Mahavira
Mahavira (chữ Phạn: महावीर; chữ Kannada: ಮಹಾವೀರ; chữ Tamil: அருகன் ("Arugan")) có nghĩa là "Đại anh hùng" hay "Anh hùng vĩ đại", 599—527 TCN) còn được gọi là Vardhamana hoặc Kevala là Tirthankara thứ 24 của Kỳ Na giáo. Ông là người kế thừa tinh thần của Tirthankara Parshvanatha thứ 23.[1] Mahavira sinh vào đầu thế kỷ 6 trước Công nguyên trong một gia đình hoàng gia Kshatriya Jain ở Bihar, Ấn Độ. Tên mẹ của ông là Trishala và tên của cha là Siddhartha. Họ là những tín đồ của Parshvanatha. Mahavira từ bỏ mọi tài sản thế gian ở tuổi khoảng 30 và rời nhà để theo đuổi sự thức tỉnh tâm linh, trở thành một nhà khổ hạnh. Mahavira thực hành thiền định cường độ cao và khổ hạnh nghiêm khắc trong 12 năm rưỡi, sau đó ông đạt được Kevala Gyan (toàn giác). Ông đã thuyết giảng trong 30 năm và đạt được Moksha (sự cứu rỗi) vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, chi tiết cụ thể vào các năm khác nhau tùy theo giáo phái.
| Mahāvīra Phiệt-đà-ma-na (筏馱摩那) | |
|---|---|
| Tập tin:Mahavir Swami giving alms to a brahmin.jpg Chân dung Mahāvīra | |
| Chi tiết | |
| Tên khác | Ni-càn-đà-nhã-đề-tử (尼乾陀若提子; Nigaṇṭha jñāta putta) |
| Sinh và mất | k. 599—527 TCN? |
| Gia đình | |
| Mẹ | Thuý-sa-lạp (Trishala; 翠莎拉) |
| Con cái | Phổ-lý-nha-đạt-san-na (Priyadarshana; 普里雅達珊娜) |
| Địa điểm | |
| Nơi sinh | Kundagrama, Vaishali, Vajji (nay thuộc huyện Vaishali, Bihar, Ấn Độ) |
| Nơi mất | Pawapuri, Bihar |
| Các mô hình | |
| Mài | Màu vàng kim loại |
| Biểu tượng: | Sư tử |
| Cao | 6 bộ |
| Thọ | 72 tuổi |
Trong lịch sử, Mahavira, người đã giảng đạo Kỳ Na giáo ở Ấn Độ cổ đại, là người cùng thời với Phật Gautama. Các học giả xác định niên đại của ông từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 5 TCN và nơi sinh của ông cũng là một điểm còn tranh cãi. Mahavira dạy rằng việc tuân thủ các lời thề ahimsa (bất bạo động), satya (chân lý), asteya (không trộm cắp), brahmacharya (trinh tiết), và aparigraha (không dính mắc) là cần thiết để giải thoát tâm linh. Ngài dạy các nguyên tắc của Anekantavada (thực tại nhiều mặt): syadvada và nayavada. Giáo lý của Mahavira được Indrabhuti Gautama (đệ tử chính của ông) biên soạn thành Jain Agamas. Các kinh sách này, được các nhà sư Jaina truyền miệng, được cho là đã bị thất lạc phần lớn vào khoảng thế kỷ 1 CN (khi phần còn lại được viết ra lần đầu tiên theo truyền thống Svetambara). Các phiên bản còn sót lại của Agamas do Mahavira giảng dạy là một số văn bản nền tảng của nhánh Svetambara của Kỳ Na giáo, nhưng tính xác thực của chúng bị tranh chấp với Kỳ Na giáo Digambara.
Thân thế
Mahavira tên thật là Vardhamana, xuất thân là hoàng tử của bộ lạc Lichavi, vương quốc Kosala. Thuộc đẳng cấp Kshastriya. Năm 19 tuổi, ông lập gia đình và có một con gái. Tới năm 30 tuổi, Vardhamana rời gia đình, từ bỏ vợ con, dấn thân vào cuộc sống khổ hạnh và khỏa thân. Con đường tầm đạo của ông kéo dài 12 năm trời mới thành đạo. Trong thời gian ấy, có thời ông hiệp đoàn với Gosaka, người về sau sáng lập Ajivikas, một hệ phái Ấn giáo phi chính thống khác.
Tới năm 42 tuổi, Vardhamana, thành tựu toàn tri — thuật ngữ Jaina giáo dùng để gọi sự thức ngộ, giác ngộ, vì thế được gọi là một Jina: người chinh phục. Các tín đồ của tôn giáo này được gọi là Jaina — thường viết tắt là Jain — nghĩa là những kẻ đi theo người chinh phục. Danh hiệu Mahavira có nghĩa là Đại Anh hùng, một biệt danh dùng để tôn vinh cá biệt vị tổ sư này.
Kết thúc 30 năm rao giảng, xây dựng và phát triển Jaina giáo, Mahavira từ trần sau một cuộc tuyệt thực cho tới chết tại Para, nơi gần Patna ngày nay. Và nơi ấy từ đó trở thành thánh địa hành hương của mọi tín đồ Jaina giáo.
Cho tới thời điểm nhập diệt, Đức Mahavira có rất đông đảo đệ tử gồm hai dạng: thứ nhất nam nữ tu sĩ (nữ đông hơn nam); và thứ hai các tín đồ tại gia (cư sĩ), luôn luôn giúp đỡ mọi mặt, đặc biệt về vật chất, cho giới tu sĩ.
Trong Trung Bộ kinh, phẩm 56 Upaly Sutra của Phật giáo có kể lại cuộc tranh luận giữa Đức Phật Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni) và Nigantha Dighatapassi (Trường Khổ Hạnh Giả), một cao đồ của Mahavira, cuối cùng Nigantha chịu thua và quy y theo đạo Phật. Sau đó, Phật Thích Ca còn thu phục được Gia chủ Upaly, một cao đồ cư sĩ của Mahavira. Kinh còn ghi lại cuộc tường thuật của hai cao đồ ấy cho Mahavira.
Lời giảng
Gặp trường hợp có những hệ phái khác nhau của một tôn giáo, các học giả khó có thể thẩm định trong những lời tuyên bố không hoàn toàn giống nhau và đang ganh đua nhau ấy cái nào là tiếng nói xác thực của người sáng lập. Nhưng đối với Jaina giáo không có vấn đề đó, vì cả hai hệ phái chính — Svetambara và Digambara — chỉ bất đồng về vài điểm thực hành, đặc biệt ở chỗ tu sĩ nên khỏa thân hay mặc quần áo, chứ không có những thông giải triết học khác nhau về tôn giáo của mình. Do đó, chúng ta có thể khá tự tin khi cho rằng các khái niệm hiện lưu hành trong Jaina giáo thật sự phản ánh trung thực lời giảng dạy nguyên thủy của Mahavira 25 thế kỷ trước. Ba điểm căn bản trong các lời giảng của Đức Đại Anh hùng là:
- Bác bỏ các nghi lễ Bà la môn như là phương thế để thành tựu giải thoát, ông tái thông giải khái niệm về nghiệp báo mà truyền thống Ấn giáo chính thống ưu tiên áp dụng nó như là hậu quả tuôn trào từ việc cử hành chính xác các nghi lễ.
- Phủ định sự hiện hữu của cảnh giới thiêng liêng vĩnh cửu, ông tin rằng linh hồn của con người bị mắc kẹt trong thế giới vật chất, cần được giải thoát nhằm thành tựu sự toàn mãn.
- Biến giới luật bất tổn sinh (bất bạo động - ahimsa) thành tâm điểm tuyệt đối của triết học và đạo đức học thực hành của mình.
Tuy thế, những lời giảng của Mahavira không được ghi thành văn cho tới thế kỷ thứ 2 sau CN. Mãi tới thế kỷ thứ 5, cũng vẫn chưa có bản san định tổng thể các sách thánh chính của Jaina giáo. Để am hiểu triết học của mình, mọi hệ phái Jaina giáo đều chấp nhận thẩm quyền và đặt cơ sở xiển dương trên cuốn kinh Tattvartha Sutra (Kinh về những phạm trù nhận thức) do tu sĩ triết gia Umasvarti ghi lại vào khoảng đầu thế kỷ thứ 2 sau CN.
Trong kinh điển Phật giáo
Trong kinh điển Pali, Mahavira được gọi qua một số tên gọi như: Nigaṇṭha Nāṭaputta, Nigaṇṭha Nāthaputta, Nāthaputta, Nāṭaputta.[2] Ông được xem là người sáng lập hoặc cải cách giáo phái Kỳ-na (Jain). Ông là một trong sáu vị đạo sư nổi tiếng đương thời với Đức Phật và được mô tả là một ngoại đạo.[3] Ông là lãnh đạo của một giáo phái được gọi là Nigaṇṭha, và bản tóm tắt giáo lý của ông được tìm thấy trong kinh Sāmaññaphala Sutta.[4]
Nāṭaputta được cho là đã tuyên bố mình toàn tri — biết tất cả, thấy tất cả, sở hữu tri kiến bao trùm mọi sự. Ông được ghi lại đã nói: “Dù ta đi, đứng, ngủ hay thức, tri kiến của ta luôn hiện diện trước mặt ta một cách liên tục, không gián đoạn.” Điều đáng chú ý là, xét theo giáo lý vô hành động của Nāṭaputta, lý do chính khiến ông phản đối việc Sīha đến gặp Đức Phật lại là vì ông cho rằng Đức Phật là một người theo thuyết vô hành động (akiriyavādī). Ông dạy rằng các hành động trong quá khứ phải được tiêu trừ bằng những khổ hạnh nghiêm khắc, còn những hành động mới phải được tránh bằng cách không hành động. Nhờ sám hối để loại bỏ các ác nghiệp quá khứ và không tạo thêm ác nghiệp mới, tương lai sẽ được thanh tịnh. Từ sự hủy diệt của nghiệp dẫn đến sự hủy diệt của khổ (dukkha); từ đó dẫn đến sự hủy diệt của cảm thọ (vedanā). Như vậy mọi khổ đau được đoạn tận và con người vượt khỏi vòng luân hồi. Người ta nói rằng Nāṭaputta không sử dụng thuật ngữ kamma (nghiệp) trong giáo lý của mình mà dùng từ daṇḍa; và theo ông, daṇḍa của thân hành nghiêm trọng hơn nhiều so với daṇḍa của lời nói và ý nghĩ. Ông được cho là không hề do dự khi tuyên bố cảnh giới tái sinh của các đệ tử sau khi họ qua đời. Tuy nhiên, Sakuludāyi kể rằng khi được hỏi về quá khứ, ông thường chuyển từ vấn đề này sang vấn đề khác rồi gạt bỏ câu hỏi, biểu lộ sự khó chịu, nóng nảy và bất bình. Chỉ có một cuộc đối thoại được ghi lại giữa Nāṭaputta với một cư sĩ theo Đức Phật, đó là cuộc thảo luận với cư sĩ Citta tại Macchika Sanda. Lúc đầu, Nāṭaputta ca ngợi Citta, nêu ông làm gương cho đệ tử của mình và đồng ý với Citta rằng tri thức cao quý hơn đức tin. Nhưng về sau, khi Citta tuyên bố mình có hiểu biết về bốn tầng thiền (jhāna), Nāṭaputta lại cho rằng ông là người dối trá. Khi ấy, Citta đặt cho ông mười câu hỏi; không nhận được câu trả lời nào, Citta bỏ đi. Kinh Devadaha Sutta chứa đựng một sự phân tích chi tiết, được quy cho Đức Phật, về niềm tin và giáo lý của phái Nigaṇṭha. Tại đó, Đức Phật chọn ra mười tuyên bố thực hành lớn nhỏ của họ để phê phán, và chứng minh rằng những nỗ lực và khổ công của các Nigaṇṭha là vô ích.[5][6]
Kinh điển ghi lại tên của nhiều đệ tử của Nāṭaputta, trong đó có một vị thiên tên là Ninka. Nāṭaputta tin chắc vào chân lý và tính không thể bác bỏ của học thuyết mình đến mức thực sự khuyến khích đệ tử tranh luận với Đức Phật. Một số người như Dīgha Tapassī ra về mà không đi đến kết luận nào; những người khác cuối cùng bị Đức Phật thuyết phục và trở thành đệ tử của Ngài, như Asibandhakaputta và Abhayarājakumāra.. Nāṭaputta nhiều lần cố gắng nhưng không thành công trong việc ngăn cản tướng quân Sīha của bộ tộc Licchavi đến gặp Đức Phật. Sīha vẫn đến và được cảm hóa. Ngày hôm sau, ông tổ chức một đại lễ cúng dường Đức Phật và chư Tăng, trong đó có phục vụ thịt. Người ta kể rằng Nāṭaputta đi khắp Vesālī chế nhạo Đức Phật vì đã khuyến khích việc giết hại sinh vật.[7] Tuy nhiên, cú đòn lớn nhất đối với Nāṭaputta là khi cư sĩ Upāli quy y Đức Phật.[8] Nāṭaputta đã cho phép Upāli đến gặp Đức Phật bất chấp lời cảnh báo của Dīgha-Tapassī về sức thu hút mạnh mẽ của Ngài. Nhưng ông nghĩ rằng Upāli sẽ không bị ảnh hưởng. Khi nghe tin Upāli từ bỏ sự trung thành với phái Nigaṇṭha, ông không tin cho đến khi tự mình xác minh được sự việc. Việc phát hiện Upāli đã rời bỏ giáo phái khiến ông suy sụp vì đau buồn; ông nôn ra máu nóng và phải được khiêng bằng cáng từ Bālaka, nơi ông đang cư trú, đến Pāvā. Không lâu sau đó ông qua đời, và ngay lập tức những bất đồng lớn nảy sinh giữa các môn đồ của ông. Khi nghe tin về các cuộc tranh cãi ấy, Đức Phật nhận xét rằng điều đó hoàn toàn có thể dự đoán được.[9]
Nigaṇṭha Nāṭaputta là danh xưng mà vị đạo sư Kỳ-na Mahāvīra được những người đồng thời gọi đến. Ông cũng được gọi là Vardhamāna. Nāta là tên thị tộc của ông.[2]
Xem thêm
Chú thích
- ^ Heehs 2002, tr. 90.
- ^ a b "SuttaCentral - Định nghĩa nigaṇṭha nāṭaputta". SuttaCentral (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.
- ^ "SuttaCentral SN.i.66". SuttaCentral (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.
- ^ "SuttaCentral DN.i.57". SuttaCentral (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.
- ^ "SuttaCentral MN.ii.214". SuttaCentral (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.
- ^ "SuttaCentral MN.i.91ff". SuttaCentral (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.
- ^ "SuttaCentral Vin.i.233ff". SuttaCentral (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.
- ^ "SuttaCentral MN.i.373ff". SuttaCentral (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.
- ^ "SuttaCentral MN.ii.243f". SuttaCentral (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.
Tham khảo
- Adams, Simon (2011), The Story of World Religions, The Rosen Publishing Group, ISBN 978-1-4488-4791-4
- Appleton, Naomi (2014), Narrating Karma and Rebirth: Buddhist and Jain Multi-Life Stories, Cambridge University Press, ISBN 978-1-107-03393-1
- Balcerowicz, Piotr (2015), Early Asceticism in India: Ājīvikism and Jainism, Routledge, ISBN 978-1-317-53853-0
- Basham, A.L. (1951). History and Doctrines of the Ājīvikas: A Vanished Indian Religion. Jainism Series. Motilal Banarsidass. ISBN 978-81-208-1204-8.
- Bhalla, Kartar Sing (2005), Let's Know Festivals of India, Star Publications, ISBN 9788176501651
- Caillat, Colette; Balbir, Nalini (ngày 1 tháng 1 năm 2008), Jaina Studies, (in Prakrit), Motilal Banarsidass Publishing House, ISBN 978-81-208-3247-3
- Charitrapragya, Samani (2004), Sethia, Tara (biên tập), Ahimsā, Anekānta, and Jaininsm, Motilal Banarsidass Publishing House, ISBN 978-81-208-2036-4
- Chakravarthi, Ram-Prasad (2003), "Non-violence and the other A composite theory of multiplism, heterology and heteronomy drawn from Jainism and Gandhi", Angelaki, 8 (3): 3–22, doi:10.1080/0969725032000154359, S2CID 143842799
- Chapelle, Christopher (2011), Murphy, Andrew R. (biên tập), The Blackwell Companion to Religion and Violence, John Wiley & Sons, ISBN 978-1-4443-9573-0
- Collins, Steven (1994), Reynolds, Frank; Tracy, David (biên tập), Religion and Practical Reason, State University of New York Press, ISBN 978-0-7914-2217-5
- Cort, John E., biên tập (1998), Open Boundaries: Jain Communities and Cultures in Indian History, SUNY Press, ISBN 978-0-7914-3785-8
- Cort, John E. (2001), Jains in the World: Religious Values and Ideology in India, Oxford University Press, ISBN 978-0-19-513234-2
- Cort, John E. (2010), Framing the Jina: Narratives of Icons and Idols in Jain History, Oxford University Press, ISBN 978-0-19-538502-1
- Dalal, Roshen (2010), The Religions of India: A Concise Guide to Nine Major Faiths, Penguin Books, ISBN 978-0-14-341517-6
- Davidson, Linda Kay; Gitlitz, David Martin (2002), Pilgrimage: From the Ganges to Graceland : an Encyclopedia, quyển 1, ABC-CLIO, ISBN 9781576070048
- Dhaky, M.A. (1997). Arhat Pārśva and Dharaṇendra Nexus. Bhogilal Leharchand Institute of Indology, Delhi.
- Doniger, Wendy, biên tập (1999), Encyclopedia of World Religions, Merriam-Webster, ISBN 978-0-87779-044-0
- Dowling, Elizabeth M.; Scarlett, W. George, biên tập (2006), Encyclopedia of Religious and Spiritual Development, SAGE Publications, ISBN 978-0-7619-2883-6
- Dundas, Paul (2002) [1992], The Jains , Routledge, ISBN 978-0-415-26605-5
- George, Vensus A. (2008), Paths to the Divine: Ancient and Indian, quyển XII, The Council for Research in Values and Philosophy, ISBN 978-1-56518-248-6
- Gorski, Eugene F. (2008), Theology of Religions: A Sourcebook for Interreligious Study, Paulist Press, ISBN 978-0-8091-4533-1
- Goyal, S. R. (2005). Ancient Indian Inscriptions: Recent Finds and New Interpretations. Kusumanjali Book World.
- Goyala, Śrīrāma (2006), Brāhmī Script: An Invention of the Early Maurya Period (bằng tiếng Anh), Kusumanjali Book World
- Gupta, K. R.; Gupta, Amita (2006), Concise Encyclopaedia of India, quyển 3, Atlantic Publishers & Dis, ISBN 978-81-269-0639-0
- Swarajya Prakash Gupta; K. S. Ramachandran, biên tập (1979). The Origin of Brahmi script. D.K.
- Harvey, Graham (2014) [2009], Religions in Focus: New Approaches to Tradition and Contemporary Practices, Routledge, ISBN 978-1-134-93690-8
- Heehs, Peter (2002), Indian Religions: A Historical Reader of Spiritual Expression and Experience, New York University Press, ISBN 978-0-8147-3650-0
- Hubbard, Thomas (1807). Asiatick Researches. Quyển 9. Kolkata: Hindoostanee Press.
- Jacobi, Hermann (1964), Max Muller (biên tập), Jaina Sutras (Translation), The Sacred Books of the East, quyển XXII, Motilal Banarsidass Publishing House (original: Oxford University Press)
- Jain, Champat Rai (1939), The Change of Heart Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
- Jain, Gokulchandra (2015), Samantabhadrabhāratī (ấn bản thứ 1), Budhānā, Muzaffarnagar: Achārya Shāntisāgar Chani Smriti Granthmala, ISBN 978-81-90468879
- Jain, Hiralal; Jain, Dharmachandra (ngày 1 tháng 1 năm 2002), Jaina Tradition in Indian Thought, Sharada Publishing House, ISBN 9788185616841
- Jain, Hiralal; Upadhye, Adinath Neminath (2000) [1974], Mahavira, his times and his philosophy of life, Bharatiya Jnanpith
- Jain, Jyotindra; Fischer, Eberhard (1978), Jaina Iconography, BRILL Academic, ISBN 978-90-04-05259-8
- Jain, Kailash Chand (1972), Malwa Through The Ages (bằng tiếng Anh), Motilal Banarsidass Publishing House, ISBN 978-81-208-0824-9
- Jain, Kailash Chand (1991), Lord Mahāvīra and His Times, Motilal Banarsidass Publishing House, ISBN 978-81-208-0805-8
- Jain, Pannalal (2015), Uttarapurāṇa of Āchārya Guṇabhadra, Bhartiya Jnanpith, ISBN 978-81-263-1738-7
- Jain, Shanti Lal (1998), ABC of Jainism, Bhopal (M.P.): Jnanodaya Vidyapeeth, ISBN 978-81-7628-000-6
- Jain, Vijay K. (2012), Acharya Amritchandra's Purushartha Siddhyupaya: Realization of the Pure Self, With Hindi and English Translation, Vikalp Printers, ISBN 978-81-903639-4-5 Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
- Jain, Vijay K. (2015), Acarya Samantabhadra's Svayambhustotra: Adoration of The Twenty-four Tirthankara, Vikalp Printers, ISBN 978-81-903639-7-6, Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2015 Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
- Jain, Vijay K. (2016). Ācārya Samantabhadra's Ratnakarandaka-śrāvakācāra: The Jewel-casket of Householder's Conduct. Vikalp Printers. ISBN 978-81-903639-9-0. Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
- Jaini, Padmanabh S. (2000), Collected Papers on Jaina Studies, Delhi: Motilal Banarsidass Publishing House, ISBN 978-81-208-1691-6
- Kuiper, Kathleen (2010). The Culture of India. Understanding India. Britannica Educational Publishing. ISBN 978-1-61530-203-1.
- Long, Jeffery D. (2009), Jainism: An Introduction, I. B. Tauris, ISBN 978-0-8577-3656-7
- Matilal, Bimal Krishna (1990), Logic, Language and Reality: Indian Philosophy and Contemporary Issues, Motilal Banarsidass Publishing House, ISBN 978-81-208-0717-4
- Matilal, Bimal Krishna (1998), Ganeri, Jonardon; Tiwari, Heeraman (biên tập), The Character of Logic in India, State University of New York Press, ISBN 978-0-7914-3739-1
- Melton, J. Gordon; Baumann, Martin, biên tập (2010), Religions of the World: A Comprehensive Encyclopedia of Beliefs and Practices, quyển One: A–B , ABC-CLIO, ISBN 978-1-59884-204-3
- Mills, Margaret A.; Claus, Peter J.; Diamond, Sarah, biên tập (2003), Kalpa Sutra (by Jerome Bauer) in South Asian Folklore: An Encyclopedia, Routledge, ISBN 978-0-415-93919-5
- Nagel, Bruno (2000), Perrett, Roy (biên tập), Philosophy of Religion: Indian Philosophy, Routledge, ISBN 978-0815336112
- Nanda, R. T. (1997), Contemporary Approaches to Value Education in India, Regency Publications, ISBN 978-81-86030-46-2
- Olivelle, Patrick (2006), Between the Empires: Society in India 300 BCE to 400 CE, Oxford University Press, ISBN 978-0-19-977507-1
- Pandey, Janardan (1998), Gandhi and 21st Century, Concept Publishing Company, ISBN 9788170226727
- Potter, Karl H. (2007), Dalsukh Malvania and Jayendra Soni (biên tập), Encyclopedia of Indian Philosophies, quyển X: Jain Philosophy, Motilal Banarsidass Publishing House, ISBN 978-81-208-3169-8
- Pramansagar, Muni (2008), Jain Tattvavidya, India: Bhartiya Gyanpeeth, ISBN 978-81-263-1480-5
- Rapson, E. J. (1935), The Cambridge History of India, Cambridge University Press
- Sangave, Vilas Adinath (2006) [1990], Aspects of Jaina religion (ấn bản thứ 5), Bharatiya Jnanpith, ISBN 978-81-263-1273-3
- Sen, Shailendra Nath (1999) [1998], Ancient Indian History and Civilization (ấn bản thứ 2), New Age International, ISBN 978-81-224-1198-0
- Shah, Natubhai (2004) [First published in 1998], Jainism: The World of Conquerors, quyển I, Motilal Banarsidass Publishing House, ISBN 978-81-208-1938-2
- Shah, Umakant Premanand (1987), Jaina-rūpa-maṇḍana: Jaina iconography, Abhinav Publications, ISBN 978-81-7017-208-6
- Shah, Umakant Premanand (ngày 4 tháng 5 năm 1999). "Mahavira". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2025.
- Sharma, Arvind (1994), Religion and Women, State University of New York Press, ISBN 978-0-7914-1689-1
- Sharma, Arvind; Khanna, Madhu (2013), Asian Perspectives on the World's Religions, ABC-CLIO, ISBN 978-0-313-37897-3
- Singh, Upinder (2016), A History of Ancient and Early Medieval India: From the Stone Age to the 12th Century, Pearson Education, ISBN 978-93-325-6996-6
- Sunavala, A. J. (1934), Adarsha Sadhu: An Ideal Monk , Cambridge University Press, ISBN 978-1-107-62386-6
- Taliaferro; Marty (2010), A dictionary of philosophy of Religion, A&C Black, ISBN 978-1-4411-1197-5
- Tandon, Om Prakash (2002) [1968], Jaina Shrines in India (ấn bản thứ 1), New Delhi: Publications Division, Ministry of Information and Broadcasting, Government of India, ISBN 978-81-230-1013-7
- Taylor, Bron (2008), Encyclopedia of Religion and Nature, Bloomsbury Academic, ISBN 978-1-4411-2278-0
- Titze, Kurt (1998), Jainism: A Pictorial Guide to the Religion of Non-Violence (ấn bản thứ 2), Motilal Banarsidass Publishing House, ISBN 978-81-208-1534-6
- von Glasenapp, Helmuth (1925), Jainism: An Indian Religion of Salvation, Delhi: Motilal Banarsidass Publishing House (Reprinted 1999), ISBN 978-81-208-1376-2
- Vyas, Dr. R. T., biên tập (1995), Studies in Jaina Art and Iconography and Allied Subjects, The Director, Oriental Institute, on behalf of the Registrar, M.S. University of Baroda, Vadodara, ISBN 81-7017-316-7
- Wiley, Kristi L. (2009), The A to Z of Jainism, Scarecrow Press, ISBN 978-0-8108-6821-2
- Winternitz, Moriz (1993), History of Indian Literature: Buddhist & Jain Literature, Motilal Banarsidass Publishing House, ISBN 978-81-208-0265-0
- Zimmer, Heinrich (1953) [tháng 4 năm 1952], Campbell, Joseph (biên tập), Philosophies Of India, London: Routledge & Kegan Paul Ltd, ISBN 978-81-208-0739-6
- S. R. Goyal (2005). Ancient Indian Inscriptions: Recent Finds and New Interpretations. Kusumanjali Book World.