Lê Khoáng (chữ Hán: 黎曠, ? – 1420)[1][2] là một hào trưởng thế gia có uy tín và tầm ảnh hưởng lớn tại vùng núi Lam Sơn, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa (nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) vào cuối thời Trần và thời thuộc Minh. Ông là thân phụ của Bình Định vương Lê Lợi — người lãnh đạo thành công cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi nhà Minh, giành lại độc lập cho Việt Nam. Sau khi triều đại Hậu Lê được thành lập, vào tháng 3 năm Tuyên Đức thứ 3 triều Minh (1428), Lê Khoáng được Lê Lợi truy tôn miếu hiệu là Lê Độ Tổ và thụy hiệu là Chiêu Đức Tuyên Hoàng Đế.[3][4][5]

Lê Khoáng
Thông tin chung
Sinh?
Mất1420
Lam Sơn
An tángLăng Phật hoàng
Phối ngẫuTrịnh Ngọc Thương
Hậu duệLê Lợi
Thụy hiệu
Hiến Văn Duệ Triết Phúc Hoàng Đế
Miếu hiệu
Lê Độ Tổ
Hoàng tộcNhà Lê
Thân phụLê Đinh
Thân mẫuNguyễn Thị Quách
Nghề nghiệpHào Trưởng

Ngày 15 tháng 2 năm Thiệu Bình thứ 4 (tức ngày 21 tháng 3 năm 1437), Lê Khoáng được cháu nội là vua Lê Thái Tông truy tôn là Hiến Văn Duệ Triết Hoàng Đế,[6] sau truy thêm thành Hiến Văn Duệ Triết Phúc Hoàng Đế;[1][2] mộ ông được gọi là Lăng Phật hoàng.[1]

Tranh cãi

Sách "Khâm định Việt sử Thông giám cương mục" chép rằng: tháng 3 năm Thuận Thiên đầu tiên, Lê Khoáng được truy thuỵ "Hiến Văn Phúc Hoàng Đế", miếu hiệu là "Tuyên Tổ". Nhưng sách "Đại Việt sử ký toàn thư" lại ghi rằng ông được truy là "Tuyên Tổ Hoàng Đế" mà không đề cập tới thuỵ "Hiến Văn Phúc". Sau khi lên ngôi vua, ngày 20 tháng 4, Lê Lợi liền xưng đế và truy tôn miếu hiệu cho cha là "Tuyên Tổ Hiến Văn Hoàng Đế", điều này cho thấy rõ ràng nhà vua có truy thuỵ cho Lê Khoáng vào tháng 3. Thông tin trên các bia lăng vua Lê tại Lam Sơn, trước thời vua Thánh Tông, không có thuỵ hiệu nào có chữ giản thể được thêm vào sau khi nhà vua băng hà. Do vậy có thể suy rằng, trước thời vua Thánh Tông, các vua Lê không có quy định phải thêm chữ giản thể vào thuỵ hiệu, nên thuỵ "Phúc" ắt phải được thêm vào sau này.

Gia quyến

Lê Khoáng kết hôn với bà Trịnh Ngọc Thương, cả 2 có 3 người con trai và ba người con gái gồm:

Tham khảo


  1. ^ a b c "Lê triều đế vương sự nghiệp" Lê triều liệt thánh duệ hiệu lăng sở kỵ thần.
  2. ^ a b Lịch triều hiến chương loại chí quyển Nhị thập nhất, Lễ nghi chí, Thái Miếu điện phụng sự các vị.
  3. ^ Trần Trọng Kim, "Việt Nam sử lược", trang 149.
  4. ^ "Đại Việt sử ký toàn thư", Bản kỷ, quyển 10.
  5. ^ Lê Khoáng sinh trưởng trong một gia đình hào trưởng thế gia có truyền thống nhiều đời khai hoang và lập nghiệp tại vùng đất Lam Sơn, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa. Ông là con trai của cụ Lê Đinh (người sau này được truy tôn là Lê Hiển Tổ) và bà Nguyễn Thị Ngọc Quách. Thừa hưởng cơ nghiệp lớn từ tổ tiên, Lê Khoáng tiếp tục quản lý và mở rộng vùng đất Lam Sơn, trở thành một hào trưởng đời thứ tư vô cùng uy tín, giàu lòng nhân ái, luôn giúp đỡ dân nghèo và được nhân dân quanh vùng kính trọng, quy thuận. Về gia quyến, Lê Khoáng kết hôn với bà Trịnh Thị Ngọc Thương, một người phụ nữ hiền thục thuộc dòng dõi gia thế trong vùng. Hai ông bà đã cùng nhau sinh hạ và nuôi dạy được tổng cộng 6 người con, bao gồm 3 con trai và 3 con gái. Các con trai của ông lần lượt là Lê Học (con trai trưởng, một tướng lĩnh tham gia giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và đã anh dũng hy sinh), Lê Trừ (con trai thứ, tổ tiên trực tiếp của các vị hoàng đế thuộc thời kỳ Lê Trung Hưng sau này) và Lê Lợi (con trai út, vị anh hùng dân tộc kiệt xuất đã dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn, đánh đuổi quân nhà Minh và lên ngôi hoàng đế sáng lập ra vương triều Hậu Lê). Các con gái của ông bao gồm Lê Ngọc Tá (còn được gọi là Công chúa Lê Thị Ngọc Vị), Lê Ngọc VinhLê Ngọc Tiên. Vào năm Canh Tý (1420), Lê Khoáng qua đời và được an táng tại quê nhà Lam Sơn.
  6. ^ "Đại Việt sử ký toàn thư", Bản kỷ, quyển 11.