Lữ đoàn Kỵ binh SS (SS-Kavallerie-Brigade) là một đơn vị của Waffen-SS Đức trong Thế chiến II. Hoạt động dưới sự kiểm soát của Kommandostab Reichsführer-SS, ban đầu nó thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hậu phương ở Ba Lan do Đức chiếm đóng. Trong Cuộc xâm lược Liên Xô, lữ đoàn hoạt động ở hậu phương của lực lượng Đức, trong Bộ chỉ huy khu vực hậu phương của Cụm tập đoàn quân. Nó tấn công các đơn vị Hồng quân bị bỏ lại phía sau và thực hiện các vụ giết người Do Thái, Cộng sản và những người bị nghi ngờ là du kích Liên Xô. Năm 1942, lữ đoàn bị giải tán và nhân sự của nó được chuyển sang Sư đoàn SS Florian Geyer mới thành lập.

Lữ đoàn Kỵ binh SS
Lữ đoàn Kỵ binh SS thuộc lực lượng Waffen-SS, ngày 23 tháng 9 năm 1941, Liên Xô.
Hoạt động1940–1942
Quốc gia Đức Quốc Xã
Quân chủng Waffen-SS
Phân loạiKỵ binh
Quy môLữ đoàn
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Hermann Fegelein

Thành lập

Lữ đoàn Kỵ binh SS được thành lập dựa trên Trung đoàn Kỵ binh SS Totenkopf, được thành lập vào tháng 9 năm 1939, để thực hiện nhiệm vụ cảnh sát và an ninh ở Ba Lan, dưới sự chỉ huy của Hermann Fegelein.[1] Đến tháng 4 năm 1940, đơn vị này bao gồm 8 Phi đội Kiếm, Phi đội Thay thế số 9, Phi đội Hạng nặng số 10 và Phi đội Kỹ thuật số 11 cùng với Khẩu đội Kỵ binh số 12 gồm bốn khẩu pháo 80mm. Vào tháng 5, đơn vị này được chia thành hai trung đoàn, Trung đoàn Kỵ binh SS Totenkopf 1 và 2, mỗi trung đoàn gồm bốn phi đội, Khẩu đội Hạng nặng số 5 và Khẩu đội Kỵ binh số 6 cũng bao gồm các trung đội Thông tin liên lạc, Công binh và Xe máy.[1]

Vào tháng 3 năm 1941, chúng được đổi tên thành Trung đoàn Kỵ binh SS 1 và 2 và được cải tổ lại thành Phi đội Kiếm số 1, 2 và 3, Phi đội số 4 (Súng máy), Phi đội số 5 (Súng cối và Súng bộ binh), Phi đội số 6 (Kỹ thuật), Phi đội số 7 (Xe đạp) và Phi đội số 8 (Khẩu đội Kỵ binh).[1] Đầu tháng 8 năm 1941, Himmler ra lệnh thành lập Lữ đoàn Kỵ binh SS dưới sự chỉ huy của Hermann Fegelein từ các trung đoàn kỵ binh SS số 1 và số 2.[2] Nhân sự được lấy từ các tiểu đoàn kiếm để thành lập các tiểu đoàn Pháo binh, Công binh và Xe đạp (Trinh sát) của lữ đoàn. Họ cũng được cấp một khẩu đội phòng không hạng nhẹ. Lữ đoàn hiện có quân số 3.500 người, 2.900 ngựa và 375 xe.[1]

Liên Xô

Sau cuộc xâm lược Liên Xô của Đức (Chiến dịch Barbarossa), các trung đoàn kỵ binh SS, cùng với Lữ đoàn Bộ binh SS số 1 được giao nhiệm vụ "bình định" những gì được coi là các điểm nóng chính trong các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Vào ngày 19 tháng 7 năm 1941, các trung đoàn kỵ binh SS được chuyển giao cho bộ chỉ huy chung của Lãnh đạo SS và Cảnh sát Erich von dem Bach-Zelewski để hoạt động trong khu vực đầm lầy Pripet, một vùng đất rộng lớn bao phủ các phần của Belarus và miền bắc Ukraina. Sau đó, các trung đoàn được hợp nhất để trở thành Lữ đoàn Kỵ binh SS. Họ được lệnh thực hiện "cuộc càn quét có hệ thống các đầm lầy Pripyat".[2] Lữ đoàn Kỵ binh SS được giao nhiệm vụ này vì nó cơ động hơn và có khả năng thực hiện các hoạt động quy mô lớn tốt hơn; lữ đoàn này đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển đổi từ "giết người hàng loạt có chọn lọc" sang việc tiêu diệt toàn bộ dân số Do Thái ở phần lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng.[3]

Đến ngày 1 tháng 8, Trung đoàn Kỵ binh SS chịu trách nhiệm về cái chết của 800 người; năm ngày sau, vào ngày 6 tháng 8, tổng số này đã lên tới 3.000 "người Do Thái và du kích".[4] Cũng vào ngày 1 tháng 8, sau cuộc gặp giữa Heinrich Himmler, Erich von Bach-ZelewskiHinrich Lohse, lữ đoàn nhận được mệnh lệnh sau: "Lệnh rõ ràng của RFSS: Tất cả người Do Thái phải bị bắn. Dồn phụ nữ Do Thái vào đầm lầy."[5] Gustav Lombard, khi nhận được lệnh, đã khuyên tiểu đoàn của mình rằng: "Trong tương lai, không một người đàn ông Do Thái nào được sống sót, không một gia đình nào trong các làng mạc."[5]

Trong những tuần tiếp theo, các thành viên của Trung đoàn Kỵ binh SS số 1, dưới sự chỉ huy của Lombard, đã sát hại ước tính 11.000 người Do Thái và hơn 400 binh lính phân tán của Hồng quân.[6] Sturmbannführer Franz Magill và những người lính thuộc Trung đoàn Kỵ binh SS số 2 đã hỗ trợ trong việc truy bắt tất cả nam giới từ 18 đến 55 tuổi trong thành phố Pinsk, nơi 5.000 đến 8.000 người đàn ông bị bắn và ngay sau đó, thêm 2.000 cư dân khác, bao gồm phụ nữ, trẻ em và người già, đã bị sát hại.[7] Báo cáo cuối cùng của Fegelein về chiến dịch, ngày 18 tháng 9 năm 1941, cho biết họ đã giết 14.178 người Do Thái, 1.001 du kích và 699 binh sĩ Hồng quân với tổn thất 17 người chết, 36 người bị thương và 3 người mất tích.[8][9] Nhà sử học Henning Pieper ước tính số người Do Thái thực sự bị giết gần 23.700.[10]

Tướng bộ binh Max von Schenckendorff, chỉ huy Khu vực Hậu phương của Cụm Tập đoàn quân phía sau Cụm Tập đoàn quân Trung tâm, đã mô tả các hoạt động của họ như sau:

Lữ đoàn Kỵ binh SS hoạt động như sau: vào lúc bình minh, không cần trinh sát trước, đội quân được giao nhiệm vụ kiểm tra một ngôi làng sẽ phi ngựa vào làng với tốc độ tối đa và ra khỏi đầu kia, chiếm giữ các rìa ngoài của làng trong nháy mắt, theo một kế hoạch đã được thỏa thuận, và sau đó tập hợp toàn bộ dân cư lại, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, để kiểm tra. Trong nhiều trường hợp, kỹ năng và kinh nghiệm của sĩ quan chỉ huy, cũng như của các nhóm SDGFP đi kèm cùng với các thông dịch viên của họ, sẽ quyết định thành phần của cư dân nam và nghề nghiệp của họ, cũng như số phận của họ, để khu vực được giải phóng khỏi sự kháng cự và bình ổn.[11]

Sau cuộc phản công của Liên Xô vào tháng 1 năm 1942, đội hình lớn duy nhất chưa tham chiến là Lữ đoàn Kỵ binh SS. Phát động tấn công vào ngày 7 tháng 1, lữ đoàn này cũng bị buộc phải rút lui chỉ sau một ngày giao tranh vì hết đạn. Một trong các tiểu đoàn của lữ đoàn cũng báo cáo thương vong 75% khi chiến đấu trong rừng phía bắc Rzhev. Lữ đoàn được đánh giá là thiếu trang bị và không được huấn luyện để đối đầu với các đơn vị thiết giáp của Liên Xô.[12]

Vào tháng 3 năm 1942, Lữ đoàn Kỵ binh SS được sử dụng làm đội ngũ cán bộ trong việc thành lập Sư đoàn Kỵ binh SS số 8 Florian Geyer.

Hậu chiến

Chính quyền Đức đã điều tra các hoạt động của các đơn vị kỵ binh SS trong những năm 1960.[13]

Ghi chú

  1. ^ a b c d Fowler, Jeffery; Chappell, Mike. Axis Cavalry in World War II. tr. 20.
  2. ^ a b Miller 2006, tr. 309.
  3. ^ Browning, Cristopher; Jürgen Matthäus (2007). The Origins of the Final Solution: The Evolution of Nazi Jewish Policy, September 1939 – March 1942. tr. 279.
  4. ^ Browning, Cristopher; Matthaus Jurgen. The Origins of the Final Solution. tr. 280.
  5. ^ a b Browning, Cristopher; Matthaus Jurgen. The Origins of the Final Solution. tr. 281.
  6. ^ Cuppers, Martin. Vorreiter der Shoah, Ein Vergleich der Einsätze der beiden SS-Kavallerieregimenter im August 1941. tr. 279.
  7. ^ Cuppers, Martin. Vorreiter der Shoah. tr. 282.
  8. ^ Pieper 2015, tr. 119–120.
  9. ^ Miller 2006, tr. 310.
  10. ^ Pieper 2015, tr. 120.
  11. ^ Case studies on Anti-Partisan Warfare during the Eastern Campaign" by Ruth Bettina Birn in "From Peace to War: Germany, Soviet Russia and the World, 1939-1941" edited by Bernd Wegner, p. 278.
  12. ^ Ripley, Tim. The Waffen-SS at War: Hitler's Praetorians 1925-1945. tr. 78.
  13. ^ Parker 2014, tr. 223.

Tham khảo