Kim Thành công chúa (chữ Hán: 金城公主, chữ Tạng: ཀིམ་ཤེང་ཁོང་ཅོ hoặc གྱིམ་ཤིང་ཀོང་ཇོ་[1], khoảng năm 698 - 739[2]) là một tông thất nữ và hòa thân công chúa nhà Đường.

Kim Thành công chúa
金城公主
Công chúa nhà Đường
Thông tin chung
Sinh698
Ba Châu
Mất739
Phối ngẫuThổ Phồn Tán phổ Xích Đức Tổ Tán (赤德祖赞)
Thân phụLý Thủ Lễ

Kế bước hoàng tổ cô là Văn Thành công chúa, bà trở thành công chúa nhà Đường thứ hai kết hôn với Tán Phổ Đế quốc Thổ Phồn, sống tại nơi đây 30 năm, đóng góp không nhỏ trong việc duy trì mối quan hệ bang giao mà nhà Đường và Thổ Phồn gọi là "sanh cữu túc thân"[3].

Thân thế

Kim Thành công chúa được cho là sinh vào năm Thánh Lịch thứ nhất (698) dưới thời Võ Chu, là con gái Tự Ung vương Lý Thủ Lễ. Lễ là cháu nội của Đường Cao TôngVõ Tắc Thiên, con trai thứ hai của Chương Hoài Thái tử Lý Hiền. Lý Hiền bị mẹ đẻ giam lỏng rồi phế truất làm thường dân, đày đi Ba Châu, không lâu sau lại bức tự sát, để lại ba người con trai. Hai người con trai đầu là Lý Quang Thuận (李光順) và Lý Thủ Nghĩa (李守義) dù sau đều được phong làm Quận vương nhưng chẳng lâu thì một người bị giết, một người bệnh chết, hậu duệ khi ấy chỉ còn lại Thủ Lễ. Khi Võ Tắc Thiên xưng đế, Lý Thủ Lễ bị giam lỏng trong cung, hơn mười năm không được ra ngoài. Ông tự kể rằng: "Mỗi năm đều bị ban roi trượng vài trận, nay sẹo vẫn còn rất dày"[4], hễ trời sắp mưa là lưng thấy đau nhức, chỉ đến khi trời nắng mới thấy đỡ hơn. Không rõ sinh mẫu của bà nhưng có khả năng là do chính thất của Thủ Lễ, tức Vương phi Phùng thị (冯氏) sinh ra hoặc nuôi dưỡng. Cùng năm bà sinh ra, Tắc Thiên hạ chế lập Lư Lăng vương Lý Triết làm Hoàng thái tử, Thủ Lễ mới được cùng gia quyến xuất cung cư ngụ.

Năm Thần Long thứ 5 (705), sau sự biến Thần Long, Đường Trung Tông phục vị, phong Lý Thủ Lễ làm Quang lộc khanh, di chiếu tiến phong ông làm Bân vương (邠王). Với thân phận là hoàng huynh, Lý Thủ Lễ rất được Đường Huyền Tông quý trọng, qua đời lại tặng chức Thái úy, bồi táng vào Càn lăng.

Hôn nhân

Bấy giờ Tán phổ Thổ PhồnXích Đức Tổ Tán (赤德祖赞) còn nhỏ tuổi, trong nước phản loạn nổi lên khắp nơi. Tổ mẫu của Tán phổ là Một Lộc thị (没禄氏) tién hành nhiếp chính, dẹp yên phản loạn ở các nơi. Để củng cố chính quyền, ngày 2 tháng 3 năm Thần Long thứ 3 (709), Một Lộc thị sai sứ giả Tất Huân Nhiên (悉薰然) mang phương vật đến cống nạp, đồng thời xin cầu hôn cho cháu nội là Xích Đức Tổ Tán. Cùng năm, ngày 14 tháng 4, Đường Trung Tông hạ chiếu sách phong con gái thứ ba của Tự Ung vương Lý Thủ Lễ làm Kim Thành công chúa (金城公主), hòa thân với Tán phổ Thổ Phồn Xích Đức Tổ Tán. Kim Thành công chúa thực chất đã được nuôi dưỡng trong cung từ trước, dựa vào chiếu Kim Thành công chúa xuất giáng Thổ Phồn chế viết rằng: "Công chúa Kim Thành, con gái út của trẫm, lớn lên chốn cung vi"[5].

Năm Cảnh Long thứ 4 (710), tháng Giêng, ngày 27, Trung Tông hạ chiếu sai Tả kiêu vệ Đại tướng quân Dương Củ (杨矩) cầm tiết, đưa Kim Thành công chúa đến Thổ Phồn. Trung Tông còn vì công chúa mà đích thân đến Thủy Bình (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây), mở tiệc đãi bá quan, sai các văn sĩ làm thơ tiễn biệt công chúa. Trong tiệc, Trung Tông "gọi sứ giả Thổ Phồn tiến lên trước, dặn dò rằng công chúa còn nhỏ, phải cắt đứt tình thương cho đi lấy chồng xa, buồn bã rơi lệ hồi lâu"[6], lại "thương công chúa nhỏ tuổi, ban thêm mấy vạn tấm gấm lụa, cho các thợ thủ công bách nghệ đi theo, ban cho nhạc Quy Tư"[7]. Ngày 1 tháng 2, hạ chiếu đổi tên huyện Thủy Bình thành Kim Thành, hương đó đổi thành hương Phượng Trì, lý (làng) đó đổi thành lý Sảng Biệt[8], cùng lúc đó lại xá miễn tử tù trong huyện, miễn thuế má cho bá tánh một năm để ghi nhớ sự kiện này. So sánh với việc Đường Thái Tông đối với Văn Thành công chúa cũng chưa được như thế này, có thể thấy tình cảm của Đường Trung Tông dành cho Công chúa Kim Thành rất sâu đậm, công chúa khi xuất giá cũng nhận được đãi ngộ vô cùng hậu hĩnh[9].

Sau đó, Kim Thành công chúa đi theo con đường cũ của Văn Thành công chúa 70 năm trước mà đi đến Thổ Phồn, Thổ Phồn vì để đón công chúa đã đục đá mở đường. Sau khi công chúa đến Lhasa, lại vì công chúa mà xây riêng một tòa thành để ở, gọi là Lộc Uyển (鹿苑). Bà đã đem tượng Phật Thích Ca mà Công chúa Văn Thành từng mang theo chuyển từ ngôi chùa nhỏ sang thờ tại chùa Đại Chiêu và sáng lập ra nghi thức triều bái Phật.

Hành trạng

Năm 710, An Tây Đô hộ Trương Huyền Biểu (张玄表) xâm lược phía bắc của Thổ Phồn, Thổ Phồn tuy oán hận nhưng không cắt đứt mối quan hệ, sau đấy lại hối lộ thuộc tướng đưa công chúa hòa thân là Dương Củ để xin vùng đất Cửu Khúc (九曲). Dương Củ sau khi về kinh liền dâng tấu trình, triều đình liền lấy vùng đất Cửu Khúc làm thang mộc ấp[10] của Kim Thành công chúa mà ban cho Thổ Phồn. Không ngờ, Thổ Phồn thấy Cửu Khúc trù phú màu mỡ, thích hợp đóng quân chăn ngựa từ đó liền có ý làm phản, bắt đầu đem quân xâm phạm biên giới nhà Đường[7]. Để phòng thủ trước Thổ Phồn, năm Cảnh Vân thứ 2 (711), nhà Đường thiết lập Phiên trấn Hà Tây, đến khi Đường Huyền Tông đăng cơ lại thiết lập Phiên trấn Lũng Hữu (nay thuộc Thanh Hải).

Năm Khai Nguyên thứ 2 (714), tháng 7, Bộn Đạt Duyên (坌达延) đem 10 vạn quân Thổ Phồn tiến công, đóng tại cốc Đại Lai. Tướng Đường là Vương Tuấn tuyển 700 dũng sĩ, mặc áo Hồ ban đêm tập kích. Quân Thổ Phồn kinh hãi hoảng loạn, tự chém giết lẫn nhau, chết hàng vạn người. Tiết Nột (薛讷) suất quân Đường kẹp đánh, chém đầu 1 vạn 7 ngàn tên, thu được hơn 20 vạn ngựa cừu, truy kích quân Thổ Phồn đến thành Trường Bảo lại đánh bại chúng. Quân Thổ Phồn chết chồng chất lên nhau, nước sông Thao vì thế mà không chảy được, quân Đường trước sau giết và bắt sống vài vạn người. Sau đó, Thổ Phồn xin giảng hòa với nhà Đường và yêu cầu sử dụng nghi thức bình đẳng, nhưng Đường Huyền Tông không cho phép. Sang năm sau (715), Thổ Phồn cùng Ả Rập lập A Liễu Đạt (阿了达) làm vua, phát binh đánh Bạt Hãn Na (拔汗那). Vua Bạt Hãn Na thua trận, chạy đến An Tây cầu cứu Đại Đường. Hiếu Tung (孝嵩) dẫn quân ra khỏi Quy Tư về phía tây vài ngàn dặm, hạ hàng trăm thành, tiến quân thần tốc, trong tháng đó lại đánh A Liễu Đạt ở Liên Thành. Hiếu Tung đích thân mặc giáp đốc thúc binh sĩ đánh gấp, từ giờ Tỵ đến giờ Dậu, tàn sát 3 thành, chém hơn ngàn thủ cấp. A Liễu Đạt cùng vài kỵ binh chạy trốn vào hang núi. Hiếu Tung truyền hịch đi các nước, uy danh chấn động Tây Vực.

Năm Khai Nguyên thứ 6 (716), Thổ Phồn tấn công Tùng Châu, Tùng Châu Đô đốc Tôn Nhân Hiến (孙仁献) tập kích quân Thổ Phồn dưới chân thành, đại phá địch. Thổ Phồn lại xin giảng hòa. Tháng 8 cùng năm, Công chúa Kim Thành dâng Tạ ân tứ cẩm bạch khí vật biểu (Biểu tạ ơn ban lụa là đồ vật), toàn văn như sau:

"金城公主奴奴言,仲夏盛热,伏惟皇帝兄起居万福,御膳胜常。奴奴奉见舅甥平章书,云还依旧日,重为和好,既奉如此进止,奴奴还同再生,下情不胜喜跃。伏蒙皇帝兄所赐信物,并依数奉领。谨献金盏、羚羊衫、段青长毛毡各一,奉表以闻.

....

Nô nô Công chúa Kim Thành cúi lời, giữa hè nóng nực, cúi mong Hoàng đế huynh vạn phúc, ngự thiện ngon miệng. Nô nô nhận được thư bàn việc sanh cữu (cháu cậu), nói rằng sẽ trở lại như ngày xưa, nối lại tình hòa hiếu, nay phụng mệnh như thế, nô nô như được tái sinh, trong lòng vui mừng khôn xiết. Đội ơn Hoàng đế huynh ban cho tín vật, đã nhận đủ số lượng. Nay kính dâng một chén vàng, một áo linh dương, một tấm thảm lông dài màu xanh, kính dâng biểu này để báo[11]."

Năm Khai Nguyên thứ 7 (917), bấy giờ Thổ Phồn "thường xuyên xâm phạm, không ngày nào yên", Công chúa Kim Thành dâng Khất hứa tán phổ thỉnh hòa biểu (Biểu xin cho Tán phổ giảng hòa), cầu xin nối lại tình giao hảo. Toàn văn như sau:

"金城公主奴奴言,季夏极热,伏惟皇帝兄御膳胜常。奴奴甚平安,愿皇帝兄勿忧。此间宰相向奴奴道,赞普甚欲得和好,亦宜亲署誓文。往者皇帝兄不许亲署誓文。奴奴降番,事缘和好。今乃骚动,实将不安和。矜怜奴奴远在他国,皇帝兄亲署誓文,亦非常事,即得两国久长安稳,伏惟念之.

...

Nô nô Công chúa Kim Thành cúi lời, cuối hè cực nóng, cúi mong Hoàng đế huynh ngự thiện ngon miệng. Nô nô rất bình an, xin Hoàng đế huynh đừng lo. Tể tướng ở đây nói với nô nô, Tán phổ rất muốn được hòa hiếu, cũng nên tự tay ký kết thệ văn (lời thề). Trước đây Hoàng đế huynh không cho phép tự tay ký thệ văn. Nô nô gả sang phiên bang, vốn là vì tình hòa hiếu. Nay lại xảy ra chiến động, thật khiến không yên. Thương xót nô nô ở xa tha hương, xin Hoàng đế huynh tự tay ký thệ văn, đây cũng không phải việc tầm thường, sẽ giúp hai nước lâu dài bình an, cúi mong ngài suy xét[11]."

Huyền Tông y theo lời công chúa mà đồng ý giảng hòa, Thổ Phồn từ năm đó giữ lại triều cống, không xâm lược biên giới Đại Đường nữa. Đến năm thứ 9 (719), Huyền Tông và Vương hoàng hậu mỗi người ban cho Tán phổ ngàn xấp lụa màu, ban cho Khả đôn (tức Công chúa) cùng tổ mẫu và mẹ của Tán phổ mỗi người vài trăm xấp lụa tùy bậc[12].

Đến năm Khai Nguyên thứ 12 (722), Thổ Phồn xâm lược Tiểu Bột Luật (小勃律) ở phía tây, lúc bấy giờ là thuộc quốc của nhà Đường. Bắc Đình Tiết độ sứ Trương Hiếu Tung (张孝嵩) phái Sơ Lặc Phó sứ Trương Tư Lễ (张思礼) đem 4 ngàn quân đi cứu. Đại phá quân Thổ Phồn, chém giết và bắt sống vài vạn người. Sang năm thứ 15 (725), quân Đường đánh bại quân Thổ Phồn ở phía tây Thanh Hải, thu được người, xe cộ, trâu bò rồi rút về. Cùng năm, quân Thổ Phồn cướp bóc Qua Châu.

Năm Khai Nguyên thứ 17 (729), Qua Châu Đô đốc Trương Thủ Khuê (张守珪), Sa Châu Thứ sử Giả Sư Thuận (贾师顺) đánh quân Đại Đồng của Thổ Phồn, đại phá địch. Tín An vương Lý Y đánh chiếm thành Thạch Bảo (nay thuộc Thanh Hải), chia quân trấn giữ những nơi hiểm yếu, khiến địch không thể tiến lên. Từ đó các lộ quân Hà, Lũng của nhà Đường có thể tự do di chuyển, mở rộng bờ cõi hơn ngàn dặm. Huyền Tông nghe tin cả mừng, đổi tên thành Thạch Bảo thành "Chấn Vũ quân". Thổ Phồn xin giảng hòa. Huyền Tông nghe theo lời bàn của Hoàng Phủ Duy Minh (皇甫惟明), sai Duy Minh và Trương Nguyên Phương (张元方) làm sứ giả đi Thổ Phồn. Hai người gặp Tán phổ và Công chúa, truyền đạt rõ ý của Hoàng thượng, Tán phổ và mọi người vui mừng xin giảng hòa. Thổ Phồn sai sứ giả mang thư đến biên giới xin hòa. Tán phổ dâng biểu xưng: "Cháu đời đời lấy công chúa, nghĩa tình như một nhà. Giữa chừng Trương Huyền Biểu bọn họ khởi binh cướp bóc trước, khiến hai cõi giao ác. Cháu biết rõ tôn ti, sao dám thất lễ! Chỉ vì tướng biên giới gây oán, dẫn đến đắc tội với cậu. Nhiều lần sai sứ giả vào triều, đều bị tướng biên giới ngăn lại. Nay mong cậu giáng sứ thần từ xa đến thăm Công chúa, cháu vui mừng khôn xiết. Nếu được nối lại tình xưa, chết cũng không hối hận!" Từ đó, Thổ Phồn lại quy phục triều Đường.

Năm Khai Nguyên thứ 18 (730), sứ giả Thổ Phồn là Tất Liệp (悉猎) vào Trường An. Công chúa Kim Thành "tiến dâng mâm chén vàng hình vịt và các tạp vật khác", xin một bộ Mao thi, Lễ ký, Tả truyện, Văn tuyển, Huyền Tông hạ chiếu ban cho, đồng thời gửi tín vật cho công chúa.

Năm Khai Nguyên thứ 20 (732), Kim Thành công chúa dâng Thỉnh trí phủ biểu (Biểu xin đặt phủ). Toàn văn như sau:

"妹奴奴言,李行祎至,奉皇帝兄正月敕书。伏承皇帝万福,奴惟加喜跃。今得舅甥和好,永无改张,天下黔庶,并加安乐。然去年崔琳回日,请置府。李行祎至,及尚他辟回,其府事不蒙进止。望皇帝兄商量,矜奴所请。

...

Muội nô nô cúi lời, Lý Hành Y đến, phụng sắc thư tháng Giêng của Hoàng đế huynh. Đội ơn Hoàng đế vạn phúc, nô nô thêm muôn phần vui sướng. Nay cậu cháu đã hòa hiếu, mãi không thay đổi, bách tính thiên hạ đều được bình an. Nhưng năm ngoái lúc Thôi Lâm về, có xin đặt phủ. Nay Lý Hành Y đến, cùng với Thượng Tha Tích về, việc đặt phủ không thấy nhắc tới. Mong Hoàng đế huynh thương lượng, xót thương lời cầu xin của nô nô"

Năm Khai Nguyên thứ 21 (733), Huyền Tông hạ chiếu sai Công bộ Thượng thư Lý Cảo (李暠) đi sứ sang Thổ Phồn. Tháng 2, gửi thư cho triều Đường, đề nghị định rõ biên giới, dẫn đến việc phân định ranh giới và lập bia giao thương ở Xích Lĩnh (赤岭). Tháng 7, Tán phổ Thổ Phồn phái Tể tướng Luận Hột Dã Tán (论纥野赞) đến nhà Đường để giao hảo.

Năm Khai Nguyên thứ 22 (734), tướng nhà Đường là Lý Thuyên (李佺) cùng Thổ Phồn phân định ranh giới lập bia, nhắc lại tình xưa, nêu rõ "không dùng binh mạnh mà hại nghĩa, không vì lợi mà bỏ tín". Góp phần thúc đẩy hội minh Đường - Phồn lần này, bắt đầu từ năm trước khi Lý Cảo đi sứ Thổ Phồn, "Công chúa Kim Thành xin làm rõ ranh giới, dựng bia đá trên Xích Lĩnh, hội minh mới được kiên định"[13]

Năm Khai Nguyên thứ 23 (735), Huyền Tông hạ chiếu cho Trương Cửu Linh (张九龄) soạn Sắc Kim Thành công chúa thư (Thư sắc gửi Công chúa Kim Thành), trong đó có câu "Nơi dị vực mang lòng nhớ thương, nhiều năm không buông bỏ, tình máu mủ ruột rà, quả thực khó quên[14]". Năm sau, người Thổ Phồn lại tiến công Tiểu Bột Luật, Huyền Tông lệnh cho Thổ Phồn lui binh, Thổ Phồn không phụng chiếu. Tướng Đường là Thôi Hy Dật (崔希逸) phát binh đại phá Thổ Phồn ở Thanh Hải, chém giết rất nhiều, từ đó Thổ Phồn lại bỏ triều cống. Năm 738, tướng Đỗ Hy Vọng (杜希望) dẫn quân đánh chiếm Tân Thành của Thổ Phồn, lấy thành này làm Uy Vũ quân, phát 1 ngàn binh để trấn giữ. Đỗ Hy Vọng lại từ Thiện Châu phát binh đoạt cầu sông Thổ Phồn, xây thành Diêm Tuyền ở bờ trái, quân Thổ Phồn đại bại. Trong những năm sau, quân Đường đánh vào Thổ Phồn, tiến sâu ngàn dặm, lại chém chết con trai Tán phổ Thổ Phồn là Lang Chi Đô (琅支都) tại trận.

Năm Khai Nguyên thứ 27 (739), Kim Thành công chúa qua đời. Hai năm sau (741), Thổ Phồn tổ chức tế lễ công khai cho Công chúa, đồng thời sai sứ sang nhà Đường báo tang. Lúc này chiến sự giữa Đường và Thổ Phồn vừa tạm dứt, sứ giả Thổ Phồn nhân tiện xin giảng hòa, Huyền Tông không cho, "vài tháng sau, mới vì công chúa mà cử ai (tổ chức tang lễ) ngoài cửa Quang Thuận, bãi triều ba ngày".

Truyền thuyết liên quan

Tranh cãi về chồng của công chúa

Các tài liệu của Phật giáo Tây Tạng đều nói rằng vị hôn phu của Công chúa Kim Thành ban đầu không phải là Xích Đức Tổ Tán, mà là con trai của Xích Đức Tổ Tán tên là Khương Sát Lạp Ôn (姜察拉温). Theo Tây Tạng vương thống ký, Hiền giả hỷ yến và các tài liệu Phật giáo Tây Tạng, Xích Đức Tổ Tán cùng vị vương phi đến từ Nam ChiếuKhương Trì Tôn (姜墀尊) sinh được một người con trai, tên là Khương Sát Lạp Ôn. Vị vương tử này dung mạo tuấn tú, khó tìm được giai ngẫu. Vì thế Xích Đức Tổ Tán đã cầu hôn nhà Đường, muốn Công chúa Kim Thành gả cho vương tử Thổ Phồn. Tuy nhiên khi Công chúa Kim Thành vừa vào đến bờ cõi Thổ Phồn, vương tử bị ngã ngựa tử vong ngoài ý muốn. Xích Đức Tổ Tán sai sứ giả thông báo tình hình cho Công chúa Kim Thành, nói với bà rằng nếu không muốn đến Thổ Phồn, có thể phái người hộ tống bà trở về. Nhưng Công chúa Kim Thành đã từ chối đề nghị đó, đi đến Lahsa, cuối cùng tái giá với Xích Đức Tổ Tán, trở thành vương phi của Xích Đức Tổ Tán[15].

Trên thực tế, theo ghi chép trong tài liệu Đôn Hoàng Đại sự kỷ niên, Xích Đức Tổ Tán sinh năm 704, mà thời điểm Công chúa Kim Thành vào Thổ Phồn là năm 710. Từ đó suy ra, lúc này Xích Đức Tổ Tán mới 7 tuổi, không thể nào có một người con trai trưởng thành được. Hơn nữa, tài liệu Hán văn Cựu Đường thư - Thổ Phồn truyện cũng chỉ rõ tổ mẫu Một Lư thị cầu hôn cho cháu nội mình[16], do đó việc Công chúa Kim Thành gả cho vương tử là không đúng với sử thực.

Có một số học giả cho rằng vương tử trong truyền thuyết này có nguyên mẫu lịch sử là "Tán phổ huynh" Lạp Bạt Bố (拉跋布) – người bị thất thế trong nội loạn được ghi trong Đại sự kỷ niên, cho rằng đối tượng hòa thân ban đầu là Lạp Bạt Bố. Nhưng điều này không được phần lớn các học giả chấp nhận[17].

Truyền thuyết Xích Đức Tổ Tán nhận mẹ

Theo Ba hiệp, Hiền giả hỷ yến và các tài liệu Phật giáo Tây Tạng, một vị Hán tăng thần thông quảng đại đã tiên tri Công chúa Kim Thành sẽ sinh ra một vị vương tử là Bồ Tát hóa thân. Không lâu sau, Công chúa Kim Thành hạ sinh Xích Tùng Đức Tán tại cung Hồng Nham. Kim Thành công chúa là Khả đôn của Thổ Phồn, bên trên còn có Hoàng hậu Na Nang Mang Ba Kiệt Tây Đinh (那囊芒波杰西丁) cũng gian xảo giả vờ mang thai, dùng thuốc đắp lên bầu ngực cho sữa chảy ra, khiến quốc vương và quần thần không thể phân biệt được. Công chúa vô cùng bi phẫn, phá hoại điên cuồng phong thủy của Thổ Phồn, nguyền rủa dòng dõi Tán phổ vương thống bị tuyệt tự, những bề tôi tài trí sẽ không còn sinh ra nữa, vì thế mà Thổ Phồn đói kém khắp nơi, dịch điên cuồng hoành hành. Khi Xích Tùng Đức Tán tròn tuổi, Xích Đức Tổ Tán lệnh cho cả hai vị vương phi cùng tham gia, bảo Xích Tùng Đức Tán trong hai người hãy tìm ra mẹ ruột. Gia tộc Na Nang dùng quần áo, hoa tươi để thu hút Xích Tùng Đức Tán, nhưng Xích Tùng Đức Tán nhắm mắt làm ngơ, bước về phía Công chúa, nhận định Công chúa Kim Thành chính là mẹ ruột của mình. Công chúa Kim Thành rất vui mừng, khôi phục lại phong thủy đã bị phá hoại[18].

Câu chuyện này về sau được các kinh điển Phật giáo ghi chép rất rộng rãi, các học giả sau này cho rằng nó có hiềm nghi phóng đại trí tuệ của Xích Tùng Đức Tán, trong khi các tài liệu lịch sử cùng thời lại chứng minh đây chỉ là một truyền thuyết không có thật. Trong các sử liệu Hán văn không hề có bất kỳ ghi chép nào nói Xích Tùng Đức Tán là con của Công chúa Kim Thành. Hơn nữa, theo tài liệu Tạng văn Đại sự kỷ niên phát hiện ở Đôn Hoàng, Công chúa Kim Thành qua đời năm 739 (Tân Đường thư thì ghi Thổ Phồn sai sứ sang nhà Đường báo tang năm 740); còn trong đoạn văn ngay sau đó lại ghi: "Năm Ngựa (năm Thiên Bảo thứ nhất đời Đường Huyền Tông, 742)... Tán phổ Xích Tùng Đức Tán đản sinh tại Trát Mã." Nhìn vào điều này, Xích Tùng Đức Tán không thể nào là con trai của Công chúa. Tài liệu Tạng văn Tán phổ thế hệ biểu khai quật ở Đôn Hoàng cũng ghi chép rõ ràng, Xích Tùng Đức Tán là con trai do Xích Đức Tổ Tán và vương phi Na Nang Mang Ba Kiệt Tây Đinh sinh ra, không thể là con của công chúa.

Ảnh hưởng

Tuy ảnh hưởng chính trị có phần không nổi bật như hoàng tổ cô Văn Thành công chúa, Kim Thành công chúa cũng có một phần đóng góp không nhỏ trong việc truyền bá Phật giáo đối với người Tạng. Nếu như Văn Thành công chúa là người đầu tiên truyền bá tôn giáo này đến thì Kim Thành công chúa là người củng cố vị thế của nó cũng như đẩy mạnh làn sóng giao lưu văn hóa Hán - Tạng lần thứ hai. Sau khi đến Lhasa, Kim Thành công chúa đã chuyển bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni thiêng liêng (do Công chúa Văn Thành mang sang) từ chùa Tiểu Chiêu sang thờ cúng trang trọng tại trung tâm là chùa Đại Chiêu. Bà cũng là người đã thiết lập các nghi thức triều bái Phật giáo một cách quy củ tại Thổ Phồn.

Về mặt văn hóa, bà không chỉ mang theo hàng vạn tấm lụa là, thợ thủ công bách nghệ và dàn nhạc Quy Tư mà còn chủ động dâng biểu về triều đình nhà Đường xin các bộ sách kinh điển của Nho giáo và văn học để truyền bá đến Thổ Phồn. Bà đã bảo trợ cho các nhà sư dịch thuật kinh điển, tiếp tục củng cố mạnh mẽ sự hiện diện của Hán văn trên vùng đất cao nguyên, cũng chính là nhân tố cốt lõi để Tán phổ Thổ Phồn danh chính ngôn thuận khẳng định mối quan hệ thân thiết với nhà Đường. Những năm tháng bà còn sống, dù hai nước vẫn có những xung đột nhỏ, nhưng Công chúa luôn là chiếc van để thiết lập lại các hòa ước, duy trì trục cân bằng quyền lực Hán - Tạng.

Dù các nghiên cứu Đôn Hoàng hiện đại đã chứng minh truyền thuyết Xích Tùng Đức Tán nhận mẹ là hư cấu (Xích Tùng Đức Tán sinh ra sau khi Công chúa Kim Thành đã qua đời), nhưng việc người Tạng gán ghép nguồn gốc mẫu hệ của vị Tán phổ vĩ đại nhất đời sau cho Công chúa Kim Thành chứng tỏ sự tôn kính và tầm ảnh hưởng sâu đậm của bà trong tâm thức người dân Thổ Phồn, hoàn toàn có thể sánh ngang với Công chúa Văn Thành trước đó.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ 敦煌出土文献《大事纪年》作“ཀིམ་ཤེང་ཁོང་ཅོ་”;《贤者喜宴》作“གྱིམ་ཤིང་ཀོང་ཇོ།”(gyim-shing-Kong-jo)。
  2. ^ 关于金城公主薨年,新旧唐书有不同。《旧唐书·卷196·吐蕃传上》以为薨在开元二十九年(741年)春,是混淆薨年与吐蕃告哀使至长安之年;《新唐书·卷216·吐蕃传上》以为二十八年(740年)薨,但不著月。《资治通鉴·卷214》系之玄宗开元二十八年。宋王钦若《册府元龟·卷295》,亦称开元二十八年。然而,根据敦煌出土的藏文文献《大事纪年》记载,金城公主死于兔年,即玄宗开元二十七年。
  3. ^ nguyên văn là 甥舅宿亲 - tình thân cậu cháu.
  4. ^ 《旧唐书·卷90·高宗中宗诸子传》
  5. ^ 《全唐文》卷16
  6. ^ 《旧唐书·卷196·吐蕃传上》
  7. ^ a b 《新唐书·卷216·吐蕃传上》
  8. ^ 怆别里, nghĩa là "buồn bã ly biệt"
  9. ^ 文成公主不过一宗室女,而中宗于守礼为亲叔,抚养其女,情同所出。今将远别,念女尚幼(以金城公主和赤德祖赞同龄计算,则入藏时金城公主年方十三),悲怆不舍,其来有自。
  10. ^ tức đất phong để công chúa có thể lấy thuế chi dùng
  11. ^ a b 《全唐文》卷100
  12. ^ 《册府元龟·卷980》
  13. ^ 《新唐书·卷78·李暠传》
  14. ^ 《全唐文》卷286
  15. ^ 《西藏王统记》,115~116页。
  16. ^ 《旧唐书·列传第一百四十六上·吐蕃传上》:“赞普之祖母遣其大臣悉薰然来献方物,为其孙请婚”。
  17. ^ Beckwith, pp. 69-70.
  18. ^ 《贤者喜宴》102~103页,又同书110~111页,参见脚注6