Bước tới nội dung

Lựu pháo 152 mm M1937 (ML-20)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ ML-20)
Lựu pháo 152 mm M1937 (ML-20)
Tập tin:Smolensk-War-Museum-39.jpg
Một khẩu pháo còn sót lại tại Bảo tàng Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại ở Smolensk
LoạiLựu pháo hạng nặng
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Sử dụng bởiXem mục Các quốc gia vận hành
TrậnChiến tranh Mùa đông
Chiến tranh Thế giới thứ hai
Chiến tranh Sáu ngày
Chiến tranh Yom Kippur
Lược sử chế tạo
Người thiết kếPhòng thiết kế của Nhà máy số 172, đứng đầu bởi F. F. Petrov
Giai đoạn sản xuất1937 – 1947
Số lượng chế tạo6.884 khẩu
Thông số
Khối lượngchiến đấu: 7.270 kg
hành quân: 7.930 kg
Chiều dài8,18 m (26 ft 10 in) (kèm xe tiền; nòng kéo lùi)
Độ dài nònglòng nòng: 4,24 m (13 ft 11 in) L/27,9
tổng thể: 4,412 m (10 ft) L/29 (không tính loa giảm giật đầu nòng)
Chiều rộng2,35 m (7 ft 9 in)
Chiều cao2,27 m (7 ft 5 in)

Đạn pháo152×547mmR
Cỡ đạn152,4 mm (6 in)
Khóa nòngKhóa nòng ren cắt
Độ giậtThủy - khí
Bệ pháoCàng xòe
Góc nâng-2° / 65°
Xoay ngang58°
Tốc độ bắn3-4 phát/phút
Sơ tốc đầu nòng655 m/s (2.150 ft/s)
Tầm bắn xa nhất17,23 km (10,7 mi)

Lựu pháo - pháo 152 mm mẫu 1937 (ML-20) (tiếng Nga: 152-мм гаубица-пушка обр. 1937 г. (МЛ-20)) là một loại lựu pháo hạng nặng của Liên Xô. Khẩu pháo được phát triển bởi cục thiết kế của nhà máy số 172, đứng đầu là F. F. Petrov, như một bản nâng cấp sâu của khẩu pháo 152 mm M1910/34, vốn lại dựa trên khẩu 152 mm M1910, một thiết kế từ trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất của hãng Schneider. Nó được sản xuất từ năm 1937 đến năm 1946. ML-20 đã tham gia thực chiến trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, chủ yếu với vai trò là hỏa lực pháo binh cấp quân đoàn / tập đoàn quân của Hồng quân Liên Xô. Các khẩu pháo thu giữ được đã được Wehrmacht (Đức Quốc xã) và Quân đội Phần Lan sử dụng. Sau Thế chiến thứ hai, ML-20 tiếp tục xuất hiện trong nhiều cuộc xung đột từ giữa đến cuối thế kỷ 20.

Lịch sử thiết kế

Trong số các khẩu pháo hạng nặng cấp quân đoàn - tập đoàn quân, Hồng quân Liên Xô đã kế thừa từ quân đội Đế quốc Nga khẩu pháo 152 mm M1910. Loại pháo này được thiết kế bởi công ty Schneider của Pháp cho Đế quốc Nga và đã được sử dụng trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất cũng như Nội chiến Nga. Đến những năm 1930, nó đã trở nên lỗi thời rõ rệt và phải trải qua hai lần hiện đại hóa vào năm 1930 và 1934. Các lần hiện đại hóa đã cải thiện đáng kể đặc tính của mẫu pháo năm 1910, nhưng dù vậy, nó vẫn không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thời đại, chủ yếu là về khả năng cơ động, góc nâng tối đa và tốc độ dẫn bắn. Trong những năm 1935–1936, phòng thiết kế (KB) của nhà máy số 172 (Nhà máy Perm) ở Motovilikha đã cố gắng tiếp tục hiện đại hóa loại pháo này, tuy nhiên GRAU đã không ủng hộ và các công việc này bị đình chỉ. Việc thiết kế một loại pháo mới đã được bắt đầu.[1]

Phòng thiết kế của nhà máy số 172 đã thiết kế hai mẫu lựu pháo - pháo là ML-15 và ML-20. Việc thiết kế ML-20 được thực hiện bởi một nhóm kỹ sư dưới sự lãnh đạo của nhà thiết kế vũ khí nổi tiếng người Xô viết F. F. Petrov, và ban đầu các công việc về khẩu pháo này được tiến hành theo tinh thần chủ động, trong khi ML-15 được tạo ra theo đơn đặt hàng của GAU. Cả hai khẩu pháo đều mượn nhiều chi tiết từ khẩu pháo 152 mm M1910/34 như nòng pháo với khóa nòng và cơ chế hãm lùi. ML-20 cũng dùng chung hệ thống bánh xe, giảm chấn và càng pháo với loại pháo này, trong khi ở ML-15, các yếu tố kết cấu đó được thiết kế mới hoàn toàn.[1]

Vào tháng 4 năm 1936, mẫu ML-15 đầu tiên đã được gửi đi thử nghiệm tại trường bắn, tuy nhiên nó đã không vượt qua được và bị gửi đi để hoàn thiện. Tháng 3 năm 1937, ML-15 bước vào cuộc thử nghiệm trường bắn lần thứ hai và đã vượt qua mà không gặp trở ngại nào. ML-20 bắt đầu thử nghiệm tại trường bắn vào ngày 25 tháng 12 năm 1936, và vào năm sau đó là thử nghiệm quân sự. Dựa trên kết quả của các cuộc thử nghiệm này, ML-20, sau khi khắc phục các thiếu sót chủ yếu liên quan đến bệ pháo, đã được đề nghị đưa vào biên chế. Ngày 22 tháng 9 năm 1937, ML-20 được chính thức chấp nhận đưa vào trang bị với tên gọi "Lựu pháo 152 mm M1937".[1]

Dưới góc nhìn ngày nay, việc lựa chọn ML-20 thay vì ML-15 là một điều khó giải thích. Tác giả của các ấn phẩm trong lĩnh vực pháo binh Nga Aleksandr Shirokorad tin rằng ML-15 có những ưu điểm rõ rệt so với ML-20 — nó nhẹ hơn đáng kể (600 kg ở trạng thái hành quân và 500 kg ở trạng thái chiến đấu) và cơ động hơn (tốc độ kéo lên tới 45 km/h). Mặt khác, ML-15 có thiết kế bệ pháo hiện đại và phức tạp hơn.[1] Các nguồn tin khác khẳng định rằng sự lựa chọn được đưa ra vì lý do kinh tế vì các trang thiết bị công nghệ để phục vụ sản xuất cho ML-20 đã sẵn có.[2]

Mô tả thiết kế

Tập tin:152mm ml20 cx.jpg
Sơ đồ lựu pháo - pháo 152 mm mẫu 1937 (ML-20): a – Nòng pháo; b – Khóa nòng và đuôi pháo; в – Loa giảm giật đầu nòng; г – Cơ chế hãm lùi; д – Lá chắn bảo vệ; е – Hệ thống bánh xe; ж – Bệ pháo

ML-20 là một khẩu "lựu pháo - pháo", nghĩa là một hệ thống pháo binh kết hợp mà trong đó các đặc tính của lựu pháo có phần chiếm ưu thế hơn so với pháo nòng dài. Khẩu pháo này có kết cấu khá hiện đại vào thời điểm bấy giờ với khung bệ có càng xòe và hệ thống bánh xe có giảm chấn. Nòng pháo được sản xuất với hai biến thể: nòng ghép và nòng đơn khối (một số nguồn còn đề cập đến biến thể thứ ba là nòng có ống lót thay thế được[3]). ML-20 sử dụng khóa nòng kiểu piston, bộ hãm lùi thủy lực kiểu trục xoắn, máy đẩy thủy-khí và nạp đạn kiểu vỏ đạn rời. Khóa nòng có cơ chế tự động hất vỏ đạn khi mở sau khi bắn và có chốt an toàn để khóa chặt sau khi nạp đạn cho đến khi khai hỏa. Nếu vì lý do nào đó cần phải tháo đạn khỏi nòng, trước tiên phải gạt lẫy an toàn để cho phép mở khóa nòng. Để thuận tiện cho việc nạp đạn ở góc nâng lớn, phần đuôi pháo của ML-20 được trang bị cơ chế giữ vỏ đạn. Việc khai hỏa được thực hiện bằng cách kéo dây cò. Pháo cũng có cơ chế khóa liên động để ngăn việc mở khóa nòng nếu nòng pháo không được kết nối đúng cách với các thiết bị hãm lùi. Để giảm lực giật tác động lên các thiết bị hãm lùi và bệ pháo, ML-20 được trang bị một loa giảm giật đầu nòng dạng khe lớn và mạnh mẽ. Máy đẩy lên và bộ hãm lùi chứa mỗi bộ phận 22 lít chất lỏng, áp suất trong máy đẩy lên là 45 atm.[4][3]

Điểm đặc trưng của ML-20 là sự kết hợp độc đáo giữa các góc nâng khác nhau và sơ tốc đầu nòng của đạn, được thiết lập bằng cách lựa chọn một trong mười ba liều phóng khác nhau. Kết quả là khẩu pháo có thể được sử dụng như một lựu pháo, bắn theo quỹ đạo cầu vồng với tốc độ đạn tương đối thấp, hoặc như một khẩu pháo nòng dài bắn theo quỹ đạo tà thấp với tốc độ đạn cao. Pháo được trang bị cả kính ngắm quang học để bắn trực tiếp và kính ngắm toàn cảnh để bắn từ các trận địa kín.[4][3]

Tập tin:МЛ-20 (крайняя справа) в Музее артиллерии г. Санкт-Петербург.jpg
ML-20 (ngoài cùng bên phải) tại Bảo tàng Pháo binh ở St. Petersburg

Khung bệ pháo với các càng xòe được trang bị cơ chế cân bằng và lá chắn bảo vệ. Bánh xe bằng kim loại có lốp cao su (một số khẩu đời đầu sử dụng bánh xe có nan hoa và lốp cao su đặc từ mẫu pháo năm 1910/34), hệ thống giảm xóc bằng nhíp lá. Việc vận chuyển pháo thường được thực hiện ở trạng thái nòng pháo được kéo lùi về phía sau. Thời gian chuyển trạng thái từ hành quân sang chiến đấu mất từ 8 đến 10 phút. Trong khoảng cách ngắn, hệ thống có thể được kéo đi mà không cần thu nòng với tốc độ 4–5 km/h. Khung bệ của ML-20 được công nhận là khung bệ tiêu chuẩn, nhận ký hiệu 52-L-504A và được sử dụng để hiện đại hóa pháo 122 mm A-19.[4][3] Để vận chuyển ML-20, người ta thường sử dụng các loại xe kéo pháo bánh xích hạng nặng như "Voroshilovets" và "Komintern", vốn được sản xuất bởi Nhà máy đầu máy Kharkov – nơi thiết kế và sản xuất đầu tiên của xe tăng T-34 huyền thoại. "Voroshilovets" sử dụng cùng loại động cơ V-2 như xe tăng T-34. Ngoài ra, các loại xe khác như S-65 "Stalinets", ATS-712, ATS-59, ATS-59G và URAL-4320 cũng được sử dụng để kéo ML-20.

Số lượng МL-20 đã được sản xuất (khẩu)[5]
Năm 1937 1938 1939 1940 1941 1942 1943 1944 1945 1946 Tổng cộng
Số lượng 148 500 567 901 1342 1809 1002 275 325 15 6884

Các quốc gia sử dụng

Tham khảo

  1. ^ a b c d Shirokorad 2000, tr. 654–655.
  2. ^ Shunkov, V. N. Red Army (bằng tiếng Nga). tr. 123.
  3. ^ a b c d Shunkov, V. N. Red Army (bằng tiếng Nga). tr. 124.
  4. ^ a b c Shirokorad 2000, tr. 655–656.
  5. ^ Shirokorad A. B. - Bách khoa toàn thư về pháo binh Liên Xô.