Molotov 1954a, tr. 214.
- ^ Molotov 1954a, tr. 216.
- ^ Traynor, Ian (ngày 17 tháng 6 năm 2001). "Soviets tried to join Nato in 1954". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016.
- ^ Adenauer 1966a, tr. 662.
- ^ "West Germany accepted into Nato". BBC News. ngày 9 tháng 5 năm 1955. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012.
- ^ Wolfe, James H. (2012). Indivisible Germany: Illusion or Reality?. Springer Science & Business Media. tr. 73.
- ^ "No shooting please, we're German". The Economist. ngày 13 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Union of Soviet Socialist Republics--Hungarian People's Republic: Agreement on the Legal Status of the Soviet Forces Temporarily Present on the Territory of the Hungarian People's Republic". The American Journal of International Law. 52 (1): 215–221. 1958. doi:10.2307/2195705. JSTOR 2195705. S2CID 246005881.
- ^ "1968 – The Prague Spring". Austria 1989 – Year of Miracles (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2019.
In the morning hours of August 21, 1968, Soviet and Warsaw Pact tanks roll in the streets of Prague; to distinguish them from Czechoslovak tanks, they are marked with white crosses.
- ^ "America Wasn't the Only Foreign Power in the Vietnam War". ngày 2 tháng 10 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
- ^ Suvorov, Viktor (1982). Inside the Soviet Army. MacMillan. tr. 36.
- ^ Vojtech Mastny (historian), Petr Luňák, Anna Locher, and Christian Nuenlist (tháng 5 năm 2000). "Taking Lyon on the Ninth Day? : The 1964 Warsaw Pact Plan for Nuclear War in Europe and Related Documents". Zurich, Switzerland: ETH Zurich.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - ^ Odom 1998, tr. 69.
- ^ Odom 1998, tr. 72–80.
- ^ Robinson, Dr. Colin (ngày 6 tháng 10 năm 2023). "The Bulgarian Land Forces in the Cold War". Bulletin of "Carol I" National Defence University (bằng tiếng Anh). 12 (3): 73–94. doi:10.53477/2284-9378-23-33. ISSN 2284-9378. S2CID 263840467.
- ^ "The Hungarian Uprising of 1956". History Learning Site. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
- ^ Percival, Matthew (ngày 23 tháng 10 năm 2016). "Recalling the Hungarian revolution, 60 years on". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Soviets Invade Czechoslovakia – Aug 20, 1968". History.com. ngày 9 tháng 2 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
- ^ Trainor, Bernard E. (ngày 22 tháng 8 năm 1989). "Polish Army: Enigma in the Soviet Alliance". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2021.
- ^ "How the Russians Used the Warsaw Pact". Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Warsaw Pact ends". History.com. ngày 13 tháng 11 năm 2009.
- ^ "1955: Communist states sign Warsaw Pact". BBC News. ngày 14 tháng 5 năm 1955. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2010.
- ^ Webb, Adrian (2014). Longman Companion to Germany Since 1945. Routledge. tr. 59. ISBN 978-1317884248.
- ^ Bozo, Édéric (2009). Mitterrand, the End of the Cold War, and German Unification. Berghahn Books. tr. 297. ISBN 978-1845457877.
- ^ Winkler, Heinrich August (2006). Germany: 1933–1990. Oxford University Press. tr. 537. ISBN 978-0-19-926598-5.
- ^ Childs, David (2014). Germany in the Twentieth Century. Routledge. tr. 261. ISBN 978-1317542285.
- ^ Crump, Laurien (2015). The Warsaw Pact Reconsidered: International Relations in Eastern Europe, 1955–1969. Routledge. tr. 77. ISBN 978-1317555308.
- ^ Lüthi, Lorenz M. (ngày 19 tháng 3 năm 2020). Cold Wars: Asia, the Middle East, Europe. Cambridge University Press. tr. 398. ISBN 978-1108418331.
- ^ "Soviet Troops to Leave Mongolia in 2 Years". Reuters. ngày 3 tháng 3 năm 1990. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018 – qua LA Times.
- ^ ABC-CLIO (ngày 3 tháng 3 năm 1990). "Warsaw Treaty Organization". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020.
- ^ Lüthi, Lorenz M. (ngày 8 tháng 10 năm 2007). "The People's Republic of China and the Warsaw Pact Organization, 1955–63". Cold War History. 7 (4): 479–494. doi:10.1080/14682740701621762. S2CID 153463433. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2023.
- ^ Leebaert, Derek; Dickinson, Timothy (1992). Soviet Strategy and the New Military Thinking. Cambridge University Press. tr. 102, 110 and 113–114. ISBN 978-0521407694.
- ^ Eyal, Jonathan (1989). Warsaw Pact and the Balkans: Moscow's Southern Flank. Springer. tr. 74. ISBN 978-1349099412.
- ^ Dickerson, M. O.; Flanagan, Thomas (1990). An Introduction to Government and Politics: A Conceptual Approach. Nelson Canada. tr. 75. ISBN 978-0176034856.
- ^ Crampton, R. J. (2014). R. J. Crampton, Routledge, 2014, The Balkans Since the Second World War, p. 189. Routledge. ISBN 978-1317891178.
- ^ Carey, Henry F. (2004). Romania Since 1989: Politics, Economics, and Society. Lexington Books. tr. 536. ISBN 978-0739105924.
- ^ "The Brezhnev Doctrine and Communist Ideology". The Review of Politics. 34 (2): 190–209. tháng 4 năm 1972. doi:10.1017/S0034670500021045. JSTOR 1406470.
- ^ "Communist bloc war games in Bulgaria". UPI.
- ^ "NATO and Warsaw Pact begin exercises". UPI.
- ^ The future of U.S.-Soviet relations hearings before the Committee on Foreign Relations, United States Senate, One Hundred First Congress, first session, April 4, 12, 19 and May 3, 15, 18 and June 1 and 20, 1989 (Microfiche) . Washington : U.S. G.P.O. tr. 325. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2021.
- ^ "Archived copy" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết) - ^ "NATO Update: Seven new members join NATO". ngày 29 tháng 3 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2018.
- ^ Sahai, Kajari (2002). "Declaration of the Shanghai Cooperation Organisation". China Report (bằng tiếng Anh). 38 (1): 129–132. doi:10.1177/000944550203800118. ISSN 0009-4455.
Thư mục
- Adenauer, Konrad (1966a). Memorie 1945–1953 (bằng tiếng Ý). Arnoldo Mondadori Editore.
- Molotov, Vyacheslav (1954a). La conferenza di Berlino (bằng tiếng Ý). Ed. di cultura sociale.
- Odom, William E. (1998). The Collapse of the Soviet Military. New Haven and London: Yale University Press.
- Bản mẫu:Country study
Đọc thêm
- Faringdon, Hugh (1986). Confrontation: The Strategic Geography of NATO and the Warsaw Pact. London: Routledge & Kegan Paul. ISBN 978-0-7102-0676-3.
- Heuser, Beatrice (1998). "Victory in a Nuclear War? A Comparison of NATO and WTO War Aims and Strategies". Contemporary European History. 7 (3): 311–327. doi:10.1017/S0960777300004264. S2CID 159502812.
- Kramer, Mark N. (Winter 1984–85). "Civil-military relations in the Warsaw Pact: The East European component". International Affairs. 61 (1): 45–66. doi:10.2307/2619779. JSTOR 2619779..
- Lewis, William Julian (1982). The Warsaw Pact: Arms, Doctrine, and Strategy. Cambridge, Mass.: Institute for Foreign Policy Analysis. ISBN 978-0-07-031746-8. This book presents an overview of all the Warsaw Pact armed forces as well as a section on Soviet strategy, a model land campaign which the Soviet Union could have conducted against NATO and a full-colour section on the uniforms, nations, badges and rank-insignia of the Warsaw Pact. (Later CWIHP, Heuser, and CIA FOIA documents present a much better picture of Soviet plans.)
- Mackintosh, John Malcolm (1969). "The Evolution of the Warsaw Pact". Taylor & Francis. 9 (58). London: Institute for Strategic Studies. ISSN 0567-932X.
- Byrne, Malcolm; Mastny, Vojtech, biên tập (2005). A Cardboard Castle?: An Inside History of the Warsaw Pact, 1955–1991. Budapest: Central European University Press. ISBN 978-963-7326-07-3.
- MacAdams, A. James (1989) [1985]. East Germany and Detente: Building Authority After the Wall. Cambridge; New Rochelle; Melbourne [etc.]: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-26835-6.
- McAdams, Arthur James (2022) [1993]. Germany Divided: From the Wall to Reunification. Princeton, NJ: Princeton University Press. ISBN 978-0-691-22197-7.
Tác phẩm không dùng tiếng Anh
- Umbach, Frank. Das rote Bündnis: Entwicklung und Zerfall des Warschauer Paktes 1955 bis 1991 [The Red Alliance: Development and Collapse of the Warsaw Pact: 1955 to 1991] (bằng tiếng Đức). Berlin: Ch. Links Verlag. 2005. ISBN 978-3-86153-362-7.
- Wahl, Alfred. La seconda vita del nazismo nella Germania del dopoguerra [The Second Life of Nazism in Postwar Germany] (bằng tiếng Ý). Turin: Lindau. 2007. ISBN 978-88-7180-662-4.
- Original edition: Wahl, Alfred (2006). La seconde histoire du nazisme dans l'Allemagne fédérale depuis 1945 (bằng tiếng Pháp). Paris: Armand Colin. ISBN 2-200-26844-0.
Hồi ký
Liên kết ngoài
- "What was the Warsaw Pact?". North Atlantic Treaty Organization.
- The Woodrow Wilson Center Cold War International History Project's Warsaw Pact Document Collection
- Parallel History Project on Cooperative Security
- Library of Congress / Federal Research Division / Country Studies / Area Handbook Series / Soviet Union / Appendix C: The Warsaw Pact (1989)
- Map of Russia and the Warsaw Pact (omniatlas.com)
- Soviet Nuclear Weapons in Hungary 1961–1991
- The Warsaw Pact, 1955–1968 by Hugh Collins Embry. Contain extensive documentation of the Pact's first 13 years.