Mã Y Lợi (tiếng Trung: 马伊琍, sinh ngày 29 tháng 6 năm 1976) là một nữ diễn viên người Trung Quốc. Cô được biết đến qua các vai diễn trong những bộ phim truyền hình Hoàn Châu Cách Cách phần 3 (2003), Kiều Gia Đại Viện (2006), Phấn đấu (2007), Nửa Đời Trước Của Tôi (2017), Phồn Hoa (2023) và To the Wonder (2024), cùng bộ phim điện ảnh B for Busy (2021).

Mã Y Lợi
Mã Y Lợi
Sinh29 tháng 6, 1976 (50 tuổi)
Quận Hồng Khẩu, Thượng Hải, Trung Quốc
Trường lớpHọc viện Hý kịch Thượng Hải
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động1996–nay
Con cái2

Mã Y Lợi xếp thứ 42 trong danh sách 100 người nổi tiếng Trung Quốc của Forbes năm 2019.[1]

Cô hiện đang là diễn viên hạng nhất cấp quốc gia của Trung Quốc (danh hiệu cao nhất của diễn viên Trung )

Sự nghiệp diễn xuất

Năm 1996, Mã Y Lợi tham gia bộ phim truyền hình đầu tay Vacuum Love Record, đảm nhận vai nữ phụ thứ hai Hạ Văn Tâm. Đây cũng là bộ phim thần tượng đầu tiên của Trung Quốc đại lục.

Năm 1998, cô tốt nghiệp khoa Biểu diễn của Học viện Hý kịch Thượng Hải. Cùng năm đó, cô tham gia bộ phim điện ảnh Glass Is Transparent.

Năm 1999, cô tham gia bộ phim thanh xuân truyền cảm hứng Long Live Ideals.

Năm 2001, cô tham gia bộ phim tình cảm gia đình Give Me a Cigarette 3: Sleepless Tonight.

Tháng 9 năm 2002, cô tham gia bộ phim chính kịch Eyes of a Beauty do Quản Hổ đạo diễn. Tháng 11 cùng năm, cô vào vai Nhan Như Ngọc trong bộ phim cổ trang The Bronze Teeth: Ji Xiaolan Sequel.

Tháng 7 năm 2003, cô hợp tác cùng Cổ Cự Cơ và nhiều diễn viên khác trong bộ phim Quỳnh Dao Hoàn Châu Cách Cách phần 3, đảm nhận vai Hạ Tử Vy, qua đó được đông đảo khán giả biết đến. Tháng 9, cô đảm nhận vai nữ phụ Lâm Nhữ Nhược trong bộ phim tình cảm Everyone Says I Love You do Lý Á Bằng đóng chính. Tháng 10, cô tham gia bộ phim trinh thám Seven Days do Quản Hổ đạo diễn.

Tháng 9 năm 2005, cô tham gia bộ phim tình cảm đô thị Fifth Sister.

Tháng 2 năm 2006, cô hợp tác cùng Trần Kiến Bân trong bộ phim thương chiến cổ trang Kiều Gia Đại Viện, vào vai Giang Tuyết Anh và giành giải "Nữ diễn viên được yêu thích nhất" tại Giải Kim Ưng truyền hình Trung Quốc lần thứ 23 nhờ vai diễn này. Tháng 4 cùng năm, cô tham gia bộ phim tình cảm thời Dân Quốc Water of Life cùng Hoàng Lỗi. Tháng 10, cô tham gia bộ phim cổ trang Jinyiwei.

Tháng 5 năm 2007, cô hợp tác cùng Đồng Đại Vỹ trong bộ phim thanh xuân truyền cảm hứng Phấn đấu, nhận được nhiều sự chú ý với vai Hạ Lâm. Nhờ bộ phim này, cô giành giải "Nhân vật nghệ thuật của năm" tại BQ Red List 2007 và giải "Nữ diễn viên được yêu thích nhất" tại Fashion Power List 2008–2009.

Tháng 9 cùng năm, cô tham gia bộ phim chính kịch The Good Person of Jiangbei, giành nhiều giải thưởng bao gồm "Nữ diễn viên xuất sắc nhất" tại Giải Hoa Đỉnh lần thứ 2.

Tháng 10 năm 2008, cô tham gia bộ phim thời đại Beautiful Silence. Tháng 11, bộ phim tình cảm Locking Spring Chronicle, được quay trong thời gian cô mang thai, chính thức phát sóng.

Ngày 16 tháng 8 năm 2010, bộ phim tình cảm Marriage Battle do cô hợp tác cùng Đồng Đại Vỹ lên sóng. Với bộ phim này, Mã Y Lợi giành giải "Nữ diễn viên phim hài xuất sắc nhất" tại Giải thưởng Truyền hình Cầu Vồng châu Á lần thứ nhất.

Ngày 18 tháng 8, bộ phim thương chiến thời đại Warp and Weft World do cô đóng chính được phát sóng trên khung giờ vàng của CCTV-8. Đây là bộ phim truyền hình đầu tiên của cô sau khi trở lại sau thời gian nghỉ sinh.

Tháng 10 cùng năm, cô tham gia bộ phim thanh xuân Adolescence Meets Menopause, giành giải "Nữ diễn viên xuất sắc nhất" tại Youku Film & TV Index Ceremony 2011.

Tháng 4 năm 2011, cô hợp tác cùng Phạm Vĩ trong bộ phim hài Tracking Kong Lingxue, giành giải "Nữ diễn viên phụ xuất sắc" tại Liên hoan phim Hoa ngữ Anh Quốc lần thứ 3.

Tháng 7, cô hợp tác cùng Đồ Tùng Nham trong bộ phim tình cảm đô thị Life in Two Cities, giành giải "Nữ diễn viên xuất sắc nhất năm" tại Quốc Kịch Thịnh Điển 2011.

Tháng 6 năm 2012, cô hợp tác cùng Lý Thần trong bộ phim tình cảm Sunny Day.

Ngày 29 tháng 3 năm 2013, Mã Y Lợi giành giải "Đột phá trong diễn xuất" tại China TV Series Annual Star Ceremony 2012.

Tháng 9 cùng năm, cô hợp tác cùng Văn Chương trong bộ phim tình cảm đô thị Little Daddy, đồng thời lần đầu đảm nhận vai trò nhà sản xuất.

Tháng 11 năm 2015, cô tham gia bộ phim tình cảm đô thị Beijing, Shanghai, Guangzhou Don't Believe in Tears, giành giải "Nữ diễn viên xuất sắc nhất phim truyền hình Trung Quốc" tại Giải Hoa Đỉnh lần thứ 19.

Tháng 9 năm 2016, cô hợp tác cùng Trần Kiến Bân trong bộ phim tình cảm đô thị Chinese Style Relationship, nhận đề cử "Nữ diễn viên xuất sắc nhất" tại Giải Bạch Ngọc Lan lần thứ 23.

Tháng 3 năm 2017, cô hợp tác cùng Văn Chương trong bộ phim gián điệp Razor's Edge. Tháng 7, cô tham gia bộ phim tình cảm đô thị Nửa Đời Trước Của Tôi, đảm nhận vai La Tử Quân và giành giải "Nữ diễn viên xuất sắc nhất" tại Giải Bạch Ngọc Lan lần thứ 24 cùng nhiều giải thưởng khác.

Ngày 27 tháng 7, cô xuất hiện trong phần thứ ba của loạt phim Founding Trilogy mang tên The Founding of An Army.

Ngày 3 tháng 9 năm 2018, cô hợp tác cùng Hà Tái Phi trong bộ phim Those Women, giành giải "Nữ diễn viên phụ được truyền thông quan tâm nhất" tại Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải lần thứ 21.

Ngày 14 tháng 9, cô hợp tác cùng Vương Học Binh trong bộ phim chính kịch The Road Not Taken, giành giải "Nữ diễn viên tiêu điểm" thuộc hạng mục "Focus on China" tại Liên hoan phim Venice lần thứ 75.

Ngày 5 tháng 10, cô hợp tác cùng Diêu Thần trong bộ phim Lost, Found, giành nhiều giải thưởng bao gồm "Nữ diễn viên của năm" tại China Film Directors' Guild lần thứ 10 và "Nữ diễn viên xuất sắc nhất phim Hoa ngữ" tại Giải Hoa Đỉnh lần thứ 25.

Tháng 5 năm 2019, cô hợp tác cùng Phú Đại Long trong bộ phim Enter the Forbidden City, nhận đề cử "Nữ diễn viên chính được truyền thông quan tâm nhất" tại Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải lần thứ 21.

Tháng 9 cùng năm, bộ phim khởi nghiệp đô thị In the Distance do cô hợp tác cùng Lưu Diệp được phát sóng, giúp cô nhận đề cử "Nữ diễn viên xuất sắc nhất" tại Giải Bạch Ngọc Lan lần thứ 26.

Tháng 5 năm 2020, bộ phim công sở đô thị Living Quietly in a Restless World do cô đóng chính đóng máy.

Tháng 8, bộ phim tình cảm thời Dân Quốc Miss S do cô hợp tác cùng Cao Vỹ Quang được phát sóng đồng thời trên truyền hình và nền tảng trực tuyến. Với bộ phim này, cô giành giải "Nữ diễn viên xuất sắc nhất phim truyền hình hiện đại Trung Quốc" tại Giải Hoa Đỉnh lần thứ 29.

Tháng 12 năm 2021, cô hợp tác cùng Từ Tranh trong bộ phim tình cảm Myth of Love, nhận đề cử "Nữ diễn viên xuất sắc nhất phim Hoa ngữ" tại Giải Hoa Đỉnh lần thứ 33.

Tháng 8 năm 2022, cô tham gia chương trình tạp kỹ Leap to Higher Workplace.

Ngày 15 tháng 4 năm 2023, bộ phim truyền hình Longcheng do cô đóng chính được phát sóng. Ngày 5 tháng 12, cô tham dự "2023 Weibo Vision Conference". Ngày 17 tháng 12, cô tham dự "Tencent Video Starlight Awards". Ngày 27 tháng 12, bộ phim truyền hình Phồn Hoa do cô đóng chính được phát sóng.

Ngày 10 tháng 2 năm 2024, cô giành giải "Nữ diễn viên của năm" tại China TV Series Annual Ceremony lần thứ 2 nhờ bộ phim Phồn Hoa.

Ngày 7 tháng 5, cô tham gia bộ phim To the Wonder, giành danh hiệu "Nữ diễn viên điện ảnh và truyền hình đột phá năm 2024" của Harper's Bazaar.

Ngày 1 tháng 6, với vai diễn cô Lý trong bộ phim Myth of Love, cô nhận đề cử "Nữ diễn viên của năm" tại China Film Directors' Guild 2021.

Ngày 11 tháng 7, bộ phim truyền hình Interlaced Scenes do cô đóng chính được phát sóng. Cuối tháng cùng năm, cô được đề cử "Nữ diễn viên xuất sắc nhất" tại Seoul International Drama Awards 2024 nhờ bộ phim Phồn Hoa.

Tháng 9, cô tham dự "2024 Wave Film Week" với vai trò giám khảo danh dự.

Ngày 25 tháng 12, danh sách nhân sự được Hội đồng đánh giá chức danh nghệ thuật cao cấp Thượng Hải năm 2024 phê duyệt được công bố, trong đó Mã Y Lợi được phong danh hiệu Diễn viên cấp quốc gia hạng nhất.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, cô tham dự "2025 TV Series Quality Awards".

Ngày 18 tháng 7, cô tham gia bộ phim điện ảnh Girl On Edge.

Tháng 1 năm 2026, bộ phim hình sự trinh thám Yu Hong do cô đóng chính chính thức khai máy.

Phim điện ảnh

Năm Tên tiếng Anh Tên tiếng Trung Vai diễn Ghi chú
1993 Liu Haisu Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Chen Xiaojun
1999 Glass is Transparent Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Xiao Yazi
Kong Yiji Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Song Hanyu
Liao Zhai: Xi Fangping Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Du Yucui
2001 Love at First Sight Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Ju Zi
Eyes of a Beauty Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Shi Yu
2003 Sleepless City Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Su Bao
2007 Life Today Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Zhao Xiaoyun [2]
2011 Tracks Kong Lingxue Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Yang Qiuyue [3]
Love Is Not Blind Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Vai khách mời
2012 Cold War Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Vợ của Lưu Kiệt Huy [4]
2013 Badges of Fury Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Nữ cảnh sát Vai khách mời
2016 Cold War 2 Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Chen Xue'er [5]
When Larry Met Mary Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Vai khách mời
2017 The Founding of an Army Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Hướng Cảnh Dư [6]
2018 Goddesses in the Flames of War Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
The Road Not Taken Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Xiao Mei
Lost, Found Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). Sun Fang
2019 Enter the Forbidden City Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). [7]
My People, My Country Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). [8]

Giải thưởng và đề cử

Năm Tác phẩm được đề cử Giải thưởng Hạng mục Kết quả Tham khảo
2008 Life Today Liên hoan phim sinh viên Bắc Kinh lần thứ 15 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
Liên hoan phim Trường Xuân lần thứ 9 Đoạt giải
2009 Giải Hoa Đỉnh lần thứ 2 Đoạt giải
Giải Kim Phượng Hoàng lần thứ 12 Giải Hội đồng Đoạt giải
2011 Marriage Battle Giải truyền hình Cầu Vồng châu Á lần thứ nhất Nữ diễn viên xuất sắc nhất thể loại hài Đoạt giải
Tracks Kong Lingxue Liên hoan phim China Image lần thứ 3 Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Đoạt giải
Two City One Family Giải phim truyền hình Trung Quốc lần thứ 2 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải
2016 Swan Dive for Love Giải Hoa Đỉnh lần thứ 19 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải
Chinese Style Relationship Giải phim truyền hình Trung Quốc lần thứ 6 Nữ diễn viên nổi bật Đoạt giải
2017 Liên hoan truyền hình Thượng Hải lần thứ 23 Giải Bạch Ngọc Lan cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
The First Half of My Life Liên hoan phim và truyền hình Hoành Điếm lần thứ 4 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải
2018 Liên hoan truyền hình Thượng Hải lần thứ 24 Giải Bạch Ngọc Lan cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải
Goddesses in the Flames of War Giải truyền thông điện ảnh Trung Quốc lần thứ 8 Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Đoạt giải
The Road Not Taken Liên hoan phim Venezia lần thứ 75 Giải Nữ diễn viên hạng mục "Focus China" Đoạt giải
2019 Lost, Found Giải Hiệp hội đạo diễn điện ảnh Trung Quốc lần thứ 10 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải
Giải Hoa Đỉnh lần thứ 25 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải
Giải Kim Phượng Hoàng lần thứ 17 Giải Hội đồng Đoạt giải
Giải Kim Kê Trung Quốc lần thứ 32 Giải Kim Kê cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
The Road Not Taken Liên hoan phim quốc tế Ma Cao lần thứ 11 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
On The Road Liên hoan phim và truyền hình mạng Golden Bud lần thứ 4 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
2020 Giải Best Choice of Multi-Screen Communication Nữ diễn viên có sức ảnh hưởng Đoạt giải
Liên hoan truyền hình Thượng Hải lần thứ 26 Giải Bạch Ngọc Lan cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
Miss S Giải Hoa Đỉnh lần thứ 29 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (phim hiện đại) Đoạt giải
2022 Myth of Love Giải Hiệp hội đạo diễn điện ảnh Trung Quốc lần thứ 13 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
2025 To the Wonder Liên hoan truyền hình Thượng Hải lần thứ 30 Giải Bạch Ngọc Lan cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử

Hoạt động xã hội

Năm 2004, Mã Y Lợi được bổ nhiệm làm Đại sứ thiện chí của Chương trình Hiến tủy Trung Quốc. Khi đó, cô đã tiến hành lấy tế bào gốc tạo máu và hiến mẫu máu 8 ml để chờ ghép phù hợp cho các bệnh nhân cần giúp đỡ.

Ngày 25 tháng 9 năm 2009, Mã Y Lợi nhận giải thưởng "Nhân vật Xanh Quốc tế Trung Quốc 2009" tại Vô Tích nhằm ghi nhận sự tham gia tích cực của cô trong các hoạt động bảo vệ môi trường và chăm sóc Trái Đất.

Ngày 26 tháng 6 năm 2010, dự án từ thiện nghệ thuật We Can, do Văn Chương và Mã Y Lợi đồng sáng lập nhằm hỗ trợ trẻ em mắc chứng tự kỷ, chính thức được khởi động tại Bắc Kinh.

Năm 2011, Mã Y Lợi tham gia ủng hộ dự án từ thiện Free Lunch do nhà báo Đặng Phi cùng nhiều người trong giới truyền thông phát động, với mục tiêu cung cấp bữa trưa dinh dưỡng cho trẻ em tại các khu vực nghèo khó.

Ngày 23 tháng 10 năm 2012, tại buổi công chiếu bộ phim All For Love, Mã Y Lợi được bổ nhiệm làm Đại sứ hình ảnh thành phố Nam Thông.

Tháng 2 năm 2013, cô quyên góp 40.000 nhân dân tệ thông qua Quỹ Angel Mom để hỗ trợ bé Hướng Quân Vũ, người cần ghép gan.

Ngày 22 tháng 10 năm 2015, Mã Y Lợi chính thức được bổ nhiệm làm Đại sứ Trung Quốc của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF).

Ngày 17 tháng 12 cùng năm, Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev đã tổ chức buổi gặp mặt với đại diện thanh niên Trung Quốc tại Đại sứ quán Nga ở Trung Quốc. Huỳnh Hiểu Minh, Mã Y Lợi và Từ Tịnh Lôi đại diện cho ngành điện ảnh Trung Quốc tham dự sự kiện và được Thủ tướng Nga tiếp đón.

Tháng 9 năm 2016, tại Lễ vinh danh "Lãnh đạo Thanh niên Trung Quốc" lần thứ 12 do tạp chí Southern People Weekly tổ chức ở Bắc Kinh, Mã Y Lợi nhận danh hiệu "Lãnh đạo Thanh niên Trung Quốc 2016".

Ngày 31 tháng 1 năm 2018, tạp chí China Philanthropist công bố "Danh sách từ thiện của người nổi tiếng Trung Quốc 2017", trong đó Mã Y Lợi xếp thứ 22.

Tháng 6 năm 2019, cô đảm nhận vai trò giám khảo của Giải Bạch Ngọc Lan tại Liên hoan truyền hình Thượng Hải lần thứ 25.

Tháng 7 năm 2021, Mã Y Lợi quyên góp 500.000 nhân dân tệ cho các khu vực bị ảnh hưởng bởi lũ lụt tại tỉnh Hà Nam.

Tháng 12 năm 2023, cô đảm nhận vai trò thành viên ban giám khảo hạng mục Phim truyện tại Giải Kim Dừa thuộc Liên hoan phim quốc tế đảo Hải Nam lần thứ 5.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tài khoản WeChat chính thức của Sở Văn hóa và Du lịch Khu tự trị Tân Cương Duy Ngô Nhĩ thông báo rằng tại Hội nghị Giao lưu Du lịch Quốc tế Khu tự trị 2024, Mã Y Lợi được trao danh hiệu "Đại sứ Văn hóa và Du lịch Tân Cương".

Ngày 22 tháng 9 năm 2025, cô được công bố sẽ đảm nhận vai trò giám khảo cho hạng mục "Vinh danh Phí Mục" tại Liên hoan phim quốc tế Bình Dao lần thứ 9.

Ngày 29 tháng 11 cùng năm, Mã Y Lợi phối hợp cùng Quỹ Hàn Hồng quyên góp 1 triệu nhân dân tệ nhằm hỗ trợ công tác cứu trợ cháy nổ tại Đại Bộ, Hồng Kông. Khoản tiền này được sử dụng cho việc tái định cư tạm thời và cung cấp nhu yếu phẩm cho người dân bị ảnh hưởng.

Chức vụ xã hội

Mã Y Lợi là diễn viên thuộc Câu lạc bộ Diễn viên của Trung tâm Nghệ thuật Kịch nói Thượng Hải và là thành viên của Hội nghị Hiệp thương Chính trị quận Từ Hối, Thượng Hải.

Đánh giá

Theo Sina Entertainment, giữa cách phát âm rõ ràng của Mã Y Lợi tồn tại một nhịp điệu đặc trưng của người Thượng Hải khi nói tiếng phổ thông. Tiếng cười của cô rất sảng khoái, nhưng độ cong nơi khóe môi vẫn mang nét tiết chế tinh tế. Làn da của cô không quá trắng, giống như lớp giấy nếp bao quanh bánh đậu đỏ hoa hồng, mềm mại và trong trẻo. Trong phong thái và cử chỉ, cô vẫn giữ dáng vẻ của một cô gái Thượng Hải — quyến rũ nhưng không kiểu cách, có những khuyết điểm nhỏ khiến cô trở nên gần gũi hơn.

Trong giới giải trí, nơi danh lợi đến quá nhanh khiến nhiều người dễ dàng đánh mất bản thân, Mã Y Lợi dường như luôn mang trên mình một "lớp mặt nạ chân không"; bởi cô không bị cám dỗ bởi hào nhoáng, sống tự do và thực tế, dùng tiền do chính mình lao động kiếm được để sống cuộc đời bình thường như bao người khác.

Điều khó có thể bỏ qua nhất ở Mã Y Lợi chính là hàng mi — dài, hơi cong và xòe rộng. Khi cô nghiêm túc, hàng mi ấy giống như một lớp sương mờ che nửa ánh mắt, chỉ để lộ ra cái nhìn kiên định. Dù người khác không thể đoán được cô thực sự đang nghĩ gì, họ vẫn sẽ cảm nhận được sự mạnh mẽ không thể xem thường trong con người cô, khiến người ta không dám khinh suất hay thiếu tôn trọng. Một người phụ nữ như vậy khó tránh khỏi việc khiến người khác bị thu hút. (Sina Entertainment)

Theo The Beijing News, Mã Y Lợi là một nữ diễn viên có khả năng thích nghi rất cao. Bộ phim Hoàn Châu Cách Cách phần 3 đã giúp khán giả nhìn thấy một Hạ Tử Vy hoàn toàn khác biệt. Tuy nhiên, cô không tận dụng thành công đó để trở thành một "nữ chính Quỳnh Dao" khác, mà thay vào đó thể hiện rõ cá tính riêng của mình trong Phấn đấu — mạnh mẽ, độc lập, dám yêu dám hận, với nụ cười đầy sức lan tỏa.

Cô không phải Hạ Lâm, cũng không phải hình mẫu đại diện cho các cô gái thế hệ 8X. Sau đó, cô hóa thân thành Lý Mai trong Marriage Battle, một người phụ nữ tự tin và mạnh mẽ. Đến bộ phim Life in Two Cities năm 2011, khán giả lại nhận ra rằng Mã Y Lợi — người lớn lên ở Thượng Hải — vẫn có thể thể hiện chân thực hình ảnh một cô gái Bắc Kinh.

Trong cuộc sống, hôn nhân và con cái khiến cô trở nên dịu dàng và bao dung hơn. Vẻ đẹp của cô gần gũi và tự nhiên như một cơn gió nhẹ, dễ chạm tới và mang lại cảm giác ấm áp cho người khác. (The Beijing News)

Theo Sina Entertainment, thông qua quá trình chuyển đổi giữa nhiều hình tượng phụ nữ đô thị khác nhau, Mã Y Lợi đã trở thành một nữ diễn viên sở hữu kỹ năng diễn xuất ngày càng trưởng thành. Thành công trong sự nghiệp cũng giúp cô thường xuyên xuất hiện tại các lễ trao giải thời trang cuối năm, giành được nhiều giải thưởng tiên phong thời trang và trở thành gương mặt được giới thời trang yêu thích.

Phong cách đa dạng của cô — gợi cảm, đáng yêu, cao quý và bí ẩn — cũng nhận được sự công nhận rộng rãi trong ngành giải trí. (Sina Entertainment)

Đời tư

Gia đình

Mẹ của Mã Y Lợi là một giáo viên mẫu giáo.

Quan hệ và hôn nhân

Với diễn viên Văn Chương

Năm 2005, Mã Y Lợi và Văn Chương quen biết khi cùng tham gia bộ phim truyền hình Jinyiwei. Năm 2006, cả hai bắt đầu mối quan hệ tình cảm trong quá trình ghi hình bộ phim truyền hình Phấn đấu.

Ngày 31 tháng 1 năm 2008, cả hai đăng ký kết hôn. Ngày 20 tháng 9 cùng năm, con gái đầu lòng của họ, Văn Ái Mã (Ima), chào đời. Tháng 1 năm 2014, Mã Y Lợi sinh người con thứ hai.

Ngày 28 tháng 3 năm 2014, truyền thông ghi lại hình ảnh Văn Chương đi cùng nữ diễn viên Diêu Địch. Rạng sáng ngày 31 tháng 3, Văn Chương đăng bài trên Sina Weibo thừa nhận ngoại tình với Diêu Địch và gửi lời xin lỗi tới gia đình. Mã Y Lợi cũng đăng bài phản hồi trên Weibo với câu nói nổi tiếng: "Yêu thì dễ, hôn nhân không dễ, hãy trân trọng những gì đang có."

Tối cùng ngày, Tạ Hiểu — Tổng biên tập điều hành của Southern Metropolis Entertainment Weekly, đơn vị đầu tiên đưa tin về vụ ngoại tình của Văn Chương — đã tiết lộ hậu trường quá trình tác nghiệp thông qua một buổi phỏng vấn trên Weibo.

Ngày 1 tháng 4, cha của Mã Y Lợi cho biết thông qua Sina Weibo rằng Mã Y Lợi và Văn Chương sẽ không ly hôn, đồng thời cho biết Văn Chương đã nhận được sự tha thứ từ gia đình.

Chiều ngày 28 tháng 7 năm 2019, Mã Y Lợi và Văn Chương chính thức tuyên bố ly hôn.

  1. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  2. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  3. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  4. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  5. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  6. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  7. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  8. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).