Lâm Tâm Như (tiếng Trung: 林心如, tiếng Anh: Ruby Lin, sinh ngày 27 tháng 1 năm 1976) là một nữ diễn viên, ca sĩ, nhà sản xuất phim người Đài Loan.

Lâm Tâm Như
Tập tin:Ruby Lin in 2021.jpg
Lâm Tâm Như vào năm 2021
SinhLâm Tâm Như
27 tháng 1, 1976 (50 tuổi)
Đài Bắc, Đài Loan
Tên khácRuby Lin
Nghề nghiệpCa sĩ
Diễn viên
Nhà sản xuất
Năm hoạt động1994–nay
Người đại diệnCông ty TNHH Bắc Kinh Thần nghệ (19962005)
Hoa Nghị huynh đệ (20062008)
Ruby Studio (2009–nay)
Tác phẩm nổi bậtHoàn Châu cách cách
Tân dòng sông ly biệt
Mỹ nhân tâm kế
Chiều cao1,68 m (5 ft 6 in)
Phối ngẫu
Hoắc Kiến Hoa (cưới 2016)
Con cáiCon gái (9 tuổi)

Tiểu sử

Lâm Tâm Như sinh ra tại Đài Bắc, Đài Loan, là chị cả của một gia đình có 3 anh chị em, có một người em nhỏ hơn cô một tuổi, người kia nhỏ hơn cô 6 tuổi. Cha cô từng là một doanh nhân và mẹ cô làm việc nội trợ.[1] Sau khi bố mẹ cô ly hôn lúc cô 7 tuổi, cô sống với mẹ. Mẹ đưa cô đến thăm họ hàng người thân ở Nhật mỗi năm.

Đời tư

Lâm Tâm Như và Lâm Chí Dĩnh quen nhau khi đóng phim Trường Học Bá Vương. Cha của Lâm Chí Dĩnh từng ám chỉ Lâm Tâm Như là người duy nhất mà con trai từng đưa về nhà ra mắt bố mẹ. Mối tình của cả hai nhanh chóng kết thúc.[2] Tháng 4 năm 2006, Lâm Tâm Như thay MC Từ Hy Đệ dẫn chương trình Khang Hy đến rồi có Lâm Chí Dĩnh là khách mời. Lâm Chí Dĩnh lần đầu tiên đề cập đến mối tình của hai người và lý do chia tay là cả hai dần bận rộn phát triển sự nghiệp nên dần xa cách nhau.[3]

Từ năm 2002, Lâm Tâm Như nhiều lần bị bắt gặp hẹn hò với đạo diễn Hồng Kông Đường Quý Lễ. Nhưng Lâm Tâm Như chưa bao giờ lên tiếng xác nhận. Cặp đôi được cho là đã chia tay năm 2008, khi Lâm Tâm Như ra album mới trong đó có nhiều ca khúc nói về tình yêu đã mất, khiến nhiều lời đồn đoán cô lao vào công việc để hàn gắn nỗi buồn. Đại diện của Lâm Tâm Như cho biết cả hai chỉ là bạn bè, chưa từng yêu nhau.[4]

Ngày 20 tháng 5 năm 2016, cô và nam diễn viên Hoắc Kiến Hoa chính thức xác nhận mối quan hệ.[5] Ngày 31 tháng 7, cặp đôi tổ chức đám cưới tại đảo Bali, Indonesia.[6] Ngày 2 tháng 8, đám cưới lần 2 (lễ quy ninh) được tổ chức tại khách sạn Palais de Chine Hotel ở Đài Bắc.[7]

Ngày 6 tháng 1 năm 2017, Lâm Tâm Như sinh con gái đầu lòng nặng 3,3kg bằng phương pháp sinh mổ tại bệnh viện Phụ sản Trung Sơn Đài Bắc.[8]

Sự nghiệp

Năm 1994, Lâm Tâm Như gia nhập làng giải trí với vai trò người mẫu bán thời gian.

Năm 1997 và 1999, với vai diễn Hạ Tử Vy trong phim truyền hình ăn khách Hoàn châu cách cách của nữ văn sĩ Quỳnh Dao, cô nổi tiếng khắp châu Á.[9]

Sau đó, Lâm Tâm Như góp mặt trong Tiểu Bảo và Khang Hy, bộ phim truyền hình dựa theo tiểu thuyết võ hiệp Lộc đỉnh ký của nhà văn Kim Dung. Trong phim, cô vào vai công chúa Kiến Ninh, đóng cặp với Trương Vệ Kiện. Phim bấm máy năm 1999 tại Bắc Kinh, chiếu ở Đài Loan năm 2000 và chiếu tại Hồng Kông một năm sau đó.[10]

Năm 2001, Lâm Tâm Như cùng dàn diễn viên Triệu Vy, Tô Hữu Bằng, Cổ Cự Cơ góp mặt trong phim truyền hình chuyển thể từ tiểu thuyết Quỳnh Dao Tân dòng sông ly biệt. Phim thu được thành công lớn ở châu Á.

Năm 2002, cô và nam diễn viên Lục Nghị thủ vai chính trong phim thời trang Trai tài gái sắc. Cả hai tiếp tục sánh đôi trong phim điện ảnh Tôi yêu thiên thượng nhân gian vào năm 2004.[11]

Năm 2003, cô tham gia bộ phim Bán sinh duyên.

Năm 2006, cô đóng Đại Từ Đường, phim bấm máy quay từ 2006 nhưng vì nhiều lý do mãi đến 2009, phim mới được lên sóng. Vai diễn Trịnh Tú Vân của Lâm Tâm Như xuyên suốt tác phẩm.

Tập tin:Ruby Lin 1976.jpg
Lâm Tâm Như năm 2007

Năm 2007, cô tham gia Bảng Phong Thần 2, thủ vai Tô Đát Kỷ, nhân vật do Phạm Băng Băng đảm nhận ở phần 1.[12]

Năm 2008, cô quay phim truyền hình Chuyện tình tại đầm Nhật Nguyệt để quảng bá cho du lịch Đài Loan.[13]

Năm 2009, Lâm Tâm Như vào vai nữ chính Đậu Y Phòng trong phim Mỹ nhân tâm kế. Bộ phim được đầu tư với mức kinh phí gần 50 triệu tệ (tương đương 7,3 triệu USD),[14] thuộc hàng bom tấn lúc bấy giờ.[15]

Năm 2011, cô đóng Khuynh thế hoàng phi. Đây là phim đầu tiên Tâm Như làm nhà sản xuất và đóng vai chính. Khuynh thế hoàng phi ra mắt khán giả ở Trung Quốc vào cuối năm 2011, ngay lập tức tạo ấn tượng tốt ngay từ những tập phim đầu tiên. Sau 8 ngày trình chiếu, bộ phim thu hút hơn trăm triệu người xem, phá kỷ lục 11 ngày được Thời đại hôn nhân thiết lập trước đó, sau đó con số đó đã đạt đến ba trăm triệu người xem sau 17 ngày trình chiếu.

Tập tin:Ruby Lin in Shanghai, China in 2012.jpg
Lâm Tâm Như năm 2012

Năm 2012, phim Tỷ tỷ tiến lên do cô làm sản xuất và đóng vai chính phát sóng. Cũng trong năm này, cô kết đôi cùng Huỳnh Hiểu Minh trong bộ phim cổ trang Tinh trung Nhạc Phi.

Năm 2013, Lâm Tâm Như đóng Võ Mỵ Nương, một vai nhỏ trong tác phẩm Thiếu niên thần thám Địch Nhân Kiệt do cô làm nhà sản xuất.

Đầu năm 2014, Lâm Tâm Như đảm đương vai trò nhà sản xuất, đồng thời cũng là nữ chính trong bộ phim cổ trang Tú Lệ giang sơn chi trường ca hành. Ở tác phẩm này, Lâm Tâm Như đã mạnh tay đầu tư hơn 150 triệu NDT (24,5 triệu USD) cho 55 tập phim. Năm 2016, bộ phim lên sóng đài Giang Tô.

Đến tháng 7 năm 2014, Lâm Tâm Như xuất hiện trong bộ phim kinh dị Kinh thành nhà số 81. Chỉ tính riêng trong ngày đầu tiên ra mắt, phim đã đạt doanh thu hơn 40 triệu NDT (khoảng 137 tỷ đồng). Sau 3 ngày phim được công chiếu, con số này đã lên đến 150 triệu NDT (khoảng 513 tỷ đồng), lập kỷ lục mới trong dòng phim kinh dị Trung Quốc.

Cuối năm 2014, Lâm Tâm Như tiếp tục đầu tư sản xuất và đóng vai chính trong phim 16 mùa hạ. Tuy chỉ phát sóng trên kênh truyền hình nhỏ nhưng phim đã đạt được thành tựu đáng kể và trở thành bộ phim có rating tốt nhất của đài PTS từ trước đến nay. Phim nhận được 7 đề cử tại giải Kim Chung lần thứ 50.[16]

Năm 2015, cô tham gia phim điện ảnh hài Đại hỷ lâm môn cùng Lý Đông Học. Đây là bộ phim có doanh thu hàng đầu trong dịp Tết Nguyên Đán ở Đài Loan khi đạt con số hơn 200 triệu Đài tệ (6,30 triệu USD) vào ngày 3 tháng 3.[17]

Năm 2016, cô đóng vai chính trong phim truyền hình Hành trình xuyên thời gian kì diệu cùng Giả Nãi Lượng, đồng thời đóng vai chính trong hai tác phẩm điện ảnh là Ma cung mị ảnhMa luân.

Tháng 3 năm 2017, cô trở lại làm việc sau khi tạm dừng từ tháng 12 để chuẩn bị sinh con. Cô đóng vai một người mẹ giàu tình cảm, người sẵn sàng đặt tính mạng của mình để bảo vệ con gái mình trong bộ phim kinh dị bí ẩn Phía sau nghi can X, được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của tác giả Nhật Bản Keigo Higashino do Tô Hữu Bằng làm đạo diễn.[18] Phim mang về cho cô giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại giải thưởng điện ảnh Hoa Đỉnh.

Vào tháng 5 năm 2017, cô trở lại truyền hình Đài Loan với bộ phim truyền hình lãng mạn Chàng trai của tôi, kiêm vai trò sản xuất. Phim được công chiếu trên TTV và GTV vào tháng 12 năm 2017.

Năm 2020, Lâm Tâm Như vào vai khách mời đặc biệt trong phim trinh thám Trò chơi nạn nhân. Tác phẩm gồm tám tập, dẫn đầu lượng người xem trên Netflix Đài Loan. Theo Chinatimes, Lâm Tâm Như "lột xác" với vai "mỹ nhân rắn độc" tên Lý Nhã Quân. Tác phẩm cho thấy sự đột phá của nữ diễn viên, khác hẳn hình tượng nhân vật chính diện trong phần lớn phim trước đây của cô.

Tập tin:Ruby Lin at the 57th Golden Bell Awards in October 2022.png
Lâm Tâm Như năm 2022

Đầu năm 2021, Lâm Tâm Như ra mắt hai tác phẩm do cô sản xuất và tham gia diễn xuất là phim điện ảnh Miss Andy và phim truyền hình Những rắc rối khi khởi nghiệp.

Cuối năm 2021, phim Hoa đăng sơ thượng do cô sản xuất và đóng chính được chiếu trên Netflix toàn cầu. Hoa đăng sơ thượng có 24 tập và được chia làm 3 phần, khắc họa cuộc đời sóng gió của những tiếp viên tại quán rượu kiểu Nhật ở Đài Loan vào thập niên 1980. Dự án được đầu tư gần 10 triệu USD được chấm 8,2/10 điểm chất lượng trên Douban, trang đánh giá phim của Trung Quốc.[19]

Danh sách phim

Phim truyền hình

Năm Tựa đề Vai diễn
- Chốn hậu cung Trần Lệ Thi (vợ của Tề Hồ công)
1995 Hồ sơ trọng án của Đài Loan Tiểu Quân
1996 Nhiệm vụ đặc biệt Tô Huệ Như
Ba người họ Đường Nhã Tuyền
Thiên sư Chung Quỳ Mặc Ngọc
Một kiếp chung tình Bái Bái
Thiên sứ giáng trần Dương Thanh Tâm
1997 Hoàn Châu cách cách Hạ Tử Vi/Hạ Vũ Hà
Tân Bao Thanh Thiên Phi Phượng Quận chúa
Bản Tango Thượng Hải Y Điền
1998 Hoàn Châu cách cách 2 Hạ Tử Vi
1998 Thần bếp Hồng Nương
1998 Vua đầu bếp Triệu San San
1999 Túy quyền Hồng Ỷ Liên
2000 Tân dòng sông ly biệt Lục Như Bình
2000 Tiểu Bảo và Khang Hy Kiến Ninh Công chúa
2001 Không thể không có em Tư Gia Dịch
2001 Thiếu niên Trương Tam Phong Băng Tâm
2001 Ô Long Thiên tử Vương Ông Tu
2001 Tân Sở Lưu Hương Tư Không Tinh Nhi
2002 Trai tài gái sắc Tô Lạp
2002 Bán sinh duyên Cố Mạn Trinh
2003 Giây phút sinh tử Tiết Thái Nguyệt (Nguyệt Thần)[20]
2003 Mối tình hoa Tử Đằng Lê Diệc Kiều
2004 Ảo thuật kỳ duyên Lâm Hiểu Mai
2005 Công chúa Đại Lý Đoàn Ngải Nguyệt
2005 Đường đến danh vọng Mễ Lộ
2005 Xe điện ngầm Tinh Tinh
2005 Bản tình ca Paris Mạn Chi
2006 Đại từ đường Trịnh Tú Vân
2007 Bảng phong thần II Đát Kỷ
2007 Tô Đông Pha Vương Phất
2008 Huyện trưởng Lão Diệp
2008 Yêu tại đầm Nhật Nguyệt An An
2009 Mỹ nhân tâm kế Đậu Y Phòng
2010 Tam quốc Tôn Thượng Hương
Công bố độc quyền Phương Chu
Tân Hoàn Châu cách cách Hạ Vũ Hà
2011 Khuynh thế hoàng phi Mã Phức Nhã
2012 Không phải hoa chẳng phải sương Tuyết Hoa (Angel)
Tinh trung Nhạc Phi Lý Hiểu Nga
Chị gái tiến lên Uông Minh Minh
Lãng quên Vi An
2014 16 mùa hạ Đường Gia Ni
2014 Thiếu niên thần thám Địch Nhân Kiệt Võ Mị Nương
2016 Tú Lệ giang sơn chi trường ca hành Âm Lệ Hoa
2016 Hành trình xuyên thời gian kỳ diệu Tạ Giai Hân
2017–2018 Chàng trai của tôi Tô Tiểu Phi
2020 Trò chơi nạn nhân Lý Nhã Quân
2021 Những rắc rối khi khởi nghiệp Công Dã Tiểu Điểu
2021–2022 Hoa đăng sơ thượng La Vũ Nông
2023 Sát nhân bắt chước Diêu Nhã Từ
2023 Vào giờ phút này La Hân Lam
2025 Holiday Thẩm Văn Huệ

Phim điện ảnh

Năm Tựa đề Vai diễn Ghi chú
1995 Bá vương học đường Công chúa
1998 Tâm nguyện Mao Muội
1999 Bad Girl Trilogy Minh tinh
Kính ma Judy
2000 Never Been To Me Tiêu Vinh
Đại Doanh Gia Văn Tĩnh
Đỗ quốc phù thành Mai Gia Huệ
Lôi đình chiến cảnh Ruby
2001 Hoạt Họa Phong Vân A Mộng
2004 Tôi Yêu Thiên Thượng Nhân Gian Lưu Hải
Sinh tử cấp tốc Tôn Hân Hân
2005 DragonBlade Ba Liba Lồng tiếng
Nhất Tiễn Song Điêu Hinh Hinh
2009 Bông Hồng Đêm Diệp Mai Quế
Phi Thường Hoàn Mỹ Lục Tiểu Tịch (Lucy)
2010 Đáng kiếp độc thân Phi Nhi
Không người lái Vương Đan
2012 Giày Tú Hoa Tô Nhị
2013 Nhà ma Hạ Lập Đông
Khuynh thành Tần Tiêu Hùng
Phi thường hạnh vận Lục Tiểu Tịch
2014 Điềm Mật Sát Khí Vợ tương lai Vai khách mời
Nhà 81 Kinh Thành Lục Điệp Ngọc / Hứa Nhược Khanh
2015 Đại hỷ lâm môn Lý Thục Phân
2016 Ma cung mị ảnh Mạnh Tư Phàm
Ma luân Lưu Thần Thần 
2017 Phía sau nghi can X Trần Tịnh
2021 Miss Andy Tô Hà Kiêm nhà sản xuất

Kịch

Năm Tên
2010 Sweet Sweet Love

Sách

Năm Tên Ghi chú
1999 Spring Emotion / 春情 photo album
Sharing / 心如心語
2000 Love in Great Britain / 英倫情人
2005 My Private New York / 私藏心如 Nhật ký du lịch

Giải thưởng và đề cử

Năm Giải Phim Hạng mục Kết quả
2006 Chinese TVDrama Nữ Diễn viên Đài Loan được yêu thích nhất Đoạt giải
2010 Chinese TVDrama Nữ Diễn viên Đài Loan, Hồng Kông được yêu thích nhất Đoạt giải
2010 Hoa Đỉnh Phi thường hoàn mỹ Nữ Diễn viên điện ảnh được yêu thích nhất Đoạt giải
2011 Hoa Đỉnh Nữ Diễn viên phụ xuất sắc nhất Đoạt giải
2011 LHP Truyền hình Trung Quốc Khuynh thế hoàng phi Nhà sản xuất xuất sắc nhất Đoạt giải
2012 Quốc Kịch Thịnh Điển Nữ Diễn viên có sức lôi cuốn nhất năm Đoạt giải
2015 Quốc Kịch Thịnh Điển Nữ Diễn viên thực lực nhất Đoạt giải
2015 Kim Chung lần thứ 50 Mười sáu mùa hạ Nữ Diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
2016 Hoa Đỉnh Nữ Diễn viên truyền hình xuất sắc nhất Đoạt giải
2018 Hoa Đỉnh Phía sau nghi can X Nữ Diễn viên chính xuất sắc nhất Bản mẫu:Win

Ghi chú

  1. ^ "Bản sao đã lưu trữ". Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2003.
  2. ^ "愛情原來如此脆弱!揭秘林心如和林志頴當年分手內幕". 中時電子報. ngày 27 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016.
  3. ^ 許逸群. "《康熙》見證林志穎、林心如舊情人相擁 認因距離分手". 東森新聞雲. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016.
  4. ^ 林士傑 (ngày 27 tháng 3 năm 2012). "「黃金剩女」林心如情史大揭秘 無法切割唐季禮". Now news. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2016.[liên kết hỏng]
  5. ^ "霍建华520@林心如公开恋情:希望得到祝福". 新浪娱乐. ngày 20 tháng 5 năm 2016.
  6. ^ "婚紗照爆光!林心如躺霍建華胸膛露幸褔微笑". 東森新聞雲. ngày 31 tháng 7 năm 2016.
  7. ^ "霍心台北歸寧內場曝光!5000朵翡翠玫瑰包圍超夢幻". 東森新聞雲. ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  8. ^ "恭喜!林心如生了 臉書曬喜訊". Yahoo奇摩娛樂新聞. ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  9. ^ "Ruby Lin (林心如)".
  10. ^ Phong Kiều (ngày 9 tháng 9 năm 2021). "Trương Vệ Kiện và '7 cô vợ' hơn 20 năm trước". VnExpress.
  11. ^ (Theo Đất Mũi) (ngày 10 tháng 4 năm 2004). "Lục Nghị - Lâm Tâm Như và 'Trai tài gái sắc'". VnExpress.
  12. ^ Mi Vân, theo UDN (ngày 30 tháng 12 năm 2007). "Lâm Tâm Như "biến hoá" trong vai Đát Kỷ". Báo Dân Trí.
  13. ^ Mai Trần, theo UDN (ngày 28 tháng 3 năm 2008). "Lâm Tâm Như giảm cát-xê để đóng phim ở quê hương". VnExpress.
  14. ^ Zhao Dandan (ngày 28 tháng 8 năm 2009). ""Meiren Xinji" to open its doors to the Japanese and Korean markets". CRI Online (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2009.
  15. ^ (bằng tiếng Trung Quốc) 《美人心計》12年後敲日韓大門 片商心埋紅人榜 Lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2014 tại Wayback Machine
  16. ^ "第50屆金鐘獎得獎名單快報". 自由娛樂. ngày 26 tháng 9 năm 2015.
  17. ^ "豬哥亮賀歲片之王《大囍臨門》票房破兩億". 新唐人亞太台 (bằng tiếng Trung). ngày 3 tháng 3 năm 2015.
  18. ^ Mi Vân, theo QQ (ngày 10 tháng 3 năm 2017). "Lâm Tâm Như tươi rói bên Tô Hữu Bằng". Báo Dân Trí.
  19. ^ Mi Vân (ngày 6 tháng 12 năm 2021). "Lâm Tâm Như thừa nhận không còn được ưu ái". Báo Dân Trí.
  20. ^ "董洁初试古装林心如变杀手 联手《飞刀又见飞刀》" (bằng tiếng Trung). ngày 31 tháng 7 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2026.

Liên kết ngoài