Bước tới nội dung

Nagato (lớp thiết giáp hạm)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Lớp thiết giáp hạm Nagato)
<th height="15" colspan="2" Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Data”.>Khái quát lớp tàu <th height="15" colspan="2" Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Data”.>Đặc điểm khái quát
Thiết giáp hạm Nagato
Tên gọi Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Xưởng đóng tàu Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Bên khai thác Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Lớp trước Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Lớp sau Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Thời gian đóng tàu Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Hoàn thành Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Bị mất Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Kiểu tàu Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Trọng tải choán nước Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Chiều dài Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Sườn ngang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Mớn nước Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Động cơ đẩy Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Tốc độ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Tầm xa Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Thủy thủ đoàn Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Vũ khí Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Bọc giáp Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.
Máy bay mang theo Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WPSHIPS utilities”.

Lớp thiết giáp hạm Nagato (tiếng Nhật: 長門型戦艦; Rōmaji: Nagato-gata senkan; phiên âm Hán-Việt: Trường Môn hình chiến hạm) bao gồm hai thiết giáp hạm của Hải quân Đế quốc Nhật Bản hoạt động từ sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất cho đến Chiến tranh Thế giới thứ hai. Cái tên Nagato được đặt theo tỉnh Nagato. Hai chiếc trong lớp: Mutsu bị mất sau một vụ nổ bí ẩn tại chính quốc Nhật Bản năm 1943, trong khi Nagato sống sót cho đến hết Thế Chiến II, và bị người Mỹ sử dụng làm mục tiêu thử nghiệm bom nguyên tử tại đảo san hô Bikini vào năm 1946 và sau khi chiến tranh kết thúc xác chiếc Nagato cũng đã được tìm thấy gần đó

Thiết kế

Tập tin:Nagato class diagrams Brasseys 1923.jpg
Sơ đồ từ mạn phải và sàn tàu như được mô tả trong Brassey's Naval Annual 1923
Bản vẽ chiếc Nagato như nó hiện hữu vào năm 1944.

Dựa trên kiểu mẫu của lớp Ise, đây là những chiếc thiết giáp hạm đầu tiên trên thế giới trang bị hải pháo hạng 410 mm (16 inch), và lớp vỏ giáp bảo vệ cùng tốc độ tối đa có thể đạt được khiến cho chúng trở thành những tàu chiến chủ lực mạnh nhất vào lúc đưa ra hoạt động.

Do những giới hạn của Hiệp ước Hải quân Washington không cho phép các cường quốc về hải quân đóng thêm tàu chiến chủ lực mới, những chiếc trong lớp Nagato được cải biến và hiện đại hóa đáng kể trong những năm 19201930. Chúng trở thành những thiết giáp hạm cuối cùng do Nhật Bản chế tạo cho đến khi xuất hiện lớp siêu thiết giáp hạm Yamato vào cuối những năm 1930.

Tái cấu trúc

Từ năm 1934 đến năm 1936, cả hai chiếc trong lớp Nagato được tái cấu trúc nên giống những chiếc thuộc các lớp FusoIse. Đuôi tàu được kéo dài thêm đưa chiều dài lên 224,6 m (737 ft), các đai giáp chống ngư lôi được bổ sung khiến gia tăng mạn tàu từ 28,9 m (95 ft) lên 34,6 m (113 ft 6 in), một đáy tàu thứ ba được trang bị, hai khẩu pháo 5,5 inch và các khẩu phòng không 3 inch được thay thế bởi bốn tháp pháo phòng không 5-inch nòng đôi và 10 khẩu 25 mm nòng đôi; và những lò đốt hỗn hợp than-dầu được thay thế bởi 10 nồi hơi đốt dầu.[1]

Lịch sử hoạt động

Tập tin:41 cm Mutsu gun Yamato Museum.jpg
Một khẩu pháo của chiếc Mutsu được trưng bày tại Bảo tàng YamatoKure.

Cả hai chiếc trong lớp đều được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, và không có chiếc tàu bị đánh chìm do các hoạt động thù nghịch của đối phương. Mutsu bị phá hủy bởi một vụ nổ trong lòng tàu, trong khi Nagato là thiết giáp hạm duy nhất còn sống sót của Nhật Bản khi Thế chiến II kết thúc. Nagato bị chìm sau khi bị người Mỹ sử dụng làm mục tiêu để thử nghiệm bom nguyên tử tại đảo san hô Bikini vào năm 1946.

Những chiếc trong lớp

Tên gọi Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Nagato
(長門)
28 tháng 8 năm 1917 9 tháng 11 năm 1919 15 tháng 11 năm 1920 Bị chìm sau thử nghiệm hạt nhân "Baker" tại đảo san hô Bikini, 25 tháng 7 năm 1946
Mutsu (陸奥) 1 tháng 6 năm 1918 31 tháng 5 năm 1920 24 tháng 10 năm 1921 Bị chìm sau một vụ nổ, 8 tháng 6 năm 1943

Xem thêm

Bản mẫu:Thể loại Commons-inline

Tham khảo

  1. ^ Ireland, Bernard (1996). Jane's Battleships of the 20th Century. London: Harper Collins. tr. 76-77. ISBN 0-00-470997-7. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2010.

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Military navigation”. Bản mẫu:Lớp tàu chiến Nhật thế chiến 1 Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Portal/images/q' not found.