Năm Ngũ (1900 – 1983), còn có nghệ danh Kép Năm, là một nghệ sĩ chèo Việt Nam. Ông là một trong những nghệ sĩ chèo tiêu biểu của Việt Nam trong thế kỷ 20, gắn với các vai hề chèo. Ông được nhận danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân (đợt 1).

Nghệ sĩ Nhân dân
Năm Ngũ
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên khai sinh
Tống Văn Ngũ
Ngày sinh
1900
Nơi sinh
Phường Trần Lãm, Hưng Yên (trước là phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình)
Mất
Ngày mất
1983
Quốc tịch Việt Nam
Nghề nghiệpDiễn viên sân khấu
Gia đình
Vợ
Năm Hảo
Lĩnh vực
Danh hiệuNghệ sĩ nhân dân (1984)
Sự nghiệp sân khấu
Năm hoạt động1912 - 1983
Quản lýĐoàn chèo Trung ương (nay là Nhà hát Chèo Việt Nam)
Chữ ký

Tiểu sử

Ông tên thật Tống Văn Ngũ, sinh tại làng Kỳ Bá, nay thuộc phường Trần Lãm, Hưng Yên.[1] Mới 12 tuổi, Tống Văn Ngũ đã theo nghề chèo, mở đầu bằng vai hề gậy trên chiếu diễn và nhanh chóng khẳng định được tài năng của mình. Khi mới 18 tuổi, Kép Năm Thái Bình đã là cái tên quen thuộc trên các sân khấu chèo lớn ở Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định. Giai đoạn thập niên 1940, ông từng tham gia Gánh hát Đồng Tâm do nghệ sĩ Hoa Tâm làm chủ gánh. Ông đã từng thử sức với các bộ môn sân khấu khác như tuồngcải lương trong một số giai đoạn, nhưng vẫn gắn bó sâu sắc nhất với nghệ thuật chèo. Trên sân khấu, ông được khán giả nhớ đến qua hàng loạt vai hề đặc sắc như hề gậy, hề mồi, cùng các hình tượng dân gian quen thuộc: phù thủy, thầy bói, thầy cúng, xã dốt...[1]

Năm 1952, ông là một trong những nghệ sĩ chèo đầu tiên tham gia Đoàn Văn công Trung ương được thành lập tại Việt Bắc, cùng vợ là nghệ sĩ Năm Hảo và các nghệ sĩ Dịu Hương, Cả Tam. Đầu năm 1953, trước yêu cầu xây dựng những tác phẩm mới phục vụ các hội nghị quan trọng của Trung ương, ông đã cùng nghệ sĩ Dịu Hương và Trần Bảng cùng dàn dựng vở chèo hiện đại Chị Trầm. Trong buổi công diễn, vở diễn nhận được sự hưởng ứng của khán giả, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhiều lãnh đạo cấp cao như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng.[2] Đến năm 1954, Năm Ngũ được giao trọng trách Trưởng đoàn Chèo Trung ương, đơn vị sau này trở thành tiền thân của Nhà hát Chèo Việt Nam.

Năm 1957, ông cùng các nghệ sĩ Bùi Đức Hạnh, Hoàng Kiều, Hà Văn Cầu, Hồ Ngọc Cẩn và các nghệ nhân Trùm Thịnh, Cả Tam, Lý Mầm... thành lập Ban Nghiên cứu Chèo. Ban này đảm nhiệm việc chỉnh lý, cải biên và phục dựng nhiều vở chèo cổ nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Xuý Vân (trích từ Kim Nham), Lưu Bình Dương Lễ, Nàng Thiệt Thê (từ Chu Mãi Thần), Lọ nước thần… Những hoạt động này góp phần quan trọng vào việc khôi phục, sưu tầm và hoàn thiện hệ thống làn điệu chèo cổ; nhiều điệu hát quen thuộc như Sắp qua cầu, Tải lương, Quân tử vu dịch, Tình thư hạ vị… được chỉnh lý và phổ biến rộng rãi từ giai đoạn này.[3]

Không chỉ biểu diễn và nghiên cứu, Năm Ngũ còn dành nhiều tâm huyết cho công việc truyền dạy nghệ thuật chèo. Trong hàng chục năm, ông tham gia đào tạo nhiều thế hệ diễn viên chèo của Trường Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam, các đoàn chèo chuyên nghiệp và cả phong trào chèo không chuyên.[1]

Nghệ sĩ Năm Ngũ qua đời năm 1983, hưởng thọ 83 tuổi. Năm 1984, ông được truy tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân (đợt 1).

Tham khảo

  1. ^ a b c "Những nghệ sĩ chèo tài danh của Việt Nam sinh ra từ đất Thái Bình". Trà Vinh Online. ngày 17 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.
  2. ^ Lưu Thảo (ngày 6 tháng 8 năm 2023). "Giáo sư, đạo diễn, NSND Trần Bảng: Ông "trùm chèo" Việt Nam". Hà Nội Mới. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.
  3. ^ Nguyễn Thị Bích Ngoan (ngày 29 tháng 3 năm 2018). "Kế thừa và biến đổi âm nhạc chèo". Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 405, tháng 3 - 2018. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.