Bước tới nội dung

Mikoyan-Gurevich MiG-17

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ MiG 17)

Bản mẫu:Infobox aircraft

Mikoyan-Gurevich MiG-17 (tiếng Nga: Микоян и Гуревич МиГ-17; Tên ký hiệu của NATO: Fresco)[1] là một máy bay tiêm kích phản lực cận âm sản xuất bởi Liên Xô, được đưa vào sử dụng từ năm 1952. MiG-17 được sản xuất theo giấy phép tại Trung Quốc với tên Shenyang J-5 và tại Ba Lan với tên PZL-Mielec Lim-6. Đến nay, Không quân Triều Tiên vẫn còn sử dụng MiG-17, và loại máy bay này từng tham chiến ở Trung Đông và châu Á.

MiG-17 là phiên bản cải tiến nâng cao từ MiG-15 mà Liên Xô sản xuất trong Chiến tranh Triều Tiên. Tuy nhiên, MiG-17 ra đời quá muộn nên không kịp tham chiến ở đó và lần đầu được sử dụng trong Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai năm 1958. Dù được thiết kế chủ yếu để bắn hạ các máy bay ném bom Mỹ bay chậm, MiG-17 lại tỏ ra rất hiệu quả trong Kháng chiến chống Mĩ khi được bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam sử dụng để đối đầu với các tiêm kích và cường kích đế quốc Mỹ. Lý do là MiG-17 cơ động và linh hoạt hơn F-4 PhantomF-105 Thunderchief của Mỹ (vốn thiên về tốc độ và tác chiến tầm xa), và MiG-17 vẫn dùng pháo, trong khi các phiên bản F-4 đầu tiên lại không có pháo.

Thiết kế và phát triển

Mặc dù MiG-15bis đã đưa thiết kế cánh cụp vào không chiến trên bầu trời Triều Tiên, nhưng ngay từ năm 1949, Cục thiết kế Mikoyan–Gurevich đã bắt đầu làm việc trên mẫu thay thế nó (ban đầu là MiG-15bis45) nhằm khắc phục những vấn đề phát sinh với MiG-15 trong chiến đấu.[2] Kết quả là một trong những tiêm kích cận siêu âm thành công nhất được giới thiệu trước khi các máy bay siêu âm thực sự như Mikoyan–Gurevich MiG-19North American F-100 Super Sabre ra đời. Thiết kế này rốt cuộc vẫn tỏ ra hiệu quả sang tận thập niên 1960, khi nó được đưa vào các trận không chiến cận âm trên bầu trời Việt Nam để đối đầu với những máy bay nhanh hơn nhiều nhưng không được tối ưu cho việc cơ động ở tốc độ thấp như vậy, trong các pha quần vòng cự ly ngắn.

Trong khi MiG-15 dùng cảm biến Mach để tự động mở phanh hãm vì nó không thể bay an toàn vượt quá Mach 0,92, thì MiG-17 được thiết kế để vẫn điều khiển được ở các số Mach cao hơn.[3] Những phiên bản đầu vẫn dùng bản sao động cơ Rolls-Royce Nene do Liên Xô chế tạo, Klimov VK-1, nên nặng hơn mà lực đẩy lại tương đương. Các biến thể MiG-17 về sau là những máy bay tiêm kích Liên Xô đầu tiên áp dụng buồng đốt phụ, đốt thêm nhiên liệu trong luồng khí xả của động cơ chính để tạo lực đẩy tăng cường, đổi lại là hiệu suất giảm mạnh.

Tuy MiG-17 trông rất giống MiG-15, nó lại có cánh và thăng bằng ngang (đuôi ngang) mới, mỏng hơn và quét nhiều hơn, để phù hợp với tốc độ tiệm cận Mach 1. Trong khi F-86 đưa vào sử dụng đuôi toàn chuyển động ("all-flying tailplane"), giúp máy bay điều khiển tốt hơn gần vận tốc âm, thì đặc điểm này không được áp dụng trên các máy bay MiG cho đến mẫu siêu âm hoàn toàn là MiG-19.[4] Góc quét cánh là 45° (giống F-100 Super Sabre của Mỹ) ở phần sát thân và 42° ở phần cánh ngoài.[5] Cánh cứng hơn này chống lại được xu hướng đầu cánh bị uốn và làm mất đối xứng khí động một cách đột ngột khi bay ở tốc độ cao và tải trọng cánh lớn.[2]

Tập tin:MiG-17 Keski-Suomen ilmailumuseo 1.JPG
MiG-17 tại Bảo tàng Hàng không Trung Phần Lan ở Jyväskylä. Kiểu sơn này thực hiện năm 2006 và dựa trên ý tưởng của học sinh tiểu học Luonetjärvi, Anni Lundahl.
Tập tin:MiG 17A Mighty 8th.JPG
Một chiếc MiG-17 của Không quân nhân dân Việt Nam được trưng bày tại Bảo tàng Không quân Không lực số Tám (Mighty Eighth Air Force Museum).
Tập tin:MiG 17 tail Vietnam.JPG
Phần đuôi cho thấy phù hiệu; các máy bay MiG-17 sơn ngụy trang thường được bộ đội Không quân Nhân dân Việt Nam gọi là "rắn".[6]

Những điểm khác dễ nhận thấy so với mẫu tiền nhiệm: bổ sung tấm chắn dòng thứ ba trên mỗi cánh, thêm vây bụng, và phần thân sau dài hơn, thuôn ít hơn, làm tổng chiều dài tăng thêm khoảng một mét. MiG-17 vẫn dùng cùng động cơ Klimov VK-1, và phần lớn kết cấu còn lại như thân trước, bộ càng đáp và hệ thống lắp đặt pháo đều được giữ lại từ mẫu trước đó.[5] Nguyên mẫu đầu tiên, được cục thiết kế ký hiệu là I-330 "SI", đã bay thử lần đầu vào ngày 14 tháng 1 năm 1950, do phi công Ivan Ivashchenko điều khiển.[7]

Trong quá trình thử nghiệm, phi công Ivan Ivashchenko đã thiệt mạng khi máy bay của ông xuất hiện hiện tượng rung, làm bật đuôi ngang, khiến máy bay rơi vào trạng thái xoáy và đâm xuống vào ngày 17 tháng 3 năm 1950. Việc cánh không đủ độ cứng cũng dẫn đến hiện tượng đảo chiều aileron, nhưng đã được phát hiện và khắc phục. Việc chế tạo và thử nghiệm các nguyên mẫu bổ sung "SI-2" và các máy bay loạt thử nghiệm "SI-02" và "SI-01" trong năm 1951 nhìn chung đã thành công. Ngày 1 tháng 9 năm 1951, máy bay được chấp nhận đưa vào sản xuất và chính thức được đặt định danh riêng là MiG-17, sau quá nhiều thay đổi từ MiG-15 ban đầu. Người ta ước tính rằng với cùng loại động cơ như của MiG-15, tốc độ tối đa của MiG-17 vẫn cao hơn 40–50 km/h, và chiếc tiêm kích này có khả năng cơ động tốt hơn ở độ cao lớn.[7]

Sản xuất loạt bắt đầu vào tháng 8 năm 1951, nhưng việc sản xuất với số lượng lớn bị hoãn để ưu tiên làm thêm MiG-15, nên nó không bao giờ được đưa vào Chiến tranh Triều Tiên. Máy bay chỉ chính thức vào biên chế từ tháng 10 năm 1952, khi MiG-19 gần như đã sẵn sàng bay thử. Trong quá trình sản xuất, máy bay được cải tiến và sửa đổi nhiều lần. MiG-17 bản cơ bản là tiêm kích ban ngày đa dụng, trang bị ba pháo: một pháo Nudelman N-37 cỡ 37 mm và hai pháo 23 mm, mỗi khẩu 80 viên, tổng 160 viên. Nó cũng có thể làm nhiệm vụ tiêm kích–ném bom, nhưng tải bom bị xem là nhẹ so với các máy bay cùng thời, và nó thường mang thêm thùng dầu phụ thay vì bom.

Mặc dù đã thiết kế một kiểu buồng lái cho phép nhìn rõ về phía sau, điều cần thiết cho không chiến, giống như F-86 nhưng các máy bay MiG-17F sản xuất thực tế lại được lắp loại tiềm vọng kính nhìn sau rẻ hơn; loại này còn xuất hiện trên tiêm kích Liên Xô muộn tới tận MiG-23. Đến năm 1953, phi công được trang bị ghế phóng an toàn hơn với màn che bảo vệ mặt và dây cố định chân giống ghế Martin–Baker của phương Tây. MiG-15 từng chịu thiệt vì không có kính ngắm radar, nhưng năm 1951, kỹ sư Liên Xô thu được một chiếc F-86 Sabre bị bắt ở Triều Tiên và sao chép kính ngắm quang học cùng radar đo xa súng SRD-3 để tạo ra kính ngắm ASP-4N và radar SRC-3. Bộ đôi này tỏ ra cực kỳ nguy hiểm trên bầu trời Việt Nam trước các máy bay như F-4 Phantom, mà phi công của chúng than phiền rằng pháo và kính ngắm radar đã bị bỏ đi vì cho là lỗi thời..[2]

Nguyên mẫu thứ hai, "SP-2" (NATO gọi là "Fresco A"), là một máy bay đánh chặn được trang bị radar. Ngay sau đó, một số chiếc tiêm kích mọi thời tiết MiG-17P ("Fresco B") được sản xuất, lắp radar RP-1 Izumrud và sửa đổi cửa hút gió phía trước.

Đầu năm 1953, tiêm kích ban ngày MiG-17F bắt đầu được sản xuất. Chữ "F" chỉ việc nó được lắp động cơ VK-1F có buồng đốt phụ (afterburner) bằng cách cải tiến phần thân sau với ống phun hội tụ–khuếch tán mới và hệ thống nhiên liệu mới. Các động cơ VK-1F đầu tiên được chỉnh riêng cho MiG-17F gặp vấn đề khi sử dụng buồng đốt phụ bình thường trong thời gian dài, do hợp kim dùng cho vỏ ngoài ống phun và các cánh tĩnh không chịu được nhiệt đủ tốt. Vì vậy các máy bay sản xuất giai đoạn 1953–1955 có một cụm buồng đốt phụ đặc biệt dùng thùng riêng chứa 90% ethanol để đốt trong buồng đốt phụ vì nhiệt cháy thấp hơn. Biến thể động cơ này được ký hiệu VK-1F(A). Các máy bay sản xuất về sau dùng hệ thống bình thường với nhiên liệu trên máy bay. Buồng đốt phụ giúp tốc độ lên cao (tốc độ leo) tăng gấp đôi và cải thiện rất nhiều khả năng cơ động theo trục thẳng đứng. Tuy máy bay không được thiết kế để bay siêu âm, phi công giỏi vẫn có thể "lao" qua tốc độ âm trong một góc bổ nhào thoải, dù máy bay thường sẽ ngóc mũi lên ngay trước khi chạm Mach 1. Đây trở thành biến thể phổ biến nhất của MiG-17.

Biến thể sản xuất hàng loạt tiếp theo, MiG-17PF ("Fresco D"), tích hợp radar Izumrud RP-2 mạnh hơn, nhưng chúng vẫn phải dựa vào dẫn đường đánh chặn từ mặt đất (GCI) để phát hiện và được dẫn tới mục tiêu. Năm 1956, một lô nhỏ (47 chiếc) được cải tạo lên chuẩn MiG-17PM (còn gọi là PFU) với bốn tên lửa không đối không Kaliningrad K-5 thế hệ đầu (NATO gọi là AA-1 "Alkali"). Một lô nhỏ MiG-17R trinh sát cũng được chế tạo với động cơ VK-1F (sau khi trước đó thử với động cơ VK-5F).

Chế tạo theo giấy phép

Năm 1955 Ba Lan nhận được giấy phép chế tạo MiG-17. Việc sản xuất MiG-17F diễn ra tại WSK-Mielec với tên hiệu là Lim-5. Chiếc Lim-5 hoàn thành ngày 28 tháng 11, 1956 và cho đến năm 1960 tổng cộng 477 chiếc đã được chế tạo. Một số chiếc được chế tạo ở kiểu biến thể trinh sát Lim-5R, với máy ảnh AFA-39. Từ 1959-1960, 129 chiếc MiG-17PF đánh chặn đã được sản xuất với tên hiệu Lim-5P. Sau đó, Ba Lan đã phát triển những chiếc máy bay tấn công dựa trên MiG-17: Lim-5M sản xuất từ 1960, Lim-6bis sản xuất từ 1963Lim-6M (đã được chuyển đổi trong thập kỷ 1970) và các biến thể trinh sát: Lim-6R (Lim-6bisR) và MR.

Tại Trung Quốc, chiếc MiG-17F đầu tiên được lắp ráp từ các bộ phận năm 1956, sau đó từ năm 1957 bắt đầu sản xuất theo giấy phép tại Shenyang. Phiên bản chế tạo của Trung Quốc được gọi là Shenyang J-5 (dùng trong nước) hay F-5 (cho xuất khẩu - không nên nhầm với loại F-5 Freedom Fighter). Theo một số nguồn tin, những chiếc MiG-17 ban đầu, do Liên Xô chuyển giao, được gọi là J-4. Từ năm 1964, các biến thể do Trung Quốc sản xuất với một radar, tương tự như MiG-17PF, được gọi là J-5A (F-5A). Người Trung Quốc cũng phát triển một phiên bản huấn luyện hai ghế ngồi JJ-5 (FT-5 cho xuất khẩu), cabin J-5 theo kiểu JJ-2 (sản xuất theo giấy phép MiG-15UTI). Nó đã được sản xuất trong giai đoạn 1966-1986, là biến thể cuối cùng và duy nhất có hai ghế ngồi của MiG-17 được sản xuất. Người Xô viết không sản xuất MiG-17 hai chỗ ngồi vì họ cho rằng biến thể huấn luyện của loại MiG-15 vẫn đáp ứng tốt yêu cầu.

Lịch sử hoạt động

Mục đích thiết kế của MiG-17 cũng giống như những máy bay tiêm kích khác của Liên Xô thời đó, là bắn hạ những máy bay ném bom của Mỹ, tránh giao chiến dogfight (hỗn chiến). Máy bay tiêm kích dưới tốc độ âm thanh này (vận tốc tối đa là 0.93 Mach) được sử dụng có hiệu quả nhất trong đối đầu với các máy bay cường kích-ném bom nặng nề, bay chậm (0.6-0.8 Mach) của Mỹ, như những máy bay ném bom chiến lược trụ cột của Mỹ (như B-50 hay B-36 (cả hai loại máy bay này đều trang bị động cơ piston). Thậm chí khi mục tiêu đã có đủ thời gian cảnh báo trước và thả bớt trọng lượng nhằm tăng tốc độ để tẩu thoát, thì việc đó cũng là đủ để chúng phải từ bỏ nhiệm vụ ném bom của mình.

Theo thời gian, Không quân Hoa Kỳ đã đưa vào hoạt động những máy bay ném bom có tốc độ bay đạt mức siêu âm như B-58 HustlerF-111 Aardvark. Đến cuối thập niên 1950, MiG-17 đã trở thành kiểu máy bay lỗi thời trong biên chế của Lực lượng phòng không Xô viết và được thay thế bởi những máy bay tiêm kích đánh chặn siêu âm như Sukhoi Su-7, MiG-21MiG-23.

Tập tin:VPAF pilots with MiG-17s.jpg
Phi công MiG-17 thuộc Trung đoàn tiêm kích 923 của Việt Nam: Lưu Huy Chao (hạ 6 máy bay Mỹ), Lê Hải (hạ 6 máy bay Mỹ), Mai Đức Tài (hạ 2 máy bay Mỹ) và Hoàng Văn Kỳ (hạ 4 máy bay Mỹ, hy sinh ngày 5/6/1967). Phi đội 4 người này đã hạ 1 chiếc F-4 Phantom vào 25/4/1967 và 1 chiếc F-105 vào ngày kế tiếp.
Tập tin:Luu Huy Chao & Le Hai.JPG
Lưu Huy ChaoLê Hải, 2 phi công MiG-17 của Việt Nam, mỗi người đã bắn rơi 6 máy bay Mỹ.

Dù vậy, đã có hơn 20 quốc gia tiếp tục sử dụng MiG-17. MiG-17 đã trở thành một máy bay tiêm kích tiêu chuẩn trong không quân các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. MiG-17 cũng được nhiều nước khác mua, chủ yếu tại châu Phichâu Á, bao gồm những nước trung lập hay đồng minh với Liên Xô.

MiG-17 không được sử dụng trong Chiến tranh Triều Tiên, nhưng nó đã tham gia chiến đấu trong các cuộc chiến tại Eo biển Đài Loan giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan), khi những chiếc MiG-17 của Trung Quốc chạm trán với F-86 của Đài Loan vào năm 1958.

MiG-17 đã giành chiến thắng đầu tiên vào ngày 29 tháng 7 năm 1953. Oanh tạc cơ trinh sát RB-50G của Mỹ đã xâm phạm không phận của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết tự trị Kazakhstan. Hai chiếc máy bay tiêm kích MiG-17 đã cất cánh từ sân bay Nikolaevka để đánh chặn. Sau khi thấy MiG-17, phi cơ Mỹ đã khai hỏa súng máy Browning M2HB 12,7mm khiến một chiếc MiG-17 bị hư hại. Bị tấn công trước, các máy bay MiG-17 đã bắn hạ chiếc RB-50 bằng pháo 23mm. Trong số 17 phi công Mỹ, chỉ có một người sống sót và bị bắt giữ trên mặt đất.

Vào mùa hè năm 1954, Liên Xô đã chuyển giao cho Bulgaria một nhóm máy bay MiG-17PF để chống lại những máy bay Douglas A-26 Invader(có tên là B-26 từ năm 1948 đến năm 1965) của Mỹ gần như mỗi đêm đều xâm phạm không phận nước này. MiG-17 đã tuần tra trên bầu trời Bulgaria vào ban đêm. Trong 1 phi vụ tuần tra, phi công Anatoly Zhdanovich đã phát hiện 1 chiếc B26, đuổi kịp nó gần biên giới với Hy Lạp, khai hỏa và bắn hạ chiếc B-26.

MiG-17 cũng được Ai Cập, Syria sử dụng để chiến đấu chống lại Israel trong các cuộc Xung đột Ả Rập-Israel. Trong cuộc khủng hoảng Suez năm 1956, Không quân Ai Cập có 12 chiếc MiG-17F. Đối thủ chính là các máy bay chiến đấu MD-454 MystereMD-450 Ouragan của Không quân Israel. Các chiếc MiG-17 của Ai Cập đã giành được một số chiến thắng trên không mà không bị tổn thất. Trong trận không chiến trên sân bay Cabrit, ba chiếc MiG-17 đã bắn hạ ba chiếc Mystere của Israel. Tuy nhiên, trong các cuộc chiến tranh Sáu ngày năm 1967, kết quả của MiG-17 khá nghèo nàn do nhiều nguyên nhân: phi công Ả Rập có trình độ thấp hơn so với phi công Israel, chiến thuật của quân Ả Rập không hợp lý, và MiG-17 rõ ràng là đã lạc hậu so với các máy bay F-4 Phantom hiện đại nhất của Không quân Israel.

Ít nhất 24 chiếc MiG-17 đã phục vụ trong Không quân Nigeria và được một nhóm gồm các phi công của Nigeria, Đông Đức, Liên Xô, Nam Phi, Vương quốc Anh, Úc lái trong thời gian xảy ra Nội chiến Nigeria 1967-1970. 4 chiếc MiG-17 đã được Liên Xô cung cấp khẩn cấp cho Sri Lanka trong cuộc nổi dậy 1971, và chúng đã được sử dụng để ném bom và tấn công mặt đất trong cuộc xung đột.

MiG-17 đã trở thành máy bay tiêm kích đánh chặn chính trong Không quân Nhân dân Việt Nam vào năm 1965. Tuy đã rất lạc hậu vào thời điểm đó, song nhờ chiến thuật hợp lý, những chiếc MiG-17 đã tham chiến và giành những thắng lợi đáng kể trước các máy bay chiến đấu hiện đại của Hoa Kỳ trong Kháng chiến chống Mỹ, khi chúng kết hợp chiến đấu cùng với các máy bay MiG-19MiG-21. Một số bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam thậm chí còn thích MiG-17 hơn MiG-19 và MiG-21 vì nó có khả năng bẻ ngoặt nhanh hơn hơn dù tốc độ bay thẳng không nhanh bằng MiG-19 và MiG-21.

Tập tin:Mikoyan-Gurevich MiG-17 Fresco USAF.jpg
MiG-17 sơn cờ của Không quân Nhân dân Việt Nam

36 chiếc MiG-17F đầu tiên của Việt Nam được biên chế cho Trung đoàn tiêm kích 921 (Đoàn Sao đỏ) vào ngày 3/2/1964. Các bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam hoàn tất huấn luyện ở Trung Quốc, trở về nước vào ngày 6/8/1964 và tiếp tục huấn luyện tại sân bay Nội Bài.

Ngày 7/8/1964, một máy bay do thám U-2 phát hiện những chiếc MiG-17 của Việt Nam đang đậu trên sân bay. Tuy nhiên, không có sỹ quan Mỹ nào nghĩ rằng MiG-17 có thể đương đầu với các máy bay kiểu mới của Mỹ. Tướng J. Paul, chỉ huy tầu sân bay USS Constellation còn tuyên bố rằng: "Cuộc chiến đấu với phi công Việt Nam chỉ là trò chơi. Các máy bay trinh sát cho phép người Mỹ nắm rõ lực lượng không quân bé nhỏ này, một dúm máy bay cổ lỗ trú trong những bức tường bằng đất đắp không mái che."[8]

Khi so sánh về thông số kỹ thuật, MiG-17 hoàn toàn không thể so sánh được với các tiêm kích đời mới như F-4 Phantom, F-8 Crusader, F-105 Thunderchief... Các loại máy bay này đều có vận tốc tối đa đạt tới trên Mach 2, trang bị radar tầm xa và tên lửa không đối không có thể bắn trúng mục tiêu ở xa hàng chục km, trong khi MiG-17 chỉ có vận tốc tối đa là Mach 0,93, cũng không có radar và tên lửa, vũ khí chỉ có pháo liên thanh với tầm bắn hiệu quả chỉ khoảng 1 km. Như vậy, nếu đối đầu trực diện thì MiG-17 sẽ dễ dàng bị radar địch phát hiện và bị bắn hạ từ xa mà không thể đáp trả. Tuy nhiên, bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam đã nghiên cứu kỹ từng loại máy bay và chiến thuật của Mỹ để tìm ra chiến thuật hợp lý, khắc phục được sự yếu thế của MiG-17. Theo đó, máy bay Mỹ tuy bay nhanh, vũ khí hiện đại nhưng khả năng bay bẻ ngoặt khá thấp, mất tốc độ nhiều khi đổi hướng, một số thiếu pháo đánh cận chiến; còn MiG-17 tuy bay chậm, vũ khí lỗi thời nhưng có ưu điểm là nhỏ gọn, khả năng bay bẻ ngoặt rất tốt, bán kính quay vòng nhỏ nên rất có lợi thế khi đánh cận chiến. Do vậy lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam đã đề ra chiến thuật: đầu tiên MiG-17 sẽ bay rất thấp, men theo địa hình với sự trợ giúp từ radar đánh chặn kiểm soát mặt đất - GCI (để tránh bị radar máy bay Mỹ phát hiện từ xa). Khi đã tới gần phi đội địch, những chiếc MiG-17 mới kéo cao đánh cận chiến, sử dụng hai chiến thuật: "bay vòng tròn cắt đường kính ở độ cao trung bình thấp" và "tiến công đối đầu ngoặt gấp", sử dụng lợi thế bẻ ngoặt nhanh để bắn hạ máy bay Mỹ. Chiến thuật này đã thể hiện hiệu quả cao, khắc chế được ưu thế đánh tầm xa của máy bay Mỹ và phát huy được lợi thế đánh tầm gần của MiG-17[9]

Vào ngày 3 tháng 4 năm 1965, MiG-17 đã giành chiến thắng đầu tiên trên bầu trời Việt Nam. sáu chiếc MiG-17 cất cánh từ Căn cứ Không quân Nội Bài thành hai tốp 2 và 4 chiếc, mục tiêu là các máy bay của Hải quân Mỹ đang yểm trợ cho lực lượng 80 chiếc máy bay của Không quân Mỹ đang cố gắng tấn công cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa). Chỉ huy MiG-17, Trung úy Phạm Ngọc Lan, tấn công tốp máy bay VF-211 của tàu sân bay USS Hancock, bắn hỏng nặng một chiếc F-8E Crusader của Trung úy Spence Thomas, khiến nó phải hạ cánh khẩn cấp xuống Căn cứ Không quân Đà Nẵng. Một chiếc F-8 thứ hai đã được phi công Phan Văn Túc tuyên bố bắn hạ, nhưng phía Hoa Kỳ không công nhận.

Ngày 03/3/1955 được lấy làm Ngày truyền thống Không quân Nhân dân Việt Nam. Vào ngày 4 tháng 4 năm 1965, 4 chiếc MiG-17 của Việt Nam đã tấn công tám máy bay chiến đấu F-105 Thunderchief của Mỹ trên bầu trời Thanh Hóa, bắn hạ hai chiếc F-105.

Sau vụ việc, các phi công Mỹ đã cảm thấy chấn động khi những chiếc MiG-17 cũ, không có radartên lửa không đối không, vận tốc tối đa chỉ đạt Mach 0,93 nhưng lại bắn hạ được các máy bay tiêm kích-ném bom F-8 CrusaderF-105 Thunderchief hiện đại (tốc độ Mach 2, mang được tên lửa và radar đời mới). Tổng tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ, tướng John P. McConnell đã "phát điên" khi biết tin hai chiếc F-105 đã bị bắn hạ bởi những chiếc MiG-17 cận âm từ thời chiến tranh Triều Tiên.[10]

Tiêm kích F-4 của Mỹ ban đầu không được trang bị pháo mà chỉ có tên lửa không đối không, khiến nó gặp bất lợi khi đối đầu với chiến thuật quần vòng của MiG-17. Các tên lửa không đối không như AIM-7 SparrowAIM-9 Sidewinder của F-4 có góc dò tìm hạn chế và khả năng bay đổi hướng không cao, nên khó bắn trúng khi MiG-17 dùng chiến thuật cơ động bẻ ngoặt liên tục ở tầm gần. Theo phi công Nguyễn Văn Bảy (A), các phi công MiG-17 Việt Nam đã tìm ra phương pháp né tên lửa không đối không của Mỹ bằng cách quan sát bằng mắt rồi căn thời gian, khi tên lửa sắp lao đến thì bẻ ngoặt thật nhanh. Quả tên lửa sẽ không kịp đổi hướng theo chiếc MiG, nên sẽ bay vọt qua và trượt mục tiêu. Trong suốt quá trình chiến đấu, phi công Nguyễn Văn Bảy đã dùng phương pháp này để né được hàng chục tên lửa đối không của máy bay Mỹ[11]

Để khắc phục khả năng không chiến với những máy bay tiêm kích nhỏ và nhanh nhẹn như những máy bay MiG, Mỹ đã thành lập huấn luyện không chiến khác biệt (DACT) trong chương trình huấn luyện của TOPGUN, người Mỹ đã phải sử dụng những máy bay A-4 Skyhawk cận âm và F-5 Freedom Fighter siêu âm nhưng bay ở tốc độ cận âm để đóng giả làm máy bay MiG-17. Hải quân Hoa Kỳ cũng thành lập những phi đội trang bị của đối phương (tức là sử dụng máy bay đóng giả làm máy bay đối phương) với những chiếc A-4 nhanh nhẹn để thực hành tấn công những máy bay trong chương trình DACT.

Carl O. Schuster, cựu sĩ quan hải quân Mỹ, nhận xét "Không quân Việt Nam đã đề ra những chiến thuật hiệu quả để tận dụng tối đa ưu điểm của MiG-17, hạn chế điểm yếu như tăng tốc chậm hoặc khó duy trì vòng lượn ở độ cao nhỏ. Việt Nam đã áp dụng chiến thuật 'đánh du kích trên trời' nhằm vào các biên đội cường kích Mỹ. Tính năng bay của MiG-17 hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận này... MiG-17 có tác động lớn với Mỹ cả về mặt công nghệ và tác chiến. Nó buộc các chỉ huy phải thay đổi chiến thuật, tới mức vượt xa kỳ vọng với một nhóm nhỏ tiêm kích cổ lỗ như vậy. Mọi tiêm kích Mỹ ra đời sau năm 1965 đều trang bị pháo để cận chiến. MiG-17 có thể coi là tiêm kích gây tác động lớn nhất với thiết kế chiến đấu cơ Mỹ sau cuộc chiến tại Việt Nam"[12]

Đến năm 1965, Liên Xô chuyển cho Việt Nam phiên bản MiG-17PF mới hơn, có thể hoạt động trong mọi thời tiết nhờ radar RP-2 Izumrud, radar đo xa SRD-3 cho pháo và kính hồng ngoại SIV-52. Cấu hình vũ khí cũng thay đổi với ba pháo NR-23 23mm, thay cho một pháo N-37D 37mm và hai pháo NR-23 như phiên bản MiG-17F.

Không quân Nhân dân Việt Nam cũng khai thác tối đa sự phối hợp hoạt động đồng bộ của MiG-21 với MiG-17 trong không chiến. Những chiếc tiêm kích MiG-17 bay ở tầm thấp dưới 3.000m đã đẩy những chiếc F-4F-105 của Mỹ từ độ cao thấp lên độ cao trung bình khoảng 5.000 đến 6.000m, nơi những chiếc MiG-21 đang phục kích tấn công đối phương.[13]

Trong các cuộc không chiến giữa MiG-17 và máy bay Mỹ, đã xảy ra một tình huống trớ trêu với uy danh Không lực Hoa Kỳ. Đó là việc "chuyên gia chống MiG", đại tá phi công Norman C. Gaddis, bị bắn hạ ngay trong lần đầu tiên thực chiến đối mặt với loại máy bay "cổ lỗ" MiG-17. Khi đó, Norman được phi công Mỹ tôn vinh là "chuyên gia chống MiG" với 20 năm kinh nghiệm với gần 4.200 giờ bay. Năm 1960, ông trở thành Hiệu trưởng trường Cao đẳng sĩ quan tham mưu không quân cao cấp. Tại các buổi huấn luyện phi công, Norman thường xuyên chỉ trích các phi công Mỹ tại Việt Nam là "không biết cách khai thác tính năng của các máy bay hiện đại như F-4, F-105 trước các máy bay MiG dưới cơ". Tháng 11/1966, Norman trực tiếp đến Việt Nam để nghiên cứu chiến thuật đối phó với MiG. Sau nhiều tháng nghiên cứu, Norman đã hoàn thiện một tập báo cáo về chiến thuật hạ MiG, chỉ cần thêm chuyến bay thực tế để hoàn tất. Ngày 12/5/1967, Norman cùng với hoa tiêu là Trung úy James M. Jefferson lái chiếc tiêm kích F-4C chỉ huy tốp phi cơ bay từ Lào theo hướng Ba Vì (Hà Nội). 4 chiếc MiG-17 do các phi công Cao Thanh Tịnh, Lê Hải, Hoàng Văn Kỷ, Ngô Đức Mai bay lên đánh chặn. Sau 1 hồi quần vòng, Ngô Đức Mai đã bắn hai loạt đạn ở cự ly 300 mét, bắn rơi chiếc F-4C mang số hiệu BN-63-7614 do Norman điều khiển. Norman kịp nhảy dù và bị bắt, còn hoa tiêu Jefferson tử trận. Không tin nổi mình lại bị bắn hạ ngay lần đầu xuất trận, Norman đòi gặp bằng được phi công lái chiếc MiG-17 đã bắn hạ chiếc F-4C của mình, ông ta càng kinh ngạc hơn khi biết Ngô Đức Mai là một phi công mới chỉ có 300 giờ bay (sau này, phi công Ngô Đức Mai đã hy sinh ngày 3/6/1967 trên vùng trời tỉnh Hà Bắc, ông đã bắn rơi 3 máy bay địch trong đó có chiếc F-4 của Đại tá Gaddis).[14][15]

Từ năm 1965 tới 1972, MiG-17 thuộc các Trung đoàn 921 và 923 được tuyên bố đã bắn rơi 71 máy bay Mỹ: 11 chiếc F-8 Crusader, 16 chiếc F-105 Thunderchief, 32 chiếc F-4 Phantom II, 2 chiếc A-4 Skyhawk, 7 chiếc A-1 Skyraider, 1 chiếc C-47, 1 chiếc trực thăng Sikorsky CH-3C và 1 chiếc máy bay không người lái Ryan Firebee.[16] Tổng cộng, những chiếc MiG-17 của Việt Nam được tuyên bố đã bắn rơi 143 máy bay và trực thăng các loại của đối phương. Đổi lại, phía Việt Nam bị tổn thất 75 chiếc MiG-17 (trong đó có một vài chiếc bị rơi do trục trặc kĩ thuật hoặc do pháo phòng không mặt đất bắn nhầm), 49 phi công MiG-17 đã hy sinh.[17]

3 phi công MiG-17 của Việt Nam đã đạt cấp Ace (bắn hạ từ 5 máy bay địch trở lên) là Nguyễn Văn Bảy (A) (hạ 7 chiếc), Lưu Huy ChaoLê Hải (mỗi người hạ 6 chiếc).

Thậm chí, phía Việt Nam còn dùng MiG-17 tập kích thành công vào các tàu chiến của Hải quân Mỹ. Ngày 19 tháng 4 năm 1972, hai chiếc MiG-17 mang bom 250kg, do Nguyễn Văn Bảy (B)Lê Xuân Dị xuất phát từ sân bay dã chiến tại Gát (đường băng bàng đất) đã dùng bom tấn công khu trục hạm USS Higbee (DD-806) khiến nó bốc cháy hư hại nặng, phải kéo về Philippines để sửa chữa, còn tuần dương hạm USS Oklahoma City (CL-91) bị hư hại nhẹ. Đây cũng là lần đầu tiên - rất hy hữu trong lịch sử thế giới, khi chiếc MiG-17 vốn là tiêm kích đối không, lại được cải tiến mang bom và ném theo phương pháp "thia lia" để tập kích vào tàu hải quân.

Các biến thể

Tập tin:MiG-17 at the Oregon Air Show.jpg
MiG-17 tại Triển lãm hàng không Oregon
Tập tin:Mig17.jpg
MiG-17 sơn cờ Liên Xô
I-300 (Samolet SI)
Nguyên mẫu.[18]
MiG-17 (Samolet SI, "Fresco A")
Phiên bản máy bay tiêm kích cơ bản trang bị động cơ VK-1.[18]
Samolet SI-10
Một chiếc MiG-17 được cải tiến với cánh tà mới, tấm mép trước và các nâng cấp khác để cải thiện khả năng điều khiển.[18]
Samolet SI-16
Máy bay thử nghiệm cho pháo tự động 57 mm N-57 .[18]
Samolet SI-19
Máy bay thử nghiệm cho rocket TRS-190 trên mấu cứng APU-4 được sửa đổi.[18]
MiG-17A
Phiên bản máy bay tiêm kích trang bị động cơ VK-1A với tuổi thọ dài hơn.
MiG-17AS
Phiên bản cải tiến để mang tên lửa không điều khiển và tên lửa không đối không Vympel K-13 (NATO: AA-2 'Atoll').
Samolet SP-2
Phiên bản thử nghiệm với động cơ có buồng đốt sau VK-1F và radar đánh chặn Korshun.[18]
MiG-17P (Samolet SP-7, "Fresco B")
Phiên bản máy bay tiêm kích mọi thời tiết trang bị radar Izumrud.
MiG-17F (Samolet SF, "Fresco C")
Phiên bản máy bay tiêm kích cơ bản trang bị động cơ VK-1F với khả năng đốt nhiên liệu phụ trội.[18]
I-340 (Samolet SM-1)
Phiên bản thử nghiệm với hai động cơ Mikulin AM-5. Được phát triển thành Mikoyan-Gurevich MiG-19.[18]
MiG-17F (Samolet SR-2)
Biến thể trinh sát của tiêm kích MiG-17F có ký hiệu tương tự. Đôi khi bị gọi nhầm là MiG-17R.[18]
MiG-17PF (Samolet SP-7F, "Fresco D")
Biến thể tiêm kích mọi thời tiết, trang bị radar Izumrud, 3 pháo 23 mm NR-23 và động cơ VK-1F. Sản xuất 668 chiếc.[18]
MiG-17PM/PFU (Samolet SP-6, "Fresco E")
Biến thể tiêm kích trang bị radar và tên lửa không đối không K-5 (NATO: AA-1 "Alkali").[18]
M-17
UAV mục tiêu, chương trình hoán cải sau khi MiG-17 bị loại biên.[19]
MiG-17R
Phiên bản trinh sát với động cơ VK-1F và camera ("máy bay SR-2s")
MiG-17SN
Phiên bản thử nghiệm với hai khe hút không khí, không có khe không khí ở giữa, trang bị pháo 23 mm ở phần mũi. Không được sản xuất.
Shenyang J-5
Phiên bản tiêm kích/đánh chặn phản lực một chỗ do Trung Quốc chế tạo từ nguyên mẫu MiG-17 của Liên Xô.

Vũ khí

Các biến thể chiến đấu ban ngày (MiG-17, MiG-17F) được trang bị hai pháo NR-23 23 mm (80 viên mỗi súng) và một pháo N-37 37 mm (40 viên), ở giá lắp súng chung bên dưới cửa hút gió trung tâm. Giá lắp súng có thể được tháo ra dễ dàng khi bảo dưỡng. Các biến thể với radar (MiG-17P, PF) được trang bị ba pháo NR-23 23 mm (200 viên), vì trọng lượng radar. MiG-17R chỉ được trang bị hai pháo 23 mm.

Tất cả các biến thể có thể mang bom 100 kg trên hai mấu dưới cánh (một số chiếc có thể mang bom 250 kg), nhưng thường thì chúng mang theo thùng dầu phụ 400 lít.

Biến thể duy nhất có trang bị tên lửa không đối không là MiG-17PM (PFU), mang 4 tên lửa K-5 (NATO: AA-1 'Alkali'). Nó không có pháo. Ở nhiều nước, MiG-17 thỉnh thoảng được cải tiến để mang tên lửa không điều khiển hoặc bom ở các mấu treo lắp thêm.

MiG-17P được trang bị radar Izumrud-1 (RP-1), MiG-17PF với RP-1 hay sau này với radar Izumrud-5 (RP-5). MiG-17PM cũng được trang bị một radar, dùng để ngắm bắn tên lửa. Các biến thể khác không có radar.

Nước sử dụng

Tập tin:Mig-17 operators.PNG
Bản đồ các nước sử dụng MiG-17

[20]

Các nước sử dụng

Bản mẫu:PRK

Các nước từng sử dụng

Bản mẫu:Country data Democratic Republic of Afghanistan
  • Không quân Afghanistan nhận những chiếc MiG-17 đầu tiên vào năm 1957 và vận hành ít nhất 90 chiếc.[23] Đến cuối năm 1980 thì phần lớn đã phải nằm đất.[24]
Bản mẫu:ALB
  • Không quân Albania – vận hành cả MiG-17F do Liên Xô chế tạo và F-5 (J-5) do Trung Quốc chế tạo.[25]
Bản mẫu:DZA
  • Không quân Algeria – vận hành 60 chiếc MiG-17F từ thập niên 1960. Một số vẫn dùng làm máy bay huấn luyện vào cuối thập niên 1980.[25]
Bản mẫu:ANG
  • Không quân Angola.[26]
Bản mẫu:BUL
  • Không quân Bulgaria – vận hành MiG-17F, MiG-17PF và MiG-17R.[26]
Bản mẫu:BFA
  • Không quân Burkina Faso.[27]
Bản mẫu:CAM
Bản mẫu:CHN
Bản mẫu:COG
  • Không quân Congo.[30]
Bản mẫu:CUB
  • Không quân và Phòng không Cách mạng Cuba[31] - dùng cho đến khi được Liên Xô cung cấp MiG-23, lúc đó MiG-17AS và MiG-17F bị thay thế.
Bản mẫu:CZS
  • Không quân Tiệp Khắc.[32]
Bản mẫu:DDR
Tập tin:MiG-17-2008-Peenemunde-tail.jpg
MiG-17 của Đông Đức
  • Không quân Quân đội Nhân dân Quốc gia (Luftstreitkräfte / LSK) – vận hành MiG-17.[33]>
Bản mẫu:EGY
  • Không quân Ai Cập.[34]
Bản mẫu:Country data Ethiopia
  • Không quân Ethiopia.[34]
Bản mẫu:GUI
Bản mẫu:GBS
  • Không quân Guinea-Bissau – vận hành 2 chiếc MiG-17F.[36]
Tập tin:Hungarian MiG-17PF.JPG
Một chiếc MiG-17PF của Không quân Nhân dân Hungary được trưng bày ở Kecskemét
Bản mẫu:Country data Hungarian People's Republic
  • Không quân Quân đội Nhân dân Hungary.[37]
Tập tin:Flag of Indonesia.svg Indonesia
  • Không quân Indonesia.[37]
Bản mẫu:Country data Iraq
  • Không quân Iraq.[37]
Bản mẫu:MAD
Tập tin:MiG-17 of the Malagasy Air Force.jpg
MiG-17 của Không quân Madagascar.
  • Không quân Madagascar – 4 chiếc được Bắc Triều Tiên bàn giao năm 1975.[20][38]
Bản mẫu:MLI
  • Không quân Mali.[37]
Bản mẫu:MGL
  • Không quân Quân đội Nhân dân Mông Cổ.[39]
Bản mẫu:MAR
  • Không quân Hoàng gia Maroc.[39]
Bản mẫu:MOZ
  • Không quân Mozambique.[39]
Bản mẫu:NGA
  • Không quân Nigeria.[39]
Bản mẫu:Country data North Yemen
  • Không quân Cộng hòa Ả Rập Yemen – 13 chiếc MiG-17 do Liên Xô viện trợ tháng 11/1967.[40]
Tập tin:Flag of Poland.svg Ba Lan
  • Không quân Ba Lan.[41]
  • Hải quân Ba Lan.[41]
Tập tin:Flag of Romania.svg România
  • Không quân Romania.[42]
Bản mẫu:SOM
  • Quân chủng Hàng không Somalia – năm 1967 Liên Xô bàn giao 30 máy bay MiG-17 và MiG-17F.[20][43][44] Năm 1991 không quân này bị giải thể.[45]
Bản mẫu:Country data South Yemen
  • Không quân Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Yemen – 10 MiG-17F đầu tiên nhận từ Liên Xô tháng 1/1969; 8 chiếc nữa bàn giao năm 1971.[46]
Bản mẫu:USSR
Bản mẫu:SRI
  • Không quân Sri Lanka – rút khỏi biên chế sau nổi dậy JVP 1971; nay trưng bày tại bảo tàng SLAF Ratmalana.[47]
Bản mẫu:Country data Syria
  • Không quân Syria.[48]
Bản mẫu:UGA
  • Không quân Uganda – Không quân Uganda – một số chiếc từ Tiệp; tình trạng khai thác không chắc chắn.[49]
Tập tin:Flag of the United States.svg Hoa Kỳ
Tập tin:4477th Test and Evaluation Squadron MiG-17F in flight.jpg
MiG-17F của Liên Xô được Không quân Hoa Kỳ sử dụng
  • Không quân Hoa Kỳ từng dùng để thử nghiệm/đánh giá; năm 2014 còn thấy một chiếc sơn ngụy trang bay gần Edwards AFB, có thể dùng huấn luyện tại USAF Test Pilot School.
Tập tin:Flag of Vietnam.svg Việt Nam

Đặc điểm kỹ thuật (MiG-17A)

Tập tin:MiG-17 3-view drawing.svg

Bản mẫu:Aircraft specs

Tham khảo

Ghi chú

  1. ^ Parsch, Andreas; Martynov, Aleksey V. (ngày 18 tháng 1 năm 2008). "Designations of Soviet and Russian Military Aircraft and Missiles". Non-U.S. Military Aircraft and Missile Designations. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.
  2. ^ a ă â Davies, Peter. USN F-4 Phantom II Vs VPAF MiG-17: Vietnam 1965-72. London: Osprey, 2009. Bản mẫu:ISBN.
  3. ^ Sweetman 1984, p. 11.
  4. ^ Parsch, Andreas; Martynov, Aleksey V. (ngày 18 tháng 1 năm 2008). "Designations of Soviet and Russian Military Aircraft and Missiles". Non-U.S. Military Aircraft and Missile Designations. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.
  5. ^ a ă Crosby 2002, p. 212.
  6. ^ Toperczer 2001, tr. 48.
  7. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Air Vector
  8. ^ "'Song kiếm' MiG hộ vệ bầu trời Việt Nam". ZingNews.vn. ngày 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2022.
  9. ^ "MiG-17 từng gây ấn tượng mạnh cho không quân Mỹ như thế nào". An ninh thủ đô. ngày 29 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2023.
  10. ^ "Armed Forces: How It Happened." Lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2013 tại Wayback Machine Time, ngày 16 tháng 4 năm 1965.
  11. ^ "Người phi công biết né ... tên lửa". Dân Việt. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2023.
  12. ^ Mẫu tiêm kích từng hạ gục Thần sấm, Con ma Mỹ
  13. ^ http://kienthuc.net.vn/vu-khi/nga-noi-gi-ve-cuoc-dau-mig21-va-f4-o-viet-nam2-287379.html
  14. ^ https://vnexpress.net/tiem-kich-tung-ban-ha-chuyen-gia-diet-mig-cua-khong-quan-my-3986375.html
  15. ^ https://kienthuc.net.vn/quan-su/chuyen-gia-diet-mig-va-bai-thuc-hanh-do-te-cua-ong-hieu-truong-1481752.html
  16. ^ Toperczer 2001, pp. 88, 89, 90.
  17. ^ https://web.archive.org/web/20140203010754/http://old.vko.ru/pictures/2006_26/42_01.jpg
  18. ^ a ă â b c d đ e ê g h Gunston, Bill; Gordon, Yefim (1998). MiG Aircraft since 1937. United Kingdom: Putnam Aeronautical Books. ISBN 1-55750-541-1.
  19. ^ Aviation encyclopedia. Уголок неба. "UAVs. M-17". Airwar.ru. 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2023.
  20. ^ a ă â "Trade Registers". Stockholm International Peace Research Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
  21. ^ "World Air Forces 2021". Flight Global. flightglobal.com. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2021.
  22. ^ "The AMR Regional Air Force Directory 2012" (PDF). Asian Military Review. tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  23. ^ Flight Magazine 1990 or The Encyclopaedia of World Air Forces
  24. ^ Müller, Lukas (2020). Wings over the Hindu Kush: Air Forces, Aircraft and Air Warfare of Afghanistan, 1989-2001. Helion and Company. tr. 8. ISBN 978-1913118662.
  25. ^ a ă Gordon 2002, tr. 74.
  26. ^ a ă Gordon 2002, tr. 75.
  27. ^ Wragg 2011, tr. 78−79.
  28. ^ Conboy 1989, p. 20.
  29. ^ Wragg 2011, tr. 92.
  30. ^ Gordon 2002, tr. 79.
  31. ^ Gordon 2002, tr. 79, 81.
  32. ^ Gordon 2002, tr. 81-82.
  33. ^ Gordon 2002, tr. 82.
  34. ^ a ă â Gordon 2002, tr. 86.
  35. ^ Wragg 2011, tr. 141.
  36. ^ Wragg 2011, tr. 142.
  37. ^ a ă â b Gordon 2002, tr. 87.
  38. ^ "African Aerospace – Aircraft boost for Madagascar". www.africanaerospace.aero. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
  39. ^ a ă â b Gordon 2002, tr. 89.
  40. ^ Cooper 2017, tr. 27
  41. ^ a ă Gordon 2002, tr. 90.
  42. ^ Wragg 2011, tr. 235.
  43. ^ Manuele Serventi Merlo (ngày 3 tháng 5 năm 2017). "The Ogaden war between Ethiopia and Somalia (1977–1978): the historical and political premises of the conflict – Online Defense" (bằng tiếng Ý). En.difesaonline.it. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2022.
  44. ^ "Jan J. Safarik: Air Aces Home Page". Aces.safarikovi.org. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2022.
  45. ^ "Arab Air Power > Somalia". arabairpower.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
  46. ^ Cooper 2017, tr. 35
  47. ^ Wragg 2011, tr. 264−265.
  48. ^ Wragg 2011, tr. 273−274.
  49. ^ "Trade Registers". Armstrade.sipri.org. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2013.
  50. ^ Wragg 2011, tr. 330−331.

Tài liệu

Liên kết ngoài

Chủ đề liên quan

Máy bay có cùng sự phát triển

Máy bay có tính năng tương tự

Trình tự thiết kế

MiG-9 (I-210)/MiG-9 (I-301) - MiG-13 (I-250) - MiG-15 - MiG-17 - MiG-19 - MiG-21 - MiG-23

Bản mẫu:Máy bay MiG Bản mẫu:Airlistbox