Mikoyan-Gurevich MiG-15
Bản mẫu:Infobox aircraft Mikoyan-Gurevich MiG-15 (tiếng Nga: Микоян и Гуревич МиГ-15) (tên ký hiệu của NATO đặt là "Fagot") là một máy bay tiêm kích phản lực thế hệ thứ nhất của Liên Xô do Artem Mikoyan và Mikhail Gurevich thiết kế và phát triển. MiG-15 là một trong những máy bay phản lực thành công với cánh xuôi, và nó nổi tiếng trên bầu trời Triều Tiên, nơi trong thời kì đầu của cuộc chiến nó đã hạ gục mọi loại máy bay cánh thẳng của Mỹ và phương Tây, và có thể chiến đấu ngang bằng với loại F-86 hiện đại nhất của Mỹ khi đó (trong khi MiG-15 có giá rẻ hơn và dễ bảo trì hơn).[1] MiG-15 là điểm khởi đầu cho sự phát triển MiG-17, một phiên bản cải tiến hơn đã trở thành lực lượng đối chọi với máy bay Mỹ trong chiến tranh Việt Nam những năm 1960.
MiG-15 là một trong những loại máy bay từng được sản xuất với số lượng nhiều nhất, với khoảng 13.130 chiếc đã được sản xuất (và với việc cung cấp giấy phép cho các nước khác sản xuất thì con số MiG-15 lên tới khoảng 17.300 chiếc).[2] MiG-15 bay lần đầu tiên vào ngày 30-12-1947, được đưa vào sử dụng trong khoảng 1949-1950 và được sử dụng trên nhiều nước trên thế giới. Một biến thể khác của MiG-15 rất nổi tiếng là MiG-15UTI "Midget".
Thiết kế và phát triển
Tiêm kích phản lực đầu tiên do OKB Mikoyan–Gurevich phát triển là MiG-9, xuất hiện ngay sau Thế chiến II. Máy bay này dùng hai động cơ BMW 003 của Đức được Liên Xô đảo ngược thiết kế.[3] MiG-9 gặp nhiều vấn đề: động cơ yếu, không ổn định và lỗi điều khiển. Đây là tiêm kích phản lực thế hệ đầu, vẫn dùng cánh thẳng giống máy bay động cơ piston.[4]
Năm 1946, công nghệ động cơ phản lực của Liên Xô tụt xa phương Tây.[5] Đến lúc Đức đầu hàng tháng 5/1945, họ vẫn chưa làm được động cơ phản lực nào quá 1.130 kgf (11.100 N; 2.500 lbf) mà chạy được quá vài giờ, nên các mẫu phản lực Liên Xô sau chiến tranh đều bị giới hạn. Bộ trưởng hàng không Liên Xô Mikhail Khrunichev và nhà thiết kế A.S. Yakovlev đề nghị với Stalin mua động cơ Rolls-Royce Nene, loại đã hoàn thiện và tin cậy từ Anh (vì Anh muốn cải thiện quan hệ với Liên Xô). Stalin được cho là đã nói: "Ai lại dại gì bán bí mật cho ta?"[6]
Nhưng ông vẫn đồng ý. Mikoyan, nhà thiết kế động cơ Vladimir Klimov và một số người sang Anh xin mua. Khác với Stalin mong đợi, chính phủ Lao động Anh và Bộ trưởng Thương mại Sir Stafford Cripps sẵn sàng cung cấp cả tài liệu kỹ thuật lẫn giấy phép sản xuất Rolls-Royce Nene. Động cơ mẫu và bản vẽ được chuyển giao. Sau khi thử nghiệm và chỉnh lại cho phù hợp điều kiện Liên Xô, công nghệ "từ trên trời rơi xuống" này được sản xuất hàng loạt thành động cơ Klimov RD-45 để lắp cho MiG-15.[7]Bản mẫu:R
Để tận dụng động cơ mới, Hội đồng Bộ trưởng ra lệnh cho OKB Mikoyan–Gurevich chế tạo hai nguyên mẫu tiêm kích đánh chặn tầm cao, hoạt động ban ngày, để đối phó máy bay ném bom với yêu cầu tốc độ tối đa 1.000 km/h và tầm bay 1.200 km.[8][9]
Nhóm thiết kế ở MiG (OKB-155) bắt đầu từ khung của MiG-9. Máy bay mới dùng động cơ nguồn gốc Anh do Klimov chế tạo lại, cánh xuôi (swept wing) và ống xả kéo thẳng về đuôi chéo. Me 262 của Đức là tiêm kích đầu tiên dùng cánh quét 18,5°, nhưng chủ yếu để chỉnh lại trọng tâm vì động cơ Jumo 004 quá nặng; đến cuối chiến tranh người ta mới chứng minh cánh quét giúp máy bay phản lực bay tốt hơn ở vận tốc cận âm. Sau 1945, Liên Xô thu được nhiều tài liệu, mẫu thử và nghiên cứu khí động học của Đức, đặc biệt về cánh quét; MiG còn làm cả máy bay thử nghiệm MiG-8 "Utka" (ngỗng) năm 1945 để khảo sát bố trí này. Khi đưa vào thực chiến ở Triều Tiên, cánh quét tỏ ra vượt trội hẳn so với cánh thẳng.[10]
Bản thiết kế cuối cùng dùng cánh quét 35° gắn giữa thân, hơi cụp xuống, đuôi ngang đặt cao trên cụm đuôi quét. Các nhà phân tích phương Tây nhận xét nó rất giống Focke-Wulf Ta 183 của Kurt Tank, thiết kế muộn hơn Me 262 nhưng chưa kịp chế tạo.[11] Liên Xô thu được bản vẽ và mô hình hầm gió của Ta 183 nên ảnh hưởng là dễ hiểu, dù MiG-15 và Ta 183 khác nhau về kết cấu và tỷ lệ.[12]MiG-15 cũng giữ kiểu đặt cánh và đuôi tương tự MiG-9, trong khi F-86 của Mỹ dùng bố trí cánh thấp truyền thống; để tránh bắn nhầm nhau trên không, phía Mỹ đã sơn vạch nhận dạng rất nổi.[13]
Các nguyên mẫu được được đặt ký hiệu I-310.[14] I-310 là một tiêm kích cánh quét, cánh và đuôi đều quét 35°, mỗi cánh lắp hai tấm chắn dòng (wing fence) để cải thiện dòng khí trên cánh. Thiết kế dùng một động cơ Rolls-Royce Nene duy nhất, được cấp khí từ cửa hút gió phía trước tách đôi; ống dẫn khí vòng qua khu vực buồng lái rồi nhập lại trước động cơ.[14][15] Chuyến bay đầu tiên diễn ra ngày 30 tháng 12 năm 1947, muộn hơn F-86 Sabre của Mỹ khoảng hai tháng.[16] Máy bay cho thấy tính năng xuất sắc, đạt 1.042 km/h (647 mph) ở độ cao 3.000 m (9.800 ft).[17]
Tiêm kích phản lực cánh quét đầu tiên của Liên Xô trước đó là Lavochkin La-160, nhưng thiếu lực đẩy và về tổng thể giống MiG-9 hơn. Lavochkin La-168 (sau vào sản xuất với tên La-15) dùng cùng loại động cơ với MiG nhưng dùng cánh đặt cao (shoulder-mounted) và đuôi chữ T; đây là phương án cạnh tranh chính. Cuối cùng, phương án MiG được chọn để sản xuất hàng loạt. Được đặt tên MiG-15, chiếc sản xuất đầu tiên bay ngày 31 tháng 12 năm 1948. Máy bay vào biên chế Không quân Liên Xô năm 1949 và sau đó được NATO đặt tên báo cáo là "Fagot". Những chiếc đầu tiên có xu hướng lăn sang trái hoặc phải do sai số chế tạo, nên người ta gắn các cánh chỉnh khí động gọi là nozhi ("dao") để khắc phục; thợ mặt đất sẽ chỉnh các "dao" này cho đến khi máy bay bay thẳng.[18]
MiG-15 ban đầu được thiết kế để đánh chặn các máy bay ném bom Mỹ như B-29. Nó còn được thử nghiệm đánh không chiến giả lập với một chiếc B-29 Mỹ bị bắt giữ, cũng như với bản sao B-29 của Liên Xô là Tupolev Tu-4. Để bảo đảm diệt được những máy bay ném bom cỡ lớn như vậy, MiG-15 mang pháo tự động: hai khẩu 23 mm (0,91 in), mỗi khẩu 80 viên, và một khẩu 37 mm (1,46 in) với 40 viên.[19] Cơ số hỏa lực này rất mạnh trong vai trò đánh chặn, nhưng tốc độ bắn hạn chế và vận tốc đầu đạn tương đối thấp khiến việc bắn trúng các tiêm kích phản lực nhỏ, cơ động trong không chiến trở nên khó hơn. Hai cỡ 23 mm và 37 mm cũng có đường đạn rất khác nhau, nên một số phi công Liên Hợp Quốc ở Triều Tiên từng gặp tình huống đạn 23 mm bay vọt lên trên họ trong khi đạn 37 mm lại bay thấp hơn. Cụm pháo được lắp trên một "giá" đơn giản có thể tời hạ từ bụng mũi xuống để bảo dưỡng và nạp đạn, cho phép thay nhanh bằng cụm đã chuẩn bị sẵn.[20] Dù có những hạn chế về vũ khí, sự đơn giản, độ bền chắc và đặc biệt là không có thùng nhiên liệu trong cánh khiến MiG-15 trở thành đối thủ không chiến đáng gờm; khung thân của nó có rất ít điểm yếu, và để bắn rơi nó bằng các súng máy M2 Browning tốc độ bắn cao nhưng uy lực nhỏ hơn vốn phổ biến trên máy bay Mỹ, gần như luôn phải bắn trúng nhiều phát.[21]
Biến thể cải tiến MiG-15bis ("bis" = "thứ hai") vào biên chế đầu năm 1950, lắp động cơ Klimov VK-1 – vẫn dựa trên Nene nhưng dùng luyện kim tốt hơn so với RD-45 – cùng một số nâng cấp nhỏ. Khác biệt dễ thấy là đèn pha ở vách ngăn cửa hút gió và phanh gió trên có mép trên nằm ngang. Hai pháo 23 mm được đặt gần nhau hơn ở phần càng đáp. Một số máy bay "bis" còn gắn giá treo dưới cánh để mang ống phóng rocket không điều khiển hoặc bom 50–250 kg; các biến thể cường kích này được gọi là IB, SD-21 và SD-5; khoảng 150 chiếc được nâng lên chuẩn SD-21 trong giai đoạn 1953–1954.
MiG-15 về lý thuyết đủ lực để bổ nhào tới tốc độ siêu âm, nhưng do không có đuôi toàn chuyển động (all-flying tail) nên điều khiển rất kém khi tới gần Mach 1; phi công phải giữ dưới khoảng Mach 0,92, trên đó bề mặt điều khiển gần như mất tác dụng.[22] Bảng đồng hồ có đèn cảnh báo đỏ khi chạm ngưỡng này; thử nghiệm sau chiến tranh cho thấy máy bay rung mạnh trên Mach 0,92 và hất mũi lên ở Mach 0,95. Chuck Yeager thử bổ nhào toàn lực ở cao độ lớn chỉ đạt được Mach 0,98, máy bay không nhanh hơn được và mất điều khiển lăn cho tới khi xuống lớp không khí đặc ở khoảng 12.000 ft (3.700 m); tới 3.000 ft (910 m) mới hồi phục hẳn.[23]
MiG-15 cũng dễ rơi vào xoáy khi thất tốc và nhiều khi phi công không kéo về được; các phi công thử nghiệm Mỹ nói rằng tình trạng này nặng hơn vì máy bay hầu như không báo trước khi vào thất tốc.[24] Trong chiến tranh Triều Tiên, phi công LHQ đã ghi nhận 56 lần thấy MiG-15 xoáy trong chiến đấu, dẫn tới ít nhất 25 vụ rơi và 10 lần phóng ghế.[25]
Lịch sử chiến đấu
MiG-15 lần đầu tiên bắn hạ máy bay trên không vào ngày 13 tháng 6 năm 1952, nhưng nó còn để lại nỗi sợ hãi sau nhiều năm sau đó[cần dẫn nguồn]. Nạn nhân đầu tiên của MiG-15 là chiếc Douglas DC-3 của Không quân Thụy Điển đã bay do thám trên Biển Baltic.
Tại Triều Tiên
Mikoyan-Gurevich MiG-15 được xuất khẩu rộng rãi, phiên bản xuất khẩu cho Trung Quốc là MiG-15bis năm 1950. MiG-15 của Trung Quốc là những chiếc MiG đầu tiên trực tiếp chống lại những máy bay phản lực khác của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Triều Tiên. Loại cánh mới của MiG-15 đã chứng tỏ khả năng của mình thế hệ đầu tiên của máy bay phản lực cánh xuôi. Loại máy bay phản lực cánh thẳng của không quân Hoa Kỳ như Lockheed P-80 Shooting Star, Gloster Meteor; loại sử dụng động cơ pít tông như North American P-51 Mustang và Vought F4U Corsair (mặc dù F-80 là máy bay bắn hạ MiG-15 đầu tiên), những loại này lần lượt bị MiG-15 hạ gục một cách dễ dàng.
Khi chiếc MiG-15 được đưa vào hoạt động tại Triều Tiên vào tháng 11 năm 1950, nó vượt hơn tất cả những loại máy bay tiêm kích đang hoạt động trong các lực lượng thuộc Liên Hợp Quốc. Cuộc không chiến đầu tiên xảy ra ngày 1 tháng 11 năm 1950 khi 8 chiếc MiG-15 của Liên Xô đánh chặn 15 chiếc North American P-51 Mustang của Mỹ và trung úy phi công Liên Xô Fiodor Chizh đã bắn hạ phi công Aaron Abercrombie.[26] Vài ngày sau, trung úy phi công Semyon Jominich (hay còn được đánh vần là Khominich[27]) của Liên Xô đã trở thành phi công đầu tiên trên thế giới dùng máy bay phản lực bắn hạ máy bay phản lực khi anh tiêu diệt chiếc Lockheed P-80 Shooting Star của phi công Hoa Kỳ Frank Van Sickle trong 1 cuộc hỗn chiến giữa 10 chiếc Lockheed P-80 Shooting Star và 3 chiếc MiG-15.
Cho đến khi North American F-86 Sabre - máy bay phản lực kiểu mới nhất của Không quân Hoa Kỳ được sử dụng trong Chiến tranh Triều Tiên thì lợi thế trên không của hai bên mới cân bằng. Chiếc F-86 Sabre được Không quân Hoa Kỳ đưa vào phục vụ từ năm 1949, về bản chất nó là máy bay North American FJ Fury của hải quân được lắp đôi cánh mới vào. Tháng 12 năm 1950, Không quân Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng phi cơ North American F-86 Sabre tại Triều Tiên. Các phi cơ MiG-15 có thể bay cao hơn, 50.000 ft so với 42.000 ft (12.800 m) của F-86, cho thấy lợi thế rõ ràng lúc khởi đầu của không chiến của MiG-15. Trong lúc bay đường trường thì tốc độ tối đa của chúng bằng nhau - khoảng 660 dặm Anh/giờ (1.060 km/h). Phi cơ MiG-15 có thể leo lên cao tốt hơn; trong khi phi cơ "Sabre" có thao tác bay tốt hơn và có thể bổ nhào xuống dưới nhanh hơn. Trong trường hợp bị bám đuôi, MiG-15 có thể thoát khỏi F-86 bằng cách lao vọt lên độ cao trên 42.000 ft, khiến F-86 không thể đuổi theo. Về mặt vũ khí, phi cơ MiG mang 2 khẩu pháo 23 mm và 1 đại bác 37 mm chuyên dùng để bắn hạ máy bay cỡ lớn, so với phi cơ Sabre có 6 khẩu súng máy nòng cỡ 0,5 inch (12,7 mm) chuyên dùng để bắn hạ máy bay cỡ nhỏ. Như vậy, F-86 của Mỹ có thể bắn nhanh và mang nhiều viên đạn hơn, trong khi MiG-15 có thể bắn ra những phát đạn có sức công phá mạnh hơn. Về mặt bảo trì, đây là một yếu điểm của F-86 đối với MiG-15, phần lớn phi cơ F-86 của Mỹ đã bị giữ dưới mặt đất để sửa chữa trong suốt cuộc chiến.[1]
Về các thiết bị ngắm bắn, F-86 Sabre có lợi thế ở công cụ đo phạm vi bằng vô tuyến (một dạng radar đời đầu trang bị cho tiêm kích), cung cấp phạm vi ngắm bắn hiệu quả là 2,4 kilômét. Trong khi MiG-15 và MiG-17 của Liên Xô chỉ được lắp thiết bị ngắm bắn quang học ASP-3, phạm vi ngắn bắn hiệu quả tối đa chỉ khoảng 1 kilômét.[28]
Dẫu cho F-86 Sabre (Lưỡi kiếm) không phải là đối thủ của MiG-15 trong một số thông số hiệu năng bay, nhưng với chiến thuật tốt và phi công được huấn luyện kỹ, các phi công Sabre của Mỹ cũng đạt được tỷ lệ bắn hạ MiG được lái bởi các phi công Trung Quốc và Triều Tiên, vốn chỉ được huấn luyện chưa lâu và còn thiếu kinh nghiệm. Tuy nhiên, khi chiến đấu với các phi công Liên Xô có nhiều kinh nghiệm và biết tận dụng lợi thế của MiG-15, hiệu suất chiến đấu của F-86 bị sụt giảm đi rất nhiều.[cần dẫn nguồn]
Nhiệm vụ chính của MiG-15 không phải là chiến đấu với những chiếc tiêm kích F-86 của Mỹ, mà là chặn đánh các phi đội máy bay ném bom hạng nặng B-29 Superfortress của Không lực Hoa Kỳ. Thứ 5 ngày 12 tháng 4 năm 1951 được gọi là ngày thứ năm đen đủi của phi công Mỹ khi 3 phi đội MiG-15 (2 phi đội của Liên Xô, 1 phi đội của Trung Quốc, tổng cộng 44 chiếc) tấn công 3 phi đội ném bom Boeing B-29 Superfortress (48 chiếc) cùng với 18 máy bay F-86 Sabre, 24 chiếc Lockheed P-80 Shooting Star và 54 chiếc Republic F-84 Thunderjet bay theo bảo vệ. Tổng cộng 12 chiếc B-29, 4 chiếc tiêm kích bị bắn rơi, nhiều chiếc khác bị bắn hỏng, trong khi không có chiếc MiG nào của Liên Xô và Trung Quốc bị hạ. Các phi công Liên Xô cho rằng: Nếu máy bay Mỹ không vội quay đầu về phía bờ biển, nơi các phi cơ của Liên Xô không được phép đuổi theo thì tổn thất của không quân Mỹ sẽ còn trầm trọng hơn nữa. Sau đó phía Mỹ đã công bố con số thiệt hại là 10 máy bay ném bom B-29, gồm 3 chiếc rơi và 7 chiếc bị hư hại nặng không thể sửa chữa. Không quân Hoa Kỳ tuyên bố để tang một tuần lễ cho các phi công tử trận và ngày 12 tháng 4 trở thành "ngày thứ Năm đen tối". Các phi vụ của Mỹ bị dừng lại trong khoảng ba tháng sau đó, buộc các lực lượng Hoa Kỳ phải thay đổi chiến thuật ban đêm trong các nhóm nhỏ.[30]
Sau đó sáu tháng, không chiến tái diễn ác liệt. Cựu phi công Kramarenko cho biết: Một số phi công Liên Xô tuyên bố đã có tới 20 chiếc B-29 bị MiG-15 bắn rơi trong tuần lễ không chiến ác liệt từ 20/10/1951 tới 27/10/1951. Trong đó, ngày 23/10/1951 tiếp tục trở thành "ngày thứ ba đen tối" của Không quân Mỹ khi họ bị tiêm kích MiG-15 bắn hạ một nửa số pháo đài bay B-29 Superfortress. Để thực hiện cuộc oanh tạc vào Namsi, Mỹ đã điều động lực lượng rất lớn: khoảng 200 tiêm kích hộ tống và 21 máy bay ném bom B-29. Đã có 58 chiếc MiG-15 xuất kích chặn đánh phi đội Mỹ. Những chiếc MiG-15 chia làm nhiều biên đội nhỏ (mỗi biên đội 2 chiếc), đánh bổ nhào từ trên cao, tấn công cùng lúc từ nhiều hướng để tận dụng ưu thế cơ động. Chiến thuật cơ động nhanh đã phát huy hiệu quả, làm tan rã đội hình của Không quân Mỹ. Trong cuộc không chiến này, 10 pháo đài bay B-29 của Mỹ đã bị tiêu diệt và nhiều máy bay khác bị hư hỏng, 4 chiếc tiêm kích Mỹ cũng bị hạ, trong khi phía Liên Xô chỉ mất duy nhất một tiêm kích MiG-15.[31]
Những tổn thất nặng nề của lực lượng máy bay ném bom hạng nặng B-29 vào cuối tháng 10/1951 đã buộc Bộ Tư lệnh Không lực Viễn Đông (Hoa Kỳ) phải hủy bỏ các cuộc ném bom vào ban ngày của B-29 và chỉ thực hiện các phi vụ ném bom vào ban đêm, dù điều đó làm giảm đi nhiều độ chính xác của những trận ném bom[32]
Trong nhiều năm, các lực lượng Liên Hợp Quốc đã nghi ngờ là có sự tham dự của các phi công Liên Xô vào chiến tranh Triều Tiên, nhưng Liên Xô luôn phủ nhận. Khi cuộc Chiến tranh Lạnh chấm dứt, nhiều phi công Liên Xô mà đã tham dự vào cuộc chiến tranh, đã bắt đầu tiết lộ vai trò của họ.[33] Nhiều máy bay của Liên Xô được tô điểm bởi nhãn hiệu của Bắc Triều Tiên hay Trung Quốc, còn phi công thì mặc quân phục Bắc Triều Tiên hay dân sự để cải trang nguồn gốc của họ. Để liên lạc bằng truyền thanh, họ được đưa những thẻ cho những từ ngữ không quân khác nhau, có chữ Triều Tiên và cách đọc bằng chữ cái Kirin.[33] Những lẩn tránh này không giấu giếm được lâu dài do những khẩn trương trong khi chiến đấu trên không, các phi công Liên Xô thường phát hiệu lệnh hoặc văng tục bằng tiếng mẹ đẻ, mà phi công Mỹ có thể nghe được. Cho tới khi những cuốn sách được ấn hành gần đây bằng tiếng Trung Quốc hay tiếng Nga và các tác giả từ các nước mà trước đây thuộc Liên Xô như Zhang Xiaoming, Leonid Krylov, Yuriy Tepsurkaev và Igor Seydov, người ta biết rất ít về các phi công thực sự bay.
Mong muốn có một chiếc MiG-15 nguyên vẹn để nghiên cứu, người Mỹ đã đưa ra giá trị tiền thưởng lên tới 100.000 USD (theo thời giá năm 1950) và cấp quy chế tị nạn chính trị cho phi công nào đào thoát được với máy bay của mình. Cuối cùng, một phi công Bắc Triều Tiên, trung úy No Kum-Sok đã giành lấy giải thưởng bằng việc đào ngũ và hạ cánh chiếc MiG-15 của mình xuống căn cứ không quân Kimpo, Hàn Quốc, vào tháng 9 năm 1953, cho phép người Mỹ đánh giá bước đầu chi tiết của chiếc máy bay. Chiếc máy bay mà No Kum-Sok lái để trốn sang Hàn Quốc hiện đang được trưng bày tại bảo tàng không quân quốc gia Hoa Kỳ ở gần Dayton, Ohio.
Chiếc MiG-15 đã được nghiên cứu tỉ mỉ và được bay thử nghiệm bởi nhiều phi công, trong đó có cả phi công thử nghiệm nổi tiếng của Mỹ là Chuck Yeager. Yeager đã miêu tả trong cuốn tự truyện của mình rằng MiG-15 có khiếm khuyết nghiêm trọng trong một số thao tác điều khiển, và đã xác nhận điều đó trong chuyến viếng thăm Liên Xô. Khi các phi công Liên Xô nghe được câu chuyện này - được Yeager xác nhận - họ đã giận dữ và phản đối kịch liệt. Các phi công Liên Xô thì hoài nghi việc Yeager đã thực hiện bổ nhào MiG-15 vì họ không gặp vấn đề gì khi thực hiện động tác này. Giả thuyết máy bay MiG-15 sẽ bị mất lái khi bổ nhào ngày nay được xác nhận là không đúng. Trong thực tế, mặc dù MiG-15 bị châm chọc trong vấn đề điều khiển nhưng trên nguyên lý - nếu vượt quá giới hạn bay khi bổ nhào các phanh hãm khí động lực sẽ tự động mở ra tại vạch đỏ giới hạn, ngăn chặn máy bay bị mất điều khiển. Câu chuyện của Yeager hiện nay đã được xác nhận là sai.
Các số liệu từ các nguồn của Liên Xô thống kê rằng trong chiến tranh Triều Tiên, MiG-15 của không quân Liên Xô đã thực hiện 60.450 phi vụ ban ngày và 2.779 phi vụ ban đêm, tham gia 1.683 trận không chiến ban ngày và 107 trận không chiến ban đêm. MiG-15 được tuyên bố đã bắn rơi 1.097 máy bay đối thủ, bao gồm 647 chiếc F-86, 185 chiếc F-84, 118 chiếc F-80, 28 chiếc F-51, 11 chiếc F-94, 65 chiếc máy bay ném bom hạng nặng B-29, 26 chiếc Gloster Meteors và 17 máy bay các loại khác. Đổi lại, có 335 chiếc MiG-15 của không quân Liên Xô đã bị mất trong không chiến hoặc bị tai nạn, khiến 120 phi công tử trận[34] Một thống kê khác của Liên Xô cho rằng MiG-15 của họ đã bắn rơi 1.038 máy bay đối thủ, bao gồm 595 chiếc F-86, 178 chiếc F-84, 103 chiếc F-80, 23 chiếc F-51, 10 chiếc F-94, 66 chiếc máy bay ném bom hạng nặng B-29, 28 chiếc Gloster Meteors và hàng chục máy bay các loại khác[35]
Phía Trung Quốc bị mất 224 chiếc MiG-15, 3 chiếc La-11 và 4 chiếc Tu-2 trong toàn cuộc chiến, 116 phi công Trung Quốc đã tử trận, đổi lại các phi công Trung Quốc tuyên bố đã bắn rơi 211 chiếc F-86, 72 chiếc F-84 và F-80, và 47 máy bay các loại khác[36]
Không quân Mỹ thống kê tại Triều Tiên họ bị mất 1.466 máy bay trong chiến đấu và 516 máy bay do các nguyên nhân ngoài chiến đấu (chưa tính thiệt hại của các lực lượng không quân đồng minh của Mỹ như Anh, Úc, Nam Phi...). Trong số 1.466 máy bay bị mất trong khi bay chiến đấu, 550 chiếc bị pháo phòng không bắn rơi, 139 chiếc bị MiG bắn rơi, 305 chiếc không rõ bị MiG hay pháo phòng không bắn rơi, 472 chiếc là "rơi bởi các nguyên nhân khác". Chia theo loại máy bay thì tổn thất bao gồm 78 chiếc máy bay ném bom hạng nặng B-29 Superfortress, 228 chiếc máy bay ném bom hạng trung B-26 Invader, 332 chiếc P-51 Mustang, 368 chiếc F-80, 358 chiếc F-84, 250 chiếc F-86... cùng nhiều loại máy bay khác.[37]
Trong các cuộc không chiến ở Triều Tiên, 67 phi công Liên Xô, 7 phi công Trung Quốc và 2 phi công Triều Tiên đã được ghi nhận đạt cấp Aces (bắn hạ từ 5 máy bay địch trở lên). Đứng đầu bảng là phi công Liên Xô, thiếu tá Yevgeni G. Pepelyayev với 22 chiến công. Kế tiếp là đại tá Nikolai Sutyagin, ông đã bắn rơi 21 máy bay đối phương (bao gồm 3 chiếc F-86, 1 F-84 và 1 Gloster Meteor) trong vòng chưa đầy 7 tháng (sau đó ông được rút về làm công tác huấn luyện). Còn phi công Trung Quốc có thành tích cao nhất là Châu Bảo Tùng với 9 chiến công. Phi công Triều Tiên có thành tích cao nhất là Kam Den Dek, hạ được 8 máy bay địch.
Các phi công MiG-15 có thành tích nổi bật trong không chiến ở Triều Tiên:
- Yevgeny Pepelyaev: Hạ 22,5 máy bay địch.
- Nikolay V. Sutyagin: Hạ 22 máy bay địch.
- Alexandr P. Smortzkow: Hạ 15 máy bay địch.
- Lev K. Schukin: Hạ 15 máy bay địch.
- Dimitri P. Oskin: Hạ 14 máy bay địch.
- Mikhail S. Ponomaryev: Hạ 14 máy bay địch.
- Sergei M. Kramarenko: Hạ 13 máy bay địch.
- Ivan A. Suchkov: Hạ 12 máy bay địch.
- Konstantin N. Sheberstov: Hạ 12 máy bay địch.
- Stepan A. Bahayev: Hạ 11 máy bay địch.
- Nikolai K. Dokashenko: Hạ 11 máy bay địch.
- Grigorii U. Ohay: Hạ 11 máy bay địch.
- Dimitri A. Samoilov: Hạ 11 máy bay địch.
- Pavel S. Milaushkin: Hạ 10 máy bay địch.
- Grigorii I. Pulov: Hạ 10 máy bay địch.
- Châu Bảo Tùng: Hạ 9 máy bay địch.
... 61 phi công khác hạ được từ 5-9 máy bay địch.
Các nước khác
Sau hiệp định đình chiến Triều Tiên, một vài chiếc MiG-15 của Không quân Bắc Triều Tiên vẫn còn tiếp tục bị bắn hạ bởi những chiếc F-86 trong phi đội máy bay ném bom và chiến đấu số 67 của Không quân Hoa Kỳ do vô tình bay qua giới tuyến. Suốt thời gian còn lại của những năm 1950, những máy bay MiG-15 của Liên Xô và các nước trong khối hiệp ước Vác-xa-va đã ngăn chặn những máy bay do thám của Không quân Mỹ và đã bắn hạ vài chiếc. Còn những chiếc MiG-15 của Không quân quân giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLAAF) lại thường xuyên chạm trán với máy bay của Đài Loan và Hoa Kỳ trong các trận chiến. Vào năm 1958, một chiếc máy bay chiến đấu của Đài Loan đã dùng tên lửa AIM-9 Sidewinder để bắn hạ một chiếc MiG-15 của PLAAF trong một trận không chiến.
MiG-15 còn phục vụ trong lực lượng không quân các quốc gia Ả Rập như trong Khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956 và Chiến tranh Sáu ngày năm 1967.
Việt Nam vận hành một số MiG-15 và MiG-15UTIs, nhưng chỉ dùng để đào tạo. Không có chiếc MiG-15 nào đã tham gia không chiến chống lại máy bay Mỹ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam.
Phi hành gia nổi tiếng của Liên Xô Yuri Alekseievich Gagarin đã hy sinh trong khi đang điều khiển máy bay huấn luyện MiG-15UTI vào tháng 3 năm 1968. Có thể do tầm nhìn bị hạ chế và mất liên lạc với trung tâm điều khiển bay mặt đất, chiếc máy bay đã đâm xuống. Nhưng một số tài liệu lại cho rằng chiếc MiG-15UTI do Yuri Gagarin lái đã bị mất lái do bay quá gần một chiếc Sukhoi Su-15 cũng đang bay trong khu vực đó.
Số lượng
Liên Xô đã sản xuất khoảng 12.000 chiếc Mikoyan-Gurevich MiG-15 với mọi biến thể. MiG-15 còn được sản xuất ở Tiệp Khắc (biến thể S-102 và S-103) và Ba Lan (với tên gọi Lim-1, Lim-2 và loại 2 chỗ SB Lim-1, SB Lim-2).
Đầu những năm 1950, Liên Xô đã cung cấp hàng trăm chiếc MiG-15 cho Trung Quốc, người Trung Quốc đã gọi chúng với tên "J-2". Liên Xô đã cử 1.000 kỹ sư, chuyên gia tới Trung Quốc, họ đã giúp đỡ cho nhà máy máy bay Shenyang sản xuất máy bay huấn luyện MiG-15UTI (tiếng Trung: "JJ-2"). Trung Quốc chưa bao giờ sản xuất máy bay chiến đấu một chỗ ngồi J-2/MiG-15, mà chỉ sản xuất loại biến thể hai chỗ huấn luyện JJ-2/MiG-15UTI.
Đã có một số cuộc tranh luận về tên gọi "J-4". Một số ý kiến cho rằng sĩ quan quan sát của phương Tây sai lầm khi cho rằng MiG-15bis của Trung Quốc có tên gọi là "J-4", trong khi PLAAF chưa bao giờ sử dụng tên gọi "J-4" cho MiG-15. Một số ý kiến lại cho rằng "J-4" được dùng cho Mikoyan-Gurevich MiG-17, khi tên gọi "J-5" được dùng cho MiG-17PF. Một số khác nữa cho rằng PLAAF dùng tên gọi "J-4" cho MiG-17A của Liên Xô, và nó nhanh chóng được sản xuất ở Trung Quốc với biến thể MiG-17F / Shenyang J-5. Có thể chắc chắn rằng thời gian phục vụ của J-2 và J-4 trong PLAAF khá ngắn và nó được thay thế bởi những máy bay co năng lực hơn là Shenyang J-5 và Shenyang J-6.
Các biến thể
Định danh nguyên mẫu
- I-310
- Định danh của các nguyên mẫu S-01, S-02, và S-03.[38]
- I-312
- Định danh của nguyên mẫu Samolet ST.
Định danh quân sự
- MiG-15
- Định danh quân sự của Samolet SV, , bản sản xuất đầu tiên, lắp động cơ Klimov RD-45F.[39][40] Mã sản phẩm là Izdeliye 50.[18]
- MiG-15PB
- Podvyesnije Baki ("thùng dầu treo bụng"), bản sản xuất mang được 2 thùng dầu250 lít (66 gal Mỹ) trên giá bom. Khi cải tiến này thành tiêu chuẩn thì bỏ chữ PB, trở lại gọi MiG-15.[41]
- MiG-15S
- Soprovozdenije ("Hộ tống"), bản mang được 2 thùng dầu 300 hoặc 400 lít (79 hoặc 106 gal Mỹ), hoặc hai thùng 600 lít (160 gal Mỹ) dưới cánh. Khi thành tiêu chuẩn thì bỏ chữ S trở thành MiG-15.[42]
- MiG-15SV
- Soprovozdenije Vysoto ("Hộ tống độ cao lớn"), bản hộ tống tầm cao, có thùng dầu dưới cánh và pháo tự động NR-23.[42]
- MiG-15U
- Ustanovka ("Giá xoay vũ khí"), tên quân sự của Samolet SU. Chỉ chế tạo một chiếc.[43]
- MiG-15bis
- Samolet SD, bản tiêm kích một chỗ ngồi cải tiến, lắp động cơ Klimov VK-1, phanh gió lớn hơn; sau này đổi pháo NS-23 thành pháo NR-23, thêm hạ cánh bằng thiết bị OSP-48, chỉnh lại buồng lái nhìn rõ hơn.[44][45] Máy bay sản xuất ở nhà máy Gorky mang mã Izdeliye 53, trong khi những chiếc tại Kuybyshev mang mã Izdeliye 55 (cùng với MiG-15bisR).[46]
- MiG-15bisF
- MiG-15bis cải biên trinh sát không vũ trang, tháo bỏ vũ khí để lắp máy ảnh AFA-1M và AFP-21KT.[47]
- MiG-15bisR
- Rasvedtchik (Trinh sát), định danh quân sự của Samolet SR, MiG-15bis trinh sát có vũ trang, tháo pháo 37 mm và 1 pháo 23 mm để lắp AFA-1M và AFP-21KT.[48][47] Còn gọi là MiG-15Rbis.[49] Mã sản xuất là Izdeliye 55.[50]
- MiG-15bisS
- Soprovozdenije (Hộ tống), tiêm kích hộ tống tầm xa, dựa trên Samolet SD-UPB. Còn được gọi là MiG-15Sbis. Khi các sửa đổi này thành chuẩn, bỏ chữ "S", trở lại MiG-15bis.[51][52]
- MiG-15bisP
- Samolet SP-5, nguyên mẫu tiêm kích đánh chặn mọi thời tiết một chỗ ngồi, lắp radar RP-1 Izumrud; còn gọi là MiG-15P.[53][54]
- Burlaki
- đề án tiêm kích ký sinh dựa trên MiG-15bis, kéo sau Tupolev Tu-4 bằng tời; bị hủy khi Tu-4 bị thay bằng Tupolev Tu-16.[55][56]
- MiG-15LL
- Samolet SYe, bản thử nghiệm, tăng diện tích đuôi đứng và gia cứng cánh, cánh lái aileron đầu vuông để cải thiện điều khiển tốc độ cao.[57]
- MiG-15ISh
- Istrebitel Shturmovik (tiêm kích/cường kích bọc giáp), biến thể tấn công thử nghiệm, gắn 2 giá dầm dưới cánh, mỗi bên mang được 2 bom nối tiếp hoặc ống phóng rocket.[58] Số lượng chế tạo không thống nhất: có nguồn nói 1 chiếc, nguồn khác nói 12 chiếc.[55]
- MiG-15M
- Mishen (Mục tiêu), máy bay mục tiêu không người lái (UAV) chuyển đổi từ MiG-15 một chỗ; còn gọi là M-15.[59][60][61]
- UTI MiG-15
- Samolet ST-2,máy bay huấn luyện 2 chỗ ngồi, vẫn trang bị 1 súng máy 12,7 mm A-12.7; tên thông dụng MiG-15UTI.[62][63]
- UTI MiG-15P
- Samolet ST-7, UTI MiG-15 lắp radar RP-1 Izumrud, vũ khí 1 súng máy 12,7 mm UBK-E. 1 chiếc chuyển đổi từ MiG-15UTI làm mẫu ST-7, sau đó một số ít giao đơn vị.[64][65]
- UTI MiG-15LL
- Samolet ST-10, máy bay thử nghiệm ghế phóng, ít nhất 5 chiếc cải hoán từ MiG-15UTI; còn gọi MiG-15UTI-LL.[64][66][67]
- UTI MiG-15stk
- Tên không chính thức cho bản huấn luyện ghế phóng buồng sau mở; ít nhất 2 chiếc UTI MiG-15 được sửa đổi.[68]
Các nước từng sử dụng
- Bản mẫu:Country data Afghanistan Afghanistan: 42 chiếc bao gồm cả 38 chiếc MiG-15UTI, được cung cấp cho Không quân Hoàng gia Afghanistan năm 1951, ngừng phục vụ năm 1979.
- Bản mẫu:Country data Albania Albania: 80 chiếc hoặc hơn, phục vụ trong Không quân Albanian từ 1955. Ngừng phục vụ năm 1990.
- Bản mẫu:Country data Algérie Algérie
- Bản mẫu:Country data Angola Angola
- Bulgaria Bulgaria
- Bản mẫu:Country data Burkina Faso Burkina Faso
- Campuchia Campuchia
- Trung Quốc Trung Quốc: Tự sản xuất một số chiếc để làm mẫu và huấn luyện cho Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
- Bản mẫu:Country data Cộng hoà Congo Cộng hoà Congo
- Bản mẫu:Country data Cuba Cuba
- Bản mẫu:Country data Tiệp Khắc Tiệp Khắc
- Bản mẫu:Country data Đông Đức Cộng hòa Dân chủ Đức
- Bản mẫu:Country data Ai Cập Ai Cập
- Phần Lan Phần Lan
- Bản mẫu:Country data Guinée Guinée
- Bản mẫu:Country data Guiné-Bissau Guiné-Bissau
- Hungary Hungary
- Indonesia Indonesia
- Bản mẫu:Country data Iraq Iraq
- Bản mẫu:Country data Libya Libya
- Bản mẫu:Country data Madagascar Madagascar
- Bản mẫu:Country data Mali Mali
- Mông Cổ Mông Cổ
- Bản mẫu:Country data Maroc Maroc
- Bản mẫu:Country data Mozambique Mozambique
- Bản mẫu:Country data Nigeria Nigeria
- Bản mẫu:Country data Bắc Triều Tiên Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên được hỗ trợ hàng trăm chiếc MiG-15 để tham chiến trong Chiến tranh Triều Tiên
- Việt Nam Việt Nam
- Pakistan Pakistan
- Ba Lan Ba Lan
- Bản mẫu:Country data Romania România
- Bản mẫu:Country data Somalia Somalia
- Bản mẫu:Country data Liên Xô Liên Xô
- Bản mẫu:Country data Sri Lanka Sri Lanka
- Bản mẫu:Country data Sudan Sudan
- Bản mẫu:Country data Syria Syria
- Bản mẫu:Country data Tanzania Tanzania
- Bản mẫu:Country data Uganda Uganda
- Bản mẫu:Country data Mỹ Hoa Kỳ
- Bản mẫu:Country data Yemen Yemen
Thông số (MiG-15bis)
Tham khảo
Ghi chú
- ^ a ă Thompson, Warren (tháng 12 năm 2002). "Sabre: The F-86 in Korea". Flight Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2011.
- ^ "Mikoyan-Gurevich MiG-15 (Ji-2) Fagot B". Smithsonian National Air and Space Museum. Smithsonian Institution. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026.
- ^ Belyakov & Marmain 1994, tr. 81, 88.
- ^ Park, Michael Y. (ngày 12 tháng 9 năm 2022). "History of MiGs: The Fighter Planes That Protected—and Survived—the USSR". HistoryNet (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
- ^ Taylor, Steven (ngày 22 tháng 7 năm 2023). "Why Attlee's decision to send Rolls Royce jet engines to Stalin caused outrage in Washington". The Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2023.
- ^ Gordon 2001, tr. 3.
- ^ Gordon 2001, tr. 4.
- ^ "Mikoyan-Gurevich MiG-15 UTI" (PDF). mapsairmuseum.org. Maps Air Museum. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- ^ "ODIN - OE Data Integration Network". odin.tradoc.army.mil. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- ^ "MiG-9 - War History". warhistory.org (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
- ^ "Focke-Wulf Ta 183". tiempososcuros.com. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026.
- ^ "The Mikoyan-Gurevich MiG-15". Plane-crazy. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026.
- ^ Fitzsimons 1985, tr. 11.
- ^ a ă Belyakov & Marmain 1994, tr. 112, 114.
- ^ Gunston 1995, tr. 188.
- ^ Gunston 1995, tr. 189.
- ^ Belyakov & Marmain 1994, tr. 120.
- ^ a ă Gordon 2001, tr. 12.
- ^ "Mikoyan-Gurevich MiG-15bis". National Museum of the United States Air Force™ (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2026.
- ^ Gordon 2001, tr. 8.
- ^ Werrell 2005, tr. 20.
- ^ Bản mẫu:Cite magazine
- ^ Werrell 2005, tr. 99.
- ^ Werrell 2005, tr. 98.
- ^ Werrell 2005, tr. 140.
- ^ http://www.docstoc.com/docs/6488080/MiG-15
- ^ "Honchos". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2015.
- ^ "Chuyên gia Mỹ phải ngậm ngùi thừa nhận tác chiến điện tử Nga là số 1".
- ^ "William F. (Bill) Welch — 31st and 91st SRS Recollections". rb-29.net. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2015.
- ^ https://vn.sputniknews.com/usa/20150416195091/
- ^ http://vietnamnet.vn/vn/the-gioi/cuoc-khong-chien-dam-mau-tren-bau-troi-trieu-tien-ky-cuoi-368163.html
- ^ Davis 2001, tr. 91
- ^ a ă Zaloga 1991
- ^ Krylov and Tepsurkaev 2008, Chapter 6.
- ^ "Russian Claims from the Korean War 1950-53". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2020.
- ^ Zhang 2002, Chapter 9.
- ^ "USAF losses during the Korean War. USAF Statistical Digest FY1953". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2020.
- ^ Gunston & Gordon 1998, tr. 55–61.
- ^ Gunston & Gordon 1998, tr. 61.
- ^ Gordon & Rigmant 1993, tr. 31–32, 34.
- ^ Stapfer 1991, tr. 9.
- ^ a ă Stapfer 1991, tr. 10.
- ^ Stapfer 1991, tr. 13.
- ^ Gunston & Gordon 1998, tr. 68–70.
- ^ Gordon & Rigmant 1993, tr. 38–42.
- ^ Gordon 2001, tr. 21, 26.
- ^ a ă Stapfer 1991, tr. 18.
- ^ Gordon & Rigmant 1993, tr. 51.
- ^ Gunston & Gordon 1998, tr. 71.
- ^ Gordon 2001, tr. 26.
- ^ Gunston & Gordon 1998, tr. 70–71.
- ^ Gordon & Rigmant 1993, tr. 50–51.
- ^ Gunston & Gordon 1998, tr. 72.
- ^ Stapfer 1991, tr. 15.
- ^ a ă Gunston & Gordon 1998, tr. 74.
- ^ Gordon & Rigmant 1993, tr. 62, 64.
- ^ Gunston & Gordon 1998, tr. 71–72.
- ^ Gordon & Rigmant 1993, tr. 62.
- ^ Gordon 2001, tr. 31.
- ^ "USSR aviation. UAV-target MiG-15M". Авиару.рф. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2023.
- ^ "MiG-15M". Avia.pro. ngày 14 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2023.
- ^ Gunston & Gordon 1998, tr. 65–67.
- ^ Gordon 2001, tr. 41.
- ^ a ă Gunston & Gordon 1998, tr. 68.
- ^ Gordon & Rigmant 1993, tr. 73–74.
- ^ Gordon & Rigmant 1993, tr. 74, 76.
- ^ Stapfer 1991, tr. 42.
- ^ Gordon 2001, tr. 45.
Tài liệu
- Belyakov, R. A.; Marmain, J. (1994). MiG: Fifty Years of Secret Aircraft Design. Shrewsbury, UK: Airlife Publishing. ISBN 1-85310-488-4.
- Butowski, Piotr; Jay Miller (1991). OKB MiG: A History of the Design Bureau and its Aircraft. Earl Shilton, Leicester, UK: Midland Counties Publications. ISBN 0-904597-80-6.
- Bản mẫu:Cite magazine
- Cooper, Tom (2017). Hot Skies Over Yemen, Volume 1: Aerial Warfare Over the South Arabian Peninsula, 1962–1994. Solihull, UK: Helion & Company Publishing. ISBN 978-1-912174-23-2.
- Cooper, Tom; Grandolini, Albert (2018). Showdown in Western Sahara, Volume 1: Air Warfare over the Last African Colony, 1945–1975. Warwick, UK: Helion & Company Publishing. ISBN 978-1-912390-35-9.
- Cooper, Tom; Weinert, Peter; Hinz, Fabian; Lepko, Mark (2011). African MiGs, Volume 2: Madagascar to Zimbabwe. Houston: Harpia Publishing. ISBN 978-0-9825539-8-5.
- Davis, Larry (2001). 4th Fighter Wing in the Korean War. Atglen, Pennsylvania: Schiffer Publishing. ISBN 978-0-7643-1315-8.
- Davis, Larry (1978). MiG Alley Air to Air Combat over Korea. Warren, Michigan: Squadron/Signal Publications Inc. ISBN 0-89747-081-8.
- Doran, Jamie; Bizony, Piers (1998). Starman: The Truth Behind the Legend of Yuri Gagarin. London: Bloomsbury Publishing. ISBN 0-7475-3688-0.
- Dorr, Robert F.; Lake, Jon; Thompson, Warren (1995). Korean War Aces. Aircraft of the Aces. London: Osprey Publishing. ISBN 978-1-85532-501-2.
- Fitzsimons, Bernard, biên tập (1985). MiGs. Modern Fighting Aircraft. Fallbrook, California: Arco Publishing. ISBN 0-668-06070-0.
- Gordon, Yefim (2001). Mikoyan-Gurevich MiG-15: The Soviet Union's Long-Lived Korean War Fighter. Hinkley, UK: Midland Publishing. ISBN 1-85780-105-9.
- Gordon, Yefim; Davison, Peter (2005). Mikoyan Gurevich MiG-15 Fagot. WarbirdTech. Quyển 40. North Branch, Minnesota: Speciality Press. ISBN 1-58007-081-7.
- Gordon, Yefim; Rigmant, Vladimir (1993). MiG-15 – Design, Development, and Korean War Combat History. Warbird History. Osceola, Wisconsin, US: Motorbooks International. ISBN 0-87938-793-9.
- Gordon, Yefim (1997). MiG-15 Fagot, all variants (bằng tiếng Anh). et al. Prague 10-Strašnice: MARK I Ltd. ISBN 80-900708-6-8.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm (liên kết) - Gordon, Yefim; Komissarov, Dmitry (2008). Chinese Aircraft: China's Aviation Industry since 1951. Manchester, UK: Hikoki Publications. ISBN 9-781902-109046.
- Gunston, Bill (1996). The Osprey Encyclopedia of Russian Aircraft: 1875–1995. London: Osprey Aerospace. ISBN 1-85532-405-9.
- Gunston, Bill; Gordon, Yefim (1998). MiG Aircraft since 1937. London: Putnam Aeronautical Books. ISBN 0-85177-884-4.
- Higham, Robin; Greenwood, John T.; Hardesty, Von (1998). Russian Aviation and Air Power in the Twentieth Century. London: Frank Cass. ISBN 978-0-7146-4380-9.
- Karnas, Dariusz (2004). Mikojan Gurievitch MiG-15. Sandomierz, Poland / Redbourn, UK: Mushroom Model Publications. ISBN 978-83-89450-05-0.
- Krylov, Leonid; Tepsurkaev, Yuriy (1990s). "Combat Episodes of the Korean War". Mir Aviatsiya (Engl. trans. by Stephen L. Sewell). tr. 38–44. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2009.
- Krylov, Leonid; Tepsurkaev, Yuriy (2008). Soviet MiG-15 Aces of the Korean War. Botley, Oxford, UK: Osprey Publications. ISBN 1-84603-299-7.
- Kum-Suk, No; Osterholm, Roger J. (1996). A MiG-15 to Freedom. Jefferson, North Carolina: McFarland & Co. ISBN 0-7864-0210-5.
- Mesko, Jim (2000). Air War over Korea. Carrollton, Texas: Squadron/Signal Publications Inc. ISBN 0-89747-415-5.
- Nicolle, David (1996). Phoenix over the Nile: A History of Egyptian Air Power 1932–1994. Smithsonian History of Aviation & Spaceflight. Washington, D.C.: Smithsonian. ISBN 1-56098-626-3.
- Bản mẫu:Cite magazine
- "Pentagon Over the Islands: The Thirty-Year History of Indonesian Military Aviation". Air Enthusiast Quarterly (2): 154–162.
- Seydov, Igor; German, Askold (1998). Krasnye Dyaboly na 38-oy Parallel (bằng tiếng Nga). Russia: EKSMO.
- Stapfer, Hans-Heiri (2006). MiG-15 Fagot Walk Around. Walk Around. Quyển 40. Carrollton, Texas: Squadron/Signal Publications Inc. ISBN 0-89747-495-3.
- Stapfer, Hans-Heiri (1991). MiG-15 in action. Aircraft. Carrollton, Texas, US: Squadron/Signal. ISBN 0-89747-264-0.
- Sweetman, Bill; Gunston, Bill (1978). Soviet Air Power: An Illustrated Encyclopedia of the Warsaw Pact Air Forces Today. London: Salamander Books. ISBN 0-517-24948-0.
- Thompson, Warren E.; McLaren, David R. (2002). MiG Alley: Sabres vs. MiGs over Korea. North Branch, Minnesota: Specialty Press. ISBN 978-1-58007-058-4.
- United States Air Force Museum Guidebook. Wright-Patterson AFB, Ohio: Air Force Museum Foundation. 1975.
- Werrell, Kenneth (2005). Sabres Over MiG Alley: The F-86 and the Battle for Air Superiority in Korea. Annapolis, Maryland: U.S. Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-933-0.
- Wilson, Stewart (2003). Legends of the Air 1: F-86 Sabre, MiG-15 and Hawker Hunter. London: Aerospace Publications Pty Ltd. ISBN 1-875671-12-9.
- Yeager, Chuck; Leo Janos (1986). Yeager: An Autobiography. New York: Bantam Books. ISBN 0-553-25674-2.
- Bản mẫu:Cite magazine
- Zhang, Xiaoming (2002). Red Wings over the Yalu: China, the Soviet Union, and the Air War in Korea. Texas A&M University Military History Series. College Station, Texas: Texas A&M University. ISBN 978-1-58544-201-0.
Liên kết ngoài
- by David Noland Fighter Planes: MiG-15. The air power of the Evil Empire
- THE MIKOYAN MIG-15 at Greg Goebel's AIR VECTORS Lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2012 tại Wayback Machine
- MiG-15.com
- Warbird Alley: MiG-15 page - Information about privately owned MiG-15s
- MiG-15 in Korea
- MiG-15 FAGOT at Global Security.org
- MiG-15 Fagot at Global Aircraft
- MiG-15 Fagot at FAS Lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2006 tại Wayback Machine
- Cuban MiG-15
- Giới thiệu sơ MiG-15
Nội dung liên quan
Máy bay có cùng sự phát triển
Máy bay có tính năng tương đương
- Focke-Wulf Ta 183
- FMA IAe 33 Pulqui II
- F-84 Thunderjet
- F-86 Sabre
- Lavochkin La-15
- Dassault Ouragan
- Saab 29 Tunnan
Trình tự thiết kế
MiG-8 - MiG-9 (I-210)/MiG-9 (I-301) - MiG-13 (I-250) - MiG-15 - MiG-17 - MiG-19 - MiG-21
Phiên bản Trung Quốc
J-4 - J-5 - J-6 - J-7 - J-8 - J-9 - J-10 - J-11 - J-12 - J-XX - J-13
Xem thêm
- CS1: URL không phù hợp
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Lỗi không có mục tiêu Harv và Sfn
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Bài viết có trích dẫn không khớp
- Quản lý CS1: địa điểm
- Nguồn CS1 tiếng Nga (ru)
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Máy bay Mikoyan
- Máy bay tiêm kích Liên Xô thập niên 1940
- Máy bay trong Chiến tranh Triều Tiên
- Máy bay trong chiến tranh Việt Nam
- Máy bay cường kích
- Máy bay huấn luyện
- Máy bay trinh sát
- Máy bay một động cơ
- Máy bay phản lực
- Máy bay cánh giữa
- Máy bay phản lực một động cơ