M26 (tên định danh trong quá trình phát triển là T38) là một loại lựu đạn văng mảnh do Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ phát triển.

Lựu đạn M26
Tập tin:M-61Grenade.jpg
Lựu đạn M61
LoạiLựu đạn văng mảnh
Nơi chế tạoHoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụ1953−1988 (US)
Sử dụng bởiSee users
Trận
Lược sử chế tạo
Giai đoạn sản xuất1952−1968 (Hoa Kỳ)
Các biến thểSee variants
Thông số (M61)
Chiều dài3,9 in (99 mm)
Đường kính2,25 in (57 mm)

Thuốc nhồiComposition Btetryl
Trọng lượng thuốc nhồi
  • 5,5 oz (160 g) (Comp B)
  • 0,3 oz (8,5 g) (Tetryl)
Cơ cấu nổM204A1 và M204A2 sử dụng ngòi nổ hỏa thuật giữ chậm nổ sau từ 4 đến 5 giây.
Tham khảo[1]
Tập tin:M61 cropped.jpg
Lựu đạn M61 chính là phiên bản M26A1 với việc bổ sung thêm kẹp an toàn.

Lịch sử

Được cấp phát cho binh sĩ vào mùa xuân năm 1953, M26 được sử dụng với quy mô hạn chế trong Chiến tranh Triều Tiên.[2] Năm 1954, lựu đạn được thử nghiệm trong điều kiện Bắc Cực. Kết quả cho thấy M26 hoạt động tốt ở nhiệt độ dưới 0 °C và không ghi nhận trường hợp lép.[3] Tuy nhiên, cũng có báo cáo rằng hiệu quả sát thương của vụ nổ giảm đáng kể khi phát nổ dưới lớp tuyết, đồng thời binh sĩ gặp khó khăn khi rút chốt an toàn trong lúc đeo găng tay mùa đông.[4]

Các biến thể M26A1 và M61 được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Việt Nam. Trong khi đó, các ngòi nổ va chạm M26A2 và M57 không được binh sĩ ưa chuộng vì sau khi được kích hoạt, chúng có thể gây thương vong cho quân nhà nếu vô tình làm rơi hoặc bị va chạm vào cây cối.[5] M26 cũng được sử dụng để làm bẫy mìn trong chiến tranh Việt Nam.[6]

Trong quá trình xung đột, từ giữa thập niên 1960, các quả lựu đạn sản xuất mới được trang bị thêm kẹp an toàn (safety clip). Nguyên nhân là chốt an toàn dễ mắc vào thảm thực vật rậm rạp, gây ra nhiều vụ kích nổ ngoài ý muốn. Ngoài ra, cũng từng xảy ra một số trường hợp tù binh bất ngờ lao vào lính canh để rút chốt lựu đạn nhằm tự sát. Theo Rottman, một số binh sĩ từng huấn luyện với loại lựu đạn không có kẹp an toàn đã quên tháo kẹp trước khi ném, khiến đối phương có thể nhặt lại và ném trả. Các mẫu M26A1 và M61 cũng thường được sử dụng làm bẫy mìn.[7]

Từ năm 1969, dòng M26 (M26/M61) bắt đầu được thay thế bởi dòng M33 (M33/M67). Mặc dù M26 được đánh giá có hiệu quả, bán kính sát thương của nó không ổn định và trọng lượng khá lớn, khoảng 0,45 kg. Việc sản xuất tại Hoa Kỳ chấm dứt vào năm 1968, nhưng lượng dự trữ vẫn tiếp tục được quân đội Mỹ sử dụng trong suốt thập niên 1970.[2] Đến tận năm 1988, M61 vẫn được liệt kê là lựu đạn tiêu chuẩn trong các tài liệu kỹ thuật của Lục quân Hoa Kỳ.[8]

Bối cảnh ra đời

Ngay từ Chiến tranh thế giới thứ hai, lựu đạn Mk 2 đã lộ rõ một số nhược điểm trong quá trình sử dụng. Loại lựu đạn này có khả năng tạo mảnh kém và không đồng đều; hiệu ứng nổ và phân mảnh ở hai đầu thân lựu đạn cũng không cân xứng, làm giảm hiệu quả sát thương.

Lục quân Hoa Kỳ đã tiến hành thử nghiệm thực địa với các mẫu lựu đạn văng mảnh T12 và T13 "Beano", nhưng sau một số vụ tai nạn, cả hai đều bị loại bỏ.[9]

Tháng 5 năm 1946, Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ ban hành yêu cầu đối với loại lựu đạn thay thế. Thiết kế mới phải có khả năng lựa chọn giữa ngòi nổ va chạm và ngòi nổ chậm theo thời gian, sử dụng được trong cả nhiệm vụ tiến công lẫn phòng ngự, đồng thời có thể cải biến để phóng bằng súng trường.

Năm 1948, một thiết kế tạm thời được lựa chọn để tiếp tục phát triển và đến tháng 1 năm 1949 bắt đầu quá trình chế tạo mẫu T38, tiền thân của M26.[10] Mẫu thử nghiệm này sử dụng một dải thép cuộn có khía kết hợp với lớp tạo mảnh bổ sung ở đáy thân nhằm tạo vùng phân mảnh đồng đều hơn. Năm 1952, nó được Lục quân Hoa Kỳ chính thức chấp nhận trang bị với định danh M26.[9]

Thiết kế

M26 sử dụng thân thép dập hình bầu dục, vì vậy có biệt danh "lựu đạn quả chanh" (lemon grenade). Bên trong thân là dải thép cuộn đường kính 3,3 mm, được tạo khía cách nhau 5,1 mm nhằm bảo đảm tạo mảnh đồng đều khi phát nổ. Ngoài ra, đáy khoang thuốc nổ còn có một ống lót tạo mảnh.

Theo Rottman, khi phát nổ, M26 tạo ra khoảng 1.150 mảnh, có thể gây thương tích nghiêm trọng trong bán kính 15 m, còn bán kính sát thương chí mạng khoảng 5 m.[9] Tuy nhiên, tài liệu của Lục quân Hoa Kỳ cho biết các mảnh văng có thể bay xa tới 230 m.[11] Các mảnh sinh ra từ M26 và dòng L2 có khả năng xuyên qua quần áo dày và gây tổn thương các cơ quan nội tạng.[12]

Các loại ngòi nổ sử dụng gồm:

  • M204A1 và M204A2: ngòi nổ chậm bằng thuốc cháy, thời gian trễ 4–5 giây.
  • M217: ngòi nổ va chạm. Lựu đạn trang bị M217 còn có cơ cấu ngòi nổ chậm dự phòng, sẽ kích nổ sau 4 giây nếu cơ chế va chạm không hoạt động.[13]

Từ giữa thập niên 1960, các quả lựu đạn sản xuất mới được bổ sung kẹp dây an toàn (safety wire clip, thường gọi là "jungle clip") để phù hợp hơn với điều kiện tác chiến trong rừng rậm tại Việt Nam.[2]

Dòng M26 sử dụng 160 g thuốc nổ Composition B.[9] Tất cả các biến thể, ngoại trừ các mẫu dùng ngòi nổ va chạm, đều có thêm 8,5 g thuốc nổ Tetryl làm liều kích nổ trung gian.[14] Lựu đạn M61 (M26A1 có gắn kẹp an toàn) có thể được một binh sĩ ném xa tới 40 m.[8] Các biến thể thuộc dòng M26 (trừ M57) còn có thể được phóng bằng súng trường thông qua bộ chuyển đổi và đạn mã tử, đạt tầm bắn khoảng 160 m.[15]

Các quả lựu đạn được đóng gói riêng trong hộp bìa sợi, sau đó xếp 25 hoặc 30 quả vào mỗi thùng vận chuyển.[16][17]

Các phiên bản

Các phiên bản dùng trong chiến đấu

Tập tin:DM41 hand grenade cutaway.png
Lựu đạn mảnh DM41 của Tây Đức sử dụng thuốc nổ Composition B. Mẫu trưng bày này đã được cắt bổ để lộ ống lót tạo mảnh (fragmentation sleeve) và khối thuốc nổ bên trong.
  • T38 − Mẫu thử nghiệm, được tiêu chuẩn hóa thành M26 vào năm 1952.[18]
  • M26 − Biến thể nguyên bản của dòng M26. Giống như các phiên bản muộn của lựu đạn Mk 2, nó sử dụng ngòi nổ chậm bằng thuốc cháy M204A1 hoặc M204A2.[19] Có thể lắp bộ chuyển đổi để phóng bằng súng trường sử dụng đạn mã tử, với tầm bắn tối đa khoảng 160 m.[20]
  • M26A1 − Phiên bản cải tiến nhẹ của M26 nhằm nâng cao khả năng tạo mảnh. Cũng có thể được phóng bằng súng trường.[20]
  • M26A2 − Biến thể trang bị ngòi nổ va chạm M217 hoặc ngòi nổ chậm M204A1. Nếu cơ cấu kích nổ va chạm của M217 không hoạt động, cơ chế tự hủy sẽ kích nổ lựu đạn sau 4 giây. Nếu cơ chế này cũng thất bại, lựu đạn sẽ trở nên vô hiệu (không phát nổ) sau 30 giây. Các mẫu lựu đạn va chạm đời đầu có cần an toàn sơn màu đỏ, có hoặc không có chữ "IMPACT" in màu đen; các mẫu đời sau có chữ "IMPACT" được dập nổi trên cần an toàn.[9] Lựu đạn M26A2 và M57 không chứa liều kích nổ trung gian (booster pellets).[16]
  • M56 − Biến thể M26A2 sử dụng ngòi nổ chậm bằng thuốc cháy M215 thay cho M204A1.[2] Mẫu này cũng có thể được bắn từ súng trường như M26 và M26A1.[21]
  • M57 − Phiên bản cải tiến của M26A2 sử dụng ngòi nổ va chạm, được bổ sung kẹp an toàn (safety clip, còn gọi là "jungle clip").[2] Biến thể này không thể phóng bằng súng trường, vì áp suất khí thuốc có thể làm kích hoạt sớm ngòi nổ va chạm. Ngoài ra, lựu đạn phải đạt độ cao quỹ đạo tối thiểu 4–5 m mới có thể kích hoạt ngòi nổ.[21]
  • M61 − Tên định danh mới của M26A1 sau khi được lắp thêm kẹp an toàn.[2] Mẫu này vẫn còn được Lục quân Hoa Kỳ sử dụng ít nhất đến năm 1988.[8]
Tập tin:L2A2.JPG
Lựu đạn L2-A2 của Anh.
  • L2A1 − Được chấp nhận trang bị năm 1964, là phiên bản sao chép của M26A1 do Anh chế tạo, sử dụng ngòi nổ chậm 3,6–5,5 giây.[22] Mẫu này thay thế lựu đạn No. 36M.[23]
  • L2A2 − Phiên bản L2A1 với giếng lắp ngòi nổ được thiết kế lại để thuận tiện cho sản xuất hàng loạt. Giống phiên bản tiền nhiệm, nó chứa 170 g hỗn hợp thuốc nổ TNTRDX[24]
  • DM-41 Splitterhandgranate − Phiên bản sao chép M26A1 của Tây Đức, do Diehl Defence sản xuất. Năm 1978, nó được thay thế bởi thiết kế mới của cùng hãng là DM51 Spreng/Splitterhandgranate (lựu đạn nổ phá mảnh).[25]

Phiên bản huấn luyện

  • M30 − Biến thể huấn luyện của M26 và M26A1, sử dụng thân bằng gang đúc có thể tái sử dụng, sơn màu xanh dương, bên trong chứa 1,4 g thuốc súng đen. Sau khi được lắp kíp, lượng thuốc súng sẽ cháy trong 4–5 giây, rồi phát ra một tiếng nổ lớn (tương tự pháo nổ) cùng một đám khói trắng nhỏ để mô phỏng hoạt động của lựu đạn thật.[26]
  • M62 − Biến thể M30 được bổ sung kẹp an toàn (safety clip) nhằm mô phỏng đúng thao tác sử dụng lựu đạn M61. Các kẹp an toàn tháo từ lựu đạn thật đã sử dụng hết có thể được tái sử dụng cho M62, miễn là chúng không bị hư hỏng hoặc biến dạng.[27]
  • L3A1, L3A2, và L3A3 − Các lựu đạn mô phỏng của Anh, có kết cấu và hình dáng tương tự lựu đạn L2, nhưng được sơn màu xanh lam nhạt.[23]
  • L4A1 and L4A2 − Các lựu đạn huấn luyện của Anh, được lắp ngòi nổ va chạm L30 và sơn màu xanh lam đậm.[23]

Users

Tập tin:Ethiopian Soldiers Korean War.jpg
Lính Mỹ tại Hàn Quốc, 1953
  •   Australia − Sản xuất M26A1 và M26A2 (ngòi nổ chậm) theo giấy phép.[7]
  •   Brazil[7][17]
  •   Canada − Trang bị các mẫu M26, M26A1, M26A2 (ngòi nổ chậm) và M61. Từ năm 2000, các mẫu này được thay thế bằng C13.[28]
  •   Chile[7]
  •   Colombia − Được Lục quân Colombia sử dụng. Lựu đạn được Colombia sản xuất trong nước theo giấy phép.[29]
  •   Đế quốc Ethiopia − Sử dụng trong Chiến tranh Triều Tiên.[9]
  •   Tây Đức − Sản xuất M26A1 trong nước với định danh DM41 Splitterhandgranate. Mẫu này được Quân đội Liên bang Tây Đức (Bundeswehr) sử dụng cho đến khi được thay thế bằng lựu đạn DM51 vào năm 1978.[25]
  •   Guatemala[7]
  •   Israel − Phiên bản M26A2 được Israel tiếp nhận với tên gọi M26 và vẫn còn được sử dụng.[30] Năm 2012, Israel đưa vào sử dụng một biến thể trang bị ngòi nổ an toàn cải tiến, nhằm bảo đảm lựu đạn sẽ không phát nổ nếu bị đạn của đối phương bắn trúng.[31]
  •   Nhật Bản[7]
  •   CHDCND Triều Tiên[32]
  •   South Korea[33]
  •   Liberia[7]
  •   New Zealand[7][34]
  •   Nicaragua[35]
  •   Nigeria[36]
  •   Pakistan[7]
  •   Philippines − Được Quân đội Philippines và Lực lượng Đặc nhiệm (Special Action Force – SAF) thuộc Cảnh sát Quốc gia Philippines sử dụng.
  •   Portugal − Tiếp nhận M26A1 và sản xuất theo giấy phép với định danh M312.[37]
  •   Rwanda − Tháng 10 năm 1992, Nam Phi đã cung cấp lựu đạn M26 cho Chính phủ Rwanda.[38]
  •   South Africa − Sản xuất theo giấy phép biến thể M963, vốn được phát triển từ M312 của Bồ Đào Nha.[39] Sau đó tiếp tục sản xuất:
    • M26 HE Hand Grenade – bản sao của lựu đạn M26 tiêu chuẩn.
    • M26 Practice Hand Grenade – lựu đạn huấn luyện sơn màu xanh, sử dụng thân bằng nhôm có thể tái sử dụng.
    • M26 Drill Hand Grenade – lựu đạn huấn luyện trơ (không chứa thuốc nổ).[40] Các mẫu này hiện vẫn được sản xuất[41] và tiếp tục phục vụ trong quân đội và lực lượng cảnh sát Nam Phi.[42][43]
  •   Đài Loan[7]
  •   Vương quốc Anh − Dòng L2 thay thế lựu đạn Mills số 36 (M36 Mills Bomb) trong biên chế quân đội Anh. Đến những năm 2000, dòng này được thay thế bởi L109A1.[44]
  •   Hoa Kỳ − M26 được đưa vào trang bị trong Chiến tranh Triều Tiên. Khi Chiến tranh Việt Nam xảy ra, M26 chỉ được trang bị với số lượng hạn chế và nhanh chóng được thay thế trong vai trò lựu đạn tiêu chuẩn bởi:
    • M26A1/M61 (từ năm 1958),
    • M26A2/M57 (từ năm 1960),
    • M33/M67 (từ năm 1968).
  •   Việt Nam Cộng Hòa[45] − Tiếp nhận lựu đạn M26 theo chương trình viện trợ của Hoa Kỳ. Việc sản xuất và xuất khẩu M26 sang Việt Nam Cộng hòa vẫn tiếp tục ngay cả sau khi quân đội Hoa Kỳ đã chuyển sang sử dụng M26A1/M61 và M33/M67 làm lựu đạn tiêu chuẩn.

Tham khảo

  1. ^ Department of the Army 1988a, tr. 2-13.
  2. ^ a b c d e f Rottman 2015, tr. 28.
  3. ^ Harding 1954, tr. A.1,A.8.
  4. ^ Harding 1954, tr. 3,A.5.
  5. ^ Rottman 2015, tr. 26,28,57.
  6. ^ Rottman 2020, tr. 19.
  7. ^ a b c d e f g h i j Rottman 2015, tr. 57.
  8. ^ a b c Department of the Army 1988, tr. 1-8.
  9. ^ a b c d e f Rottman 2015, tr. 26.
  10. ^ Harding 1954, tr. 2.
  11. ^ Department of the Army 1988, tr. D-4.
  12. ^ Rottman 2015, tr. 64.
  13. ^ Department of the Army 1988a, tr. 2-9.
  14. ^ Department of the Army 1988a, tr. 2-4−2-10.
  15. ^ Owen 1975, tr. 227−228.
  16. ^ a b Hogg 1983, tr. 455.
  17. ^ a b Logistics Command 1970, tr. 106.
  18. ^ Rottman 2015, tr. 70.
  19. ^ Department of the Army 1988, tr. D-3−D-4.
  20. ^ a b Owen 1975, tr. 227.
  21. ^ a b Owen 1975, tr. 228.
  22. ^ Rottman 2015, tr. 17.
  23. ^ a b c Hogg 1983, tr. 452.
  24. ^ Hogg 1983, tr. 452−453.
  25. ^ a b Rottman 2015, tr. 22.
  26. ^ Department of the Army 1988a, tr. 4-7−4-8.
  27. ^ Department of the Army 1988a, tr. 4-9−4-10.
  28. ^ Rottman 2015, tr. 27,57.
  29. ^ "Granada IMC MG M26 HE – Indumil".
  30. ^ LEXPEV. "M-26". Lexpev.nl. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014.
  31. ^ http://www.israelnationalnews.com/News/News.aspx/154626#.UaPin5zi6F1 Learning from Tragedy, IDF Develops Safer Hand Grenade (4/9/2012), Israel National News
  32. ^ "북괴군 특작부대, 무장공비 사용화기, 장비". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2017.
  33. ^ Hogg 1983, tr. 870.
  34. ^ Hogg 1983, tr. 871.
  35. ^ Rottman 2015, tr. 137.
  36. ^ Jowett, Philip (ngày 22 tháng 9 năm 2016). Modern African Wars (5): The Nigerian-Biafran War 1967–70. Osprey Publishing. ISBN 9781472816092.
  37. ^ LEXPEV. "Portuguese grenades". Lexpev.nl. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014.
  38. ^ Smyth, Frank (tháng 1 năm 1994). "Arming Rwanda - The Arms Trade and Human Rights Abuses in the Rwandan War" (PDF). hrw.org. Human Rights Watch Arms Project. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2022.
  39. ^ LEXPEV. "South African grenades". Lexpev.nl. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014.
  40. ^ A/3/O8/PL GREN Training with Grenades. SA Army Headquarters. tháng 2 năm 1980.
  41. ^ Denel Land Systems. "Grenade Datasheets" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2020.
  42. ^ "Fact File: M26 fragmentation hand grenade". DefenceWeb. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014.
  43. ^ "SAP Special Task Force". www.sapstf.org. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2021.
  44. ^ LEXPEV. "L2 serie". Lexpev.nl. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014.
  45. ^ McNab, Chris (2002). 20th Century Military Uniforms (ấn bản thứ 2). Kent: Grange Books. tr. 308. ISBN 1-84013-476-3.

Thư mục

  • Rottman, Gordon L. (2020). Vietnam War Booby Traps. Oxford: Osprey Publishing. ISBN 978-1472842459.

Liên kết ngoài