Lưu Chính Hội
Lưu Chính Hội (tiếng Trung: 劉政會; ? – 635) là võ tướng và khai quốc công thần của nhà Đường buổi đầu.
Lưu Chính Hội | |
|---|---|
| 劉政會 | |
| Tập tin:Chinese - The Twenty-Four Ministers of the Tang -T'ang- Dynasty Emperor Taizong -T'ai-Tsung- - Walters 3557 - Liu Zhenghui.jpg | |
Chức vụ | |
Thông tin cá nhân | |
| Sinh | Không rõ Tạc Thành, Hoạt Châu |
| Mất | 635 Hồng Châu |
| Nghề nghiệp | Tướng lĩnh, quan chức |
| Cha | Lưu Thản |
| Con cái | Lưu Huyền Ý (trưởng nam) Lưu Kỳ (thứ nam) |
Tiểu sử
Lưu Chính Hội quê ở huyện Tạc Thành, Hoạt Châu[1] và là hậu duệ của thân vương Hung Nô thời Hán Khứ Ti. Những năm Đại Nghiệp nhà Tùy, ông giữ chức Tư mã tại phủ Ưng Dương Thái Nguyên.[2] Sau đó, ông dẫn quân quy phục dưới trướng Lý Uyên. Khi Lý Thế Dân cùng Lưu Văn Tĩnh và những người khác mật mưu khởi binh, khiến hai vị Phó Lưu thủ Tấn Dương là Vương Uy và Cao Quân Nhã sinh nghi. Lý Thế Dân bèn cử Lưu Chính Hội đến Thái Nguyên tố cáo Vương Uy và Cao Quân Nhã mưu phản, rồi xử trảm cả hai.[3] Lý Uyên khởi binh, phong ông làm Hộ Tào Tham quân.[4] Sau theo cha con Lý Uyên công phá Trường An, rồi làm phụ tá phủ Thừa tướng.
Đầu thời Vũ Đức nhà Đường, ông được thăng quan đến chức Vệ Úy Thiếu khanh,[5] trấn giữ Thái Nguyên, quản lý hậu phương. Ông nổi tiếng là người "bên trong thì vỗ về binh sĩ, bên ngoài thì hòa hợp với Di Địch, gần xa không ai không vui lòng quy phục." Khi Lưu Vũ Chu tấn công Thái Nguyên, các hào cường ở Tấn Dương như Tiết Uyên đã phản lại nhà Đường và hưởng ứng Lưu Vũ Chu. Lưu Chính Hội không may bị bắt. Trong ngục, ông bí mật viết thư dâng lên Đường Cao Tổ, phân tích cục diện của Lưu Vũ Chu, tạo điều kiện thuận lợi giúp Lý Thế Dân đánh bại được Lưu Vũ Chu.[6] Sau khi bình định loạn Lưu Vũ Chu, ông được giải cứu và khôi phục lại chức vụ cũ. Ông lần lượt trải qua các chức vụ như Hình bộ Thượng thư, Quang Lộc khanh, và được phong tước Hình Quốc công. Đầu những năm Trinh Quán thời Đường Thái Tông, ông được thăng làm Đô đốc Hồng Châu và ban thực phong ba trăm hộ.
Năm Trinh Quán thứ 9 (635), ông qua đời. Thái Tông đích thân ban chiếu chỉ rằng: "Vào ngày khởi nghĩa, quả thực có công lao đặc biệt, việc an táng cần được ưu đãi trọng hậu."[7] Ông được truy thụy là Tương, truy tặng chức Dân bộ Thượng thư. Sau này, ông được truy cải phong làm Du Quốc công, và được đưa vào thờ chung ở miếu đình của Cao Tổ cùng với Ân Khai Sơn.
Gia đình
Ông nội: Lưu Hoàn Tuấn (劉環雋), từng giữ chức Trung thư Thị lang thời Bắc Tề.[8]
Con cháu
- Lưu Huyền Ý (刘玄意), tự Thâm Chi (深之):Kế thừa tước Du Quốc công, cưới Nam Bình công chúa, con gái thứ ba của Đường Thái Tông.[9] Dưới thời Đường Cao Tông, ông làm quan đến chức Thứ sử Nhữ Châu.
- Lưu Kỳ (刘奇):Thời Trường Thọ, làm Thiên Quan Thị lang. Ông tiến cử Trương Trạc và Tư Mã Hoàng làm Giám sát Ngự sử. Hai người này nhờ Thân Đồ Đãng để bày tỏ lời cảm ơn với Lưu Kỳ, Lưu Kỳ nghiêm sắc mặt nói: "Cử người hiền vốn không có tư lợi, cần gì phải cảm ơn?". Những người nghe thấy đều kính phục. Sau này, ông bị bọn khốc lại vu oan, và bị giết.[10]
- Lưu Thận Tri (刘慎知)
- Lưu Quýnh (刘褧), làm Hoạch Gia lệnh.
- Lưu Tảo (刘藻), tự Mậu Thật (茂實), làm Đông A lệnh.
- Lưu Phù (刘符), tự Đoan Kỳ (端期), làm Bí thư lang.
- Lưu Sùng Quy (刘崇龜), tự Tử Trường (子長), làm Thứ sử Thái Châu.
- Lưu Thùy (刘垂), tự Chiêu Khoáng (昭貺), làm Thứ sử Quảng Châu, Thanh Hải quân Tiết độ sứ.
- Lưu Sùng Di (刘崇彝), tự Tử Hiến (子憲), làm Đô Quan lang trung.
- Lưu Sùng Vọng (刘崇望), làm Tể tướng thời Đường Chiêu Tông.[11]
- Lưu Sùng Lỗ (刘崇魯), tự Giao Văn (郊文), làm Thủy bộ Viên ngoại lang, Tri Chế cáo.
- Lưu Sùng Mô (刘崇謨), tự Thành Vũ (成禹), làm Thái Thường Thiếu khanh, Hoằng Văn Quán Trực học sĩ.
- Lưu Sùng Khuê (刘崇珪), tự Bảo Thần (寶臣)
- Lưu Nhạc (刘岳), tự Chiêu Phụ (昭輔), làm Hồng Động lệnh.
- Lưu Ôn Tẩu (刘温叟), tự Vĩnh Linh (永龄)
- Lưu Nhạc (刘岳), tự Chiêu Phụ (昭輔), làm Hồng Động lệnh.
- Lưu Khôi (刘瑰), Lưu Vu (刘玗)
- Lưu Sùng Quy (刘崇龜), tự Tử Trường (子長), làm Thứ sử Thái Châu.
- Lưu Phù (刘符), tự Đoan Kỳ (端期), làm Bí thư lang.
- Lưu Tảo (刘藻), tự Mậu Thật (茂實), làm Đông A lệnh.
- Lưu Quýnh (刘褧), làm Hoạch Gia lệnh.
- Lưu Siêu (刘超), làm Thiếu doãn Hà Nam.
- Lưu Toàn Thành (刘全誠)
- Lưu Vi (刘微), tự Khả Đại (可大), làm Thái thú Ngô Quận, Giang Nam Thái phỏng sứ.
- Lưu Phương Bình (刘方平)
- Lưu Đồng (刘同), làm Vạn Niên lệnh.
- Lưu Thận Tri (刘慎知)
- Lưu Tuần (刘循), làm Kim Ngô Tướng quân.
- Lưu Kỳ (刘奇):Thời Trường Thọ, làm Thiên Quan Thị lang. Ông tiến cử Trương Trạc và Tư Mã Hoàng làm Giám sát Ngự sử. Hai người này nhờ Thân Đồ Đãng để bày tỏ lời cảm ơn với Lưu Kỳ, Lưu Kỳ nghiêm sắc mặt nói: "Cử người hiền vốn không có tư lợi, cần gì phải cảm ơn?". Những người nghe thấy đều kính phục. Sau này, ông bị bọn khốc lại vu oan, và bị giết.[10]
- Lưu Huyền Tượng (刘玄象), làm Chủ Khách lang trung.
- Lưu Huyền Dục (刘玄育), làm Thứ sử Dịch Châu.
Tham khảo
- Cựu Đường thư quyển 58, liệt truyện 8 – Lưu Chính Hội truyện
- Tân Đường thư quyển 90, liệt truyện 15 – Lưu Chính Hội truyện
Chú thích
- ^ Nay là hương Tạc Thành, huyện Diên Tân, tỉnh Hà Nam.
- ^ Cựu Đường thư: Dưới thời Đại Nghiệp nhà Tùy, [ông] làm Tư mã Thái Nguyên Ưng Dương phủ.
- ^ Cựu Đường thư: Vương Uy và Cao Quân Nhã mưu đồ gây hại cho Cao Tổ [Lý Uyên]... Sau khi bắt giữ được Vương Uy và những người khác, [Lý Uyên] cuối cùng đã có thể dấy binh, đây chính là công lao của [Lưu] Chính Hội.
- ^ Viên chức phụ trách xử lý các công việc hành chính liên quan đến tài chính, thuế khóa, hộ khẩu và lương thực trong cơ quan quân sự hoặc phủ của một vị tướng lĩnh thời phong kiến.
- ^ Chức quan võ cao cấp đứng thứ hai trong cơ quan Vệ Úy tự quản lý kho tàng vũ khí và khí tài quân sự của triều đình.
- ^ Cựu Đường thư: Sau đó, Lưu Vũ Chu tiến sát đến Tịnh Châu, hào tộc Tấn Dương là Tiết Uyên cùng đồng bọn đã mở thành nội ứng cho giặc. Chính Hội bị giặc bắt giữ, nhưng [trong khi bị giam] ông đã mật tấu luận về tình hình thế lực của Vũ Chu.
- ^ Cựu Đường thư: Thái Tông tay viết chiếu thư rằng: “Ngày dấy nghĩa, [ngươi] thực sự có công lao đặc biệt, việc mai táng cũng cần phải ưu đãi hậu hĩnh.”
- ^ Cựu Đường thư: Tổ [phụ] là Hoàn Tuấn, giữ chức Trung thư Thị lang thời Bắc Tề.
- ^ Cựu Đường thư: Con là Huyền Ý kế thừa tước vị, cải phong thành Du Quốc công, kết hôn với Nam Bình công chúa, và được phong làm Phò mã Đô úy.
- ^ Tân Đường thư: Con thứ là Kỳ... sau này bị khốc lại hãm hại, và bị giết.
- ^ Tân Đường thư: Cháu đời thứ bảy là Sùng Vọng, tự Hy Đồ, đỗ Tiến sĩ... Chiếu phong Sùng Vọng làm Kiếm Nam Đông Xuyên Tiết độ sứ, kiêm Đồng Trung thư Môn hạ Bình chương sự.
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).