Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.

Bản mẫu:Stringsplit
Bản mẫu:Stringsplit
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Tên khácLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Tên húyLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Tên chữLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Tên hiệuLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Thụy hiệuLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Miếu hiệuLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Tiết độ sứ Định Nan
Nhiệm kỳ
895-908
Tiền nhiệmThác Bạt Tư Cung
Kế nhiệmLý Di Xương
Binh nghiệp
Nguyện trung thànhLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
ThuộcLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Cấp bậcLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Đơn vịLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Tham chiếnLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên húy
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Ngày sinh
Bản mẫu:WDDF
Nơi sinh
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Quê quán
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Rửa tội
Tên thánh
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Ngày rửa tội
Bản mẫu:WDDF
Mất
Thụy hiệu
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Ngày mất
Bản mẫu:WDDF
Nơi mất
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Nguyên nhân mất
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
An nghỉ
Miếu hiệu
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Ngày an táng
Bản mẫu:WDDF
Nơi an táng
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Giới tínhLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Gia quyến
Thân phụ
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Thân mẫu
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Anh chị em
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Phối ngẫu
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Người tình
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Hậu duệ
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Học vấn
Học vị
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Trường học
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Thầy giáo
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Học sinh
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Gia tộcLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Nghề nghiệpLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Dân tộcLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Tôn giáoLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Quốc tịchLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Kỳ tịchLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Thời kỳLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Đảng pháiLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Tác phẩmBản mẫu:Wdalf
Giải thưởngLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Chữ kýLỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Ảnh hưởng bởi
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
x • t • s

Lý Tư Gián (giản thể: 李思谏; phồn thể: 李思諫; ?- 908), là một quân phiệt người Đảng Hạng vào những năm cuối triều Đường và sau đó là triều Hậu Lương thời Ngũ Đại Thập Quốc. Ông cai quản Định Nan quân[c 1] với chức vụ tiết độ sứ, độc lập trên thực tế.

Thời Đường

Gia đình của Lý Tư Gián thuộc Bình Hạ bộ của tộc Đảng Hạng. Huynh trưởng Thác Bạt Tư Cung của ông trở thành một quân phiệt trong thời gian Đường Hy Tông trị vì, và do có công trong việc trấn áp loạn Hoàng Sào nên được bổ nhiệm làm Định Nan tiết độ sứ, ban cho họ Lý của hoàng tộc Đường.[1]

Lý Tư Cung mất khoảng năm 886 (trước khi có thể tiến công Lý Uân).[1][2] Lý Tư Gián kế nhiệm chức Định Nan tiết độ sứ, trong khi một huynh đệ khác là Lý Tư Hiếu (李思孝) được trao cho Bảo Đại[c 2].[1] (Tân Ngũ Đại sử thể hiện rằng Lý Tư Gián không phải là Định Nan tiết độ sứ cho đến năm 895, song có vẻ là nhầm lẫn ông với một huynh đệ khác là Lý Tư Kính (李思敬).)[3]

Năm 895, khi Đường Chiêu Tông chạy khỏi kinh thành Trường An đến Tần Lĩnh do lo sợ các quân phiệt Phượng Tường[c 3] tiết độ sứ Lý Mậu Trinh và Tĩnh Nan[c 4] tiết độ sứ Vương Hành Du, một quân phiệt khác là Hà Đông[c 5] tiết độ sứ Lý Khắc Dụng tiến đến khu vực để giúp đỡ Hoàng đế. Đáp lại, ngày Quý Mão (19) tháng 8 (11 tháng 9) Đường Chiêu Tông bổ nhiệm Lý Khắc Dụng làm Bân Ninh tứ diện hành doanh đô chiêu thảo sứ, bổ nhiệm Lý Tư Hiếu làm Bắc diện chiêu thảo sứ, bổ nhiệm Lý Tư Gián làm Đông diện chiêu thảo sứ. Lý Khắc Dụng sau đó đánh bại Vương Hành Du.[4]

Năm 896, do Lý Mậu Trinh lại đe dọa Trường An, Đường Chiêu Tông chạy đến chỗ quân phiệt Hàn Kiến. Trong tháng 9 ÂL, Đường Chiêu Tông bổ nhiệm Tể tướng Tôn Ác (孫偓) làm Phượng Tường tứ diện hành doanh đô thống, bổ nhiệm Lý Tư Gián làm Tĩnh Nan tiết độ sứ, kiêm Phó đô thống. Tuy nhiên, chiến dịch chống Lý Mậu Trinh không thực sự diễn ra.[4] Khi chiến dịch chính thức bị bãi bỏ vào ngày Kỉ Hợi (23) tháng 1 năm Đinh Tị (28 tháng 2 năm 897), Lý Tư Gián được bổ nhiệm làm Ninh Tái[c 6] tiết độ sứ. (Tuy nhiên, không có ghi chép chứng tỏ ông thực sự đến trấn này.)[5]

Thời Hậu Lương

Năm 907, Tuyên Vũ[c 7] tiết độ sứ Chu Toàn Trung buộc Đường Ai Đế phải thiện nhượng hoàng vị, khởi đầu triều Hậu Lương.[6] Hậu Lương Thái Tổ ban cho Lý Tư Gián tước 'kiểm hiệu thái úy', kiêm 'thị trung'.[7] Tháng 11 ÂL năm Mậu Thìn (908), Lý Tư Gián qua đời, kì tử (hoặc tôn) Lý Di Xương tự xưng là lưu hậu vào ngày Giáp Tuất (6) cùng tháng (2 tháng 12).[8][9] Hoàng đế Hậu Lương sau đó bổ nhiệm Lý Di Xương làm tiết độ sứ.[7]

Chú thích

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ 定難, trị sở nay thuộc Du Lâm, Thiểm Tây
  2. ^ 保大, trị sở nay thuộc Diên An, Thiểm Tây
  3. ^ 鳳翔, trị sở nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây
  4. ^ 靜難, trị sở nay thuộc Hàm Dương, Thiểm Tây
  5. ^ 河東, trị sở nay thuộc Thái Nguyên, Sơn Tây
  6. ^ 寧塞, tức là Bảo Đại
  7. ^ 宣武, trị sở nay thuộc Khai Phong, Hà Nam

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.