Na Ngạn Đồ
Na Ngạn Đồ (chữ Hán: 那彦图, tiếng Mông Cổ: Наянт[1], 1867 - 1938), tự Cử Phủ (矩甫), họ Bát Nhĩ Tế Cát Đặc, là một thân vương và quan viên nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Ông là vị Trát Tát Khắc Hòa Thạc Thân vương cuối cùng của kỳ Trung Tả Mạt[2].
| Na Ngạn Đồ 那彦图 | |
|---|---|
| Thông tin chung | |
| Sinh | 1867 |
| Mất | 1938 |
| Phối ngẫu | xem văn bản |
| Hậu duệ | xem văn bản |
| Thân phụ | Trát Tất Khắc Thân vương Đạt Nhĩ Mã (达尔玛) |
| Thân mẫu | Ái Tân Giác La thị |
Cuộc đời
Ông sinh năm Đồng Trị thứ 6 (1867), xuất thân từ Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị của Tái Âm Nặc Nhan bộ Trung tả mạt kỳ, hậu duệ của Siêu Dũng Thân vương Sách Lăng. Cha ông là Trát Tát Khắc Thân vương Đạt Nhĩ Mã (达尔玛), sinh mẫu của ông là Ái Tân Giác La thị, con gái thứ ba của Di Thân vương Tái Viên.
Năm Đồng Trị thứ 13 (1874), phụ thân ông qua đời, ông được phép kế thừa tước vị Trát Tát Khắc Thân vương của kỳ Trung Tả Mạt. Năm Quang Tự thứ 19 (1893), ông nhậm chức Đô thống Mông Cổ Tương Bạch kỳ kiêm Lĩnh thị vệ Nội đại thần. Năm thứ 24 (1908), ông cải nhiệm Đô thống Mãn Châu Chính Hồng kỳ[3]. Năm thứ 29 (1903), ông cải nhiệm Đô thống Mãn Châu Tương Hoàng kỳ[4]. Năm thứ 34 (1908), ông giữ chức Đô thống Kiện Nhuệ doanh. Ông cũng là Nghị viên thế tước ngoại phiên vương công của Tư Chính viện, đại diện cho Tề Tề Nhĩ Lợi Khắc, và từng giữ chức Ngự tiền đại thần.
Sau Khởi nghĩa Vũ Xương, ban đầu Na Ngạn Đồ cùng những người khác thành lập Hiệp hội Liên minh Vương công Mông Cổ nhằm cản trở Hoàng đế nhà Thanh thoái vị. Về sau, ông lại thông điện ủng hộ Viên Thế Khải nhậm chức Đại Tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc. Năm Dân Quốc thứ nhất (1911), Viên Thế Khải tuyên bố thăng ông làm Tướng quân Ô Lý Nhã Tô Đài, nhưng lúc này Nga đã bảo hộ Ngoại Mông Cổ độc lập nên việc không thành.
Sau khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, ông lần lượt giữ chức Lãnh sự của Đảng Cộng hòa, Đảng Tiến bộ, và từng là Nghị viên Thượng nghị viện lâm thời Bắc Kinh. Năm thứ 2 (1913), ông là Nghị viên Hội nghị Chính trị. Năm thứ 3 (1914), ông làm Tham chính tại Tham chính viện, kiêm Nghị viên Hội nghị Ước pháp. Tháng 9 cùng năm, ông được Tướng quân phủ Bắc Dương trao hàm "Suy Oai Tướng quân", còn kiêm chức Đô thống Mãn Châu Tương Hoàng kỳ và được ban tặng Huân chương Gia Hòa hạng Nhất. Tháng 9 năm 1915, ông nhậm chức Phó Hội trưởng "Hiệp hội Liên minh Thỉnh nguyện" — tổ chức kích động lập hội thỉnh nguyện nhằm ủng hộ chế độ đế chế của Viên Thế Khải. Năm thứ 6 (1917), ông làm Phó Chủ tịch Thượng nghị viện lâm thời. Năm Dân Quốc thứ 14 (1925), ông là Thành viên Ủy ban Hội nghị Thiện hậu. Tháng 3 năm Dân Quốc thứ 23 (1934), ông nhậm chức Ủy viên Ủy ban Chính vụ Tự trị Địa phương Mông Cổ.
Tháng 4 năm Dân Quốc thứ 27 (1938), Na Ngạn Đồ qua đời, hưởng thọ 66 tuổi (có thuyết nói là 72 tuổi tính theo tuổi mụ). Sinh thời ông thường trú tại Bắc Kinh, phủ đệ của ông nằm tại số 2A ngõ Quốc Tường, được gọi là Na Vương phủ, hiện vẫn còn tồn tại.
Gia quyến
Thê thiếp
Đích Phúc tấn
- Ái Tân Giác La thị (爱新觉罗氏), trưởng nữ của Cung Thân vương Dịch Khuông. Bà tính tình ôn hòa, ngày thường trầm mặc ít nói, qua đời năm Quang Tự thứ 25 (1899)[5].
Thứ Phúc tấn
- Đại di thái: không rõ họ, vốn là thị nữ theo hầu của Ái Tân Giác La thị, sau khi Đích Phúc tấn qua đời thì chủ trị nội sự trong vương phủ. Qua đời năm 1914.
- Nhị di thái: không rõ họ, người Mông Cổ, mất sớm.
- Tam di thái: Cẩm Bình (锦屏), xuất thân Mãn Châu Bao y, năm 1905 bị chính Na Ngạn Đồ hạ lệnh cho Trưởng sử của vương phủ là Thường Song Đức sát hại.
- Tứ di thái: không rõ họ, được Na Ngạn Đồ mua về.
- Ngũ di thái: không rõ họ, nguyên là thứ thiếp.
- Lục di thái: không rõ họ, nguyên là thứ thiếp.
Hậu duệ
Con trai
- Trưởng tử Kỳ Thành Vũ (祺诚武, 1880 - 1927), mẹ là Đại di thái, được phong Uy Vũ tướng quân.
- Đích thê: Ái Tân Giác La thị, con gái Trấn quốc Tướng quân Dục Trưởng (的第), cháu gái Định Quận vương Phổ Hú.
- Thiếp: Như Hoa (如华), Trương Tiểu Lan (蒋小鸾), vốn là kỹ nữ.
- Tử: không rõ tên, chết trẻ năm 17 tuổi.
- Nữ: kế thê của Vinh Nguyên (润良), anh trai của Hoàng hậu Uyển Dung.
- Nhị tử Kỳ Khắc Đản (祺克坦), mẹ là Đại di thái, từng giữ chức Đội trưởng Tổng cục Cảnh sát Kinh sư.
- Đích thê: Ái Tân Giác La thị, con gái Trấn quốc công Phổ Văn (溥芸).
- Con: năm con trai và hai con gái
- Tam tử Kỳ Khắc Thận (祺克慎, 1896 - 1951), mẹ là Đích Phúc tấn Ái Tân Giác La thị, từng giữ chức Nghị viên Tham nghị viện.
- Đích thê: Tưởng thị (蔣氏), con gái Văn Uyên các Đại học sĩ Sùng Lễ (崇礼).
- Kế thê: Tất thị (畢氏), con gái Biện sự đại thần Tất Quế Phương (畢桂芳).
- Con: một con trai
- Tứ tử Kỳ Phác Sâm (祺璞森), mẹ là Đích Phúc tấn Ái Tân Giác La thị, từng làm quan tại Mãn Châu Quốc.
- Đích thê: Ái Tân Giác La thị, con gái của Kế Lộc (继禄).
- Kế thê: không rõ họ, vốn là kỹ nữ.
- Con: ba con gái đều do Ái Tân Giác La thị sinh.
- Ngũ tử Kỳ Khắc Thái (祺克泰), mẹ là Ngũ di thái, từng làm chức viên trường Mông Tạng và chức viên của Mông Giang chính phủ.
- Đích thê: Ái Tân Giác La thị, sau đổi gọi thành Kim Văn Dung (金文容), con gái Lễ Thân vương Thành Khôn.
- Con: một con trai và ba con gái
Con gái
- Trưởng nữ chết yểu
- Nhị nữ chết yểu
- Tam nữ, mẹ là Đích Phúc tấn Ái Tân Giác La thị, Đích Phúc tấn của Túc Thân vương Hiến Chương (宪章).
- Tứ nữ, mẹ là Đích Phúc tấn Ái Tân Giác La thị, Đích Phúc tấn của Duệ Thân vương Trung Thuyên.
- Ngũ nữ, mẹ là Đại di thái. Gả cho con trai của Đông Minh Quách Vương (东盟郭王), có một con gái.
Chú thích
- ^ Сэцэн засгийн хошуу (Сайн ноёны аймаг). [2019-08-13]. (原始内容存档于2019-08-13).
- ^ 《民国人物大辞典 増訂版》
- ^ 苏钦、吴贤萍,试析清末资政院少数民族议员的产生及其意义,中央社会主义学院学报2008年第6期
- ^ 《约法会议记录》,第119页
- ^ 溥铨;曹宽,述,张炳如,记. 我的家庭"庆亲王府"片断;那王府四十年的沧桑回忆. 中国人民政治协商会议全国委员会 文史资料研究委员会 (编). 《晚清宫廷生活见闻》 (PDF). 中国·北京市: 文史资料出版社. 1982 [2023-04-14]. (原始内容存档 (PDF)于2023-05-26) (中文(简体)).
统一书号:11224·99