Emanuel David "Manu" Ginóbili (tiếng Anh: /ˈmæn ɪˈnbli/ MAN-oo jin-OH-blee,[3] tiếng Tây Ban Nha: [ˈmanu ʝiˈnoβili];[4] sinh ngày 28 tháng 7 năm 1977[5]) là một cựu cầu thủ bóng rổ chuyên nghiệp người Argentina. Trong suốt sự nghiệp thi đấu đỉnh cao kéo dài 23 năm, Ginóbili từng chơi bóng tại Argentina, Ý và giải đấu NBA, đồng thời là nhân tố chủ chốt khoác áo đội tuyển quốc gia Argentina tại các đấu trường quốc tế. Thi đấu ở vị trí hậu vệ ghi điểm, ông được biết đến nhiều nhất trong khoảng thời gian cống hiến cho đội bóng San Antonio Spurs tại NBA từ năm 2002 đến năm 2018. Ginóbili cùng với Tim DuncanTony Parker đã tạo nên bộ ba huyền thoại "Big Three" của Spurs; họ đã sát cánh bên nhau để mang về bốn chức vô địch NBA. Vào tháng 4 năm 2022, Ginóbili đã chính thức được vinh danh vào Sảnh danh vọng Bóng rổ Naismith Memorial ngay trong lần đầu tiên đủ điều kiện đề cử.[6]

Manu Ginóbili
Tập tin:Manu Ginobili Spurs-Magic011 (cropped).jpg
Ginóbili trong màu áo San Antonio Spurs năm 2010
San Antonio Spurs
Vị tríCố vấn đặc biệt
Giải đấuNBA
Thông tin cá nhân
Sinh28 tháng 7, 1977 (49 tuổi)
Bahía Blanca, Argentina
Thống kê chiều cao6 ft 6 in (198 cm)
Thống kê cân nặng205 lb (93 kg)
Thông tin sự nghiệp
NBA Draft1999 / Vòng: 2 / Chọn: thứ 57
Được lựa chọn bởi San Antonio Spurs
Sự nghiệp thi đấu1995–2018
Vị tríHậu vệ ghi điểm / Tiền phong phụ
Số20, 10, 6, 5
Quá trình thi đấu
1995–1996Andino de La Rioja
1996–1998Estudiantes de Bahía Blanca
1998–2000Viola Reggio Calabria
2000–2002Virtus Bologna
20022018San Antonio Spurs
Danh hiệu nổi bật và giải thưởng
Thống kê sự nghiệp NBA
Điểm số14.043 (13,3 ppg)
Rebound3.697 (3,5 rpg)
Kiến tạo4.001 (3,8 apg)
Số liệuLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value). tại Basketball-Reference.com
Vào sảnh danh vọng bóng rổ với tư cách cầu thủ
Danh hiệu
Bóng rổ nam
Đại diện cho  Argentina
Thế vận hội Mùa hè
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 2004 Athens
Huy chương đồng – vị trí thứ ba 2008 Bắc Kinh
FIBA World Cup
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 2002 Indianapolis
FIBA Diamond Ball
Huy chương đồng – vị trí thứ ba 2004 Belgrade
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 2008 Nam Kinh
FIBA AmeriCup
Huy chương đồng – vị trí thứ ba 1999 San Juan
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 2001 Neuquén
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 2003 San Juan
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 2011 Mar del Plata
Giải vô địch bóng rổ Nam Mỹ
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 1999 Bahía Blanca

Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống bóng rổ chuyên nghiệp, Ginóbili dành giai đoạn đầu sự nghiệp thi đấu tại ArgentinaÝ, gặt hái được nhiều danh hiệu tập thể lẫn cá nhân. Khoảng thời gian khoác áo câu lạc bộ Ý Kinder Bologna là một giai đoạn đặc biệt thành công của ông, khi ông giành được hai danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất giải vô địch Ý (MVP), một danh hiệu MVP Chung kết EuroLeague, chức vô địch EuroLeague 2001 và đạt được Cú ăn ba châu Âu (Triple Crown). Sau khi gia nhập San Antonio Spurs, Ginóbili có hai lần được bầu chọn vào đội hình All-Star vào các năm 20052011, đồng thời hai lần lọt vào Đội hình tiêu biểu thứ ba NBA. Vào mùa giải 2007–08, ông được vinh danh là Cầu thủ dự bị xuất sắc nhất năm của NBA. Spurs đều lọt vào vòng playoff trong cả 16 mùa giải mà Ginóbili cống hiến. Ông được coi là một trong những cầu thủ Mỹ Latinh xuất sắc nhất, cầu thủ dự bị hay nhất, và là một trong những thương vụ tuyển quân "hời" nhất từ trước đến nay (Draft steal) trong lịch sử NBA.[7] Bên cạnh đó, Ginóbili cũng được ghi nhận là người đã nâng tầm và phổ biến kỹ thuật chạy lỗi bước kiểu Âu (Euro step) tại đấu trường NBA.[8][9]

Ở cấp độ quốc tế, những thành tựu nổi bật của Ginóbili bao gồm việc dẫn dắt Argentina giành huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa hè 2004, giải đấu mà ông được bình chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất (MVP). Ông cũng góp công lớn vào kỳ tích lịch sử khi là thành viên của đội tuyển bóng rổ duy nhất trong lịch sử Olympic (tính đến năm 2025) từng đánh bại và loại đội tuyển bóng rổ nam quốc gia Hoa Kỳ.[10] Với tấm huy chương vàng năm 2004 cùng đội tuyển bóng rổ Argentina, Ginóbili trở thành một trong hai cầu thủ duy nhất (cùng với Bill Bradley) từng giành được cả chức vô địch EuroLeague, danh hiệu NBA và huy chương vàng Thế vận hội.[11]

Tham khảo

  1. ^ CABB anuncia el retiro de las camisetas de Ginóbili y Nocioni Lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2020 tại Wayback Machine do Germán Beder đăng trên trang web CABB, ngày 29 tháng 7 năm 2017
  2. ^ Trang web FIBA: [1]
  3. ^ "International NBA Players - Pronunciation Guide". NBA.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2019.
  4. ^ Entrevista a Manu Ginóbili en Unidos por Argentina. YouTube (bằng tiếng Tây Ban Nha). Televisión Pública. ngày 5 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2021.
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên bio
  6. ^ "Manu Ginobili, Lindsay Whalen, Swin Cash, Tim Hardaway among 2022 Basketball Hall of Fame inductees". ngày 2 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2022.
  7. ^ Multiple sources:
  8. ^ "How Manu Ginobili Changed the NBA With His Euro Step". Sportscasting.com. ngày 13 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2020.
  9. ^ "How Manu Ginobili brought the Eurostep to the NBA". www.poundingtherock.com/. ngày 8 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2021.
  10. ^ Zschoche, Robert (ngày 20 tháng 7 năm 2024). "Revisiting Manu Ginobili and Argentina's Olympic Gold Medal 20 Years Later". GiveMeSport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  11. ^ Gancedo, Javier (ngày 23 tháng 4 năm 2013). "An Oxford scholar turned European champion". EuroLeague.net. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2018. He was the first player to win the Euroleague, Olympics and NBA titles - something that only Manu Ginobili has managed to achieve after him.