Ngô Chu
Chu (chữ Hán: 周;1673 – 1681) là chính quyền do Ngô Tam Quế thành lập trong thời kỳ Loạn Tam Phiên vào đầu thời Thanh. Do người cai trị mang họ Ngô, nên còn được gọi là Ngô Chu (吴周). Ngô Tam Quế, vì đã giúp quân Thanh nhập quan, được phong làm Bình Tây vương, lập phiên ở Vân Nam.
|
Chu
|
|||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
Tên bản ngữ
| |||||||||||
| 1673–1681 | |||||||||||
| Thủ đô | Hành Châu Côn Minh | ||||||||||
| Ngôn ngữ thông dụng | Hán ngữ | ||||||||||
| Chính trị | |||||||||||
| Chính phủ | Quân chủ | ||||||||||
| Quân chủ | |||||||||||
• 1673–1678 | Ngô Tam Quế | ||||||||||
• 1678–1681 | Ngô Thế Phiên | ||||||||||
| Đại học sĩ | |||||||||||
• 1678–1681 | Quách Tráng Đồ, Phương Quang Sâm[1] | ||||||||||
| Lịch sử | |||||||||||
| Lịch sử | |||||||||||
• Ngô Tam Quế tự xưng là Chu vương | 1673 | ||||||||||
• Ngô Tam Quế tự xưng là Chu đế | 1678 | ||||||||||
• Chính quyền sụp đổ | 1681 | ||||||||||
| Kinh tế | |||||||||||
| Đơn vị tiền tệ | Lợi Dụng thông bảo Chiêu Vũ thông bảo Hồng Hóa thông bảo | ||||||||||
| |||||||||||
Lịch sử
Ngày 24 tháng 11 năm Khang Hi thứ 12 đời Thanh (tức ngày 31 tháng 12 năm 1673), Ngô Tam Quế khởi binh chống Thanh, lấy khẩu hiệu phản Thanh phục Minh, tự xưng là Chu vương, Thiên hạ Đô chiêu thảo Binh mã Đại nguyên soái, để tóc dài và thay đổi y phục, lấy năm sau làm Chu nguyên niên. Năm Khang Hi thứ 13 (1674), Tĩnh Nam vương Cảnh Tinh Trung hưởng ứng, năm Khang Hi thứ 15 (1676), Thế tử Bình Nam vương Thượng Chi Tín cũng dấy loạn theo, sử gọi là Loạn Tam Phiên.[2]
Cùng với sự xấu đi của cục diện chiến tranh, Cảnh Tinh Trung và Thượng Chi Tín lần lượt đầu hàng nhà Thanh, Ngô Tam Quế dẹp bỏ khẩu hiệu phản Thanh phục Minh, xưng đế ở Hành Châu, Hồ Nam vào năm Khang Hi thứ 17 (1678), quốc hiệu là Chu, đặt niên hiệu là Chiêu Vũ. Cùng năm, tháng 8, sau khi Ngô Tam Quế chết, Ngô Thế Phiên, cháu nội của Ngô Tam Quế và là con của Ngô Ứng Hùng, kế vị Hoàng đế Ngô Chu, đổi niên hiệu năm sau thành Hồng Hóa, lui về cố thủ Quý Dương. Quân Thanh càng lúc càng tấn công dữ dội. Tháng 10 năm Hồng Hóa thứ 2 (1680), Ngô Thế Phiên lui về cố thủ Côn Minh. Tháng 10 năm Hồng Hóa thứ 3 (1681), Định Viễn Bình khấu Đại tướng quân Triệu Lương Đống của nhà Thanh công phá Côn Minh, Ngô Thế Phiên bại trận tự sát, Ngô Chu diệt vong.[2]
Quân chủ Ngô Chu
| Hình ảnh | Miếu hiệu | Thụy hiệu | Tên húy | Sinh tử | Trị vì | Niên hiệu và thời gian sử dụng | Hoàng hậu | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Thái Tổ (Ngô Thế Phiên truy tôn) |
Cao Hoàng Đế (Ngô Thế Phiên truy tặng)[3] |
Ngô Tam Quế | 1612 – 1678 | 1673 – 1678 | –[a] | 01/1674 – 03/1678 | Trương Hoàng hậu | |
| Chiêu Vũ | 03/1678 – 12/1678 | |||||||
| – | – | Hiếu Cung Hoàng Đế (Ngô Thế Phiên truy tặng thụy hiệu)[3] |
Ngô Ứng Hùng | 1634 – 1675 | – | – | – | – |
| – | – | – | Ngô Thế Phiên | 1663 – 1681 | 1678 – 1681 | Hồng Hóa | 1679 – 1681 | Quách Hoàng hậu |
Tổ chức chính quyền
Vương công
- Tông thất: Ngô Tam Mai, Ngô Ứng Kỳ, Ngô Ứng Chính, Ngô Thế Lâm, Ngô Thế Cư, Ngô Thế Trình, Ngô Thế Tông
- Vương khác họ:
- Phụ Đức Thân vương: Thượng Chi Tín, Lâm Giang vương: Tôn Diên Linh
Quan văn
- Đại học sĩ: Quách Tráng Đồ, Phương Quang Sâm, Phương Hiếu Tiêu
- Tham tri Chính sự: Hồ Quốc Trụ
- Lục Bộ:
- Bộ Lại: Xa Văn Long, Cát Chấn, Bộ Hộ: Chiêm Thánh Hóa, Lưu Tác Trường, Lý Thế Bồi, Bộ Lễ: Vương Thiên Chung, Tôn Ký, Bộ Binh: Dương Ngạn Dung, Hàn Đại Nhiệm, Lý Hy Ưng, Bộ Hình: Cát Triều Thụy, Bộ Công: Lưu Ứng Đệ
- Khác: Lưu Huyền Sơ, Kim Quang Tổ, Đồng Dưỡng Cự, Phùng Tô, Tào Thân Cát, La Sâm, Quách Xương, Lai Độ, Tiền Điểm
Võ tướng
- Đại tướng quân: Hồ Quốc Trụ, Ngô Quốc Quý, Ngô Ứng Kỳ, Ngô Thế Tông, Mã Bảo, Vương Phụ Thần, Mã Hùng, Cao Khải Long
- Kim Ngô tướng quân: Ngô Quốc Quý, Triệu Mỗ, Ngô Ứng Chính, Ngô Ứng Kỳ, Hồ Quốc Trụ, Hạ Quốc Tương
- Thân quân tướng quân:
- Tiền Hậu Tả Hữu tướng quân: Ngô Quốc Quý, Ngô Ứng Kỳ, Tổ Thuật Thuấn
- Kiêu Kỵ tướng quân: Mã Bảo, Cao Khải Long, Vương Hội, Ngô Chân, Đỗ Huy
- Phiêu Kỵ tướng quân: Vương Bình Phiên, Trương Túc Pháp, Đào Duy Trí, Vệ Phác
- Thiết Kỵ tướng quân: Điền Tiến Học, Liêu Tiến Trung, Phạm Tề Hàn, Hà Kế Tổ, Cao Đại Tiết, Kha Đạc
- Khác: Vu Hóa Long, Đổng Trọng Dân, Lý Mỗ, Dương Phụng Tiên, Ba Dưỡng Nguyên, Lý Quốc Đống, Vương Vĩnh Thanh, Lưu Chi Phúc, Vương Vĩnh Huân, Tổ Trạch Thanh, Hứa Hồng Nhân, Quách Nghĩa, Trương Khởi Long, Vương Quân Cực, Chu Vạn Niên
- Nội Phủ tướng quân: Ngô Quốc Trụ
- Tướng tá địa phương:
- Tổng quản Thiểm Tây Đông lộ: Vương Phụ Thần
- Tổng quản Quảng Tây Đông lộ: Mã Hùng
- Tướng quân Lưu thủ Vân Nam: Quách Tráng Đồ
- Tướng quân Tổng quản Quý Châu: Lý Bản Thâm
- Tướng quân Tổng thống Tứ Xuyên: Đàm Hoằng
- Tướng quân Tổng quản Hán Trung: Trương Mỗ, Lý Mỗ
- Tướng quân Tổng thống Giang Tây: Lưu Hoằng Nghị
- Tướng quân Cát An: Hàn Đại Nhiệm, Trần Nghiêu
- Tướng quân Tùng Bàn: Ngô Chi Mậu
- Tướng quân Kiến Xương: Hà Đức Thành
- Khác: Trương Quốc Trụ, Trịnh Giao Lân, Dương Lai Gia
Chú thích
- ^ Tự xưng là Chu Vương, lấy quốc hiệu Chu làm kỷ nguyên, Đại Lý thị cổ bi tồn văn lục ghi chép Đảm Đương Đại sư tháp minh (bia tháp của Đại sư Đảm Đương) đề năm là "Đại Chu kiến nguyên Giáp Dần (Năm Đại Chu đầu tiên, năm Giáp Dần), Thiện nhân Thi mẫu Đàm thị dư doanh thọ tàng bi ký (bia ký xây mộ cho mẹ của Thiện nhân Thi họ Đàm) đề năm là "Chu nhị niên tuế tại Ất Mão" (Năm Chu thứ hai, năm Ất Mão); Vân Nam sử liệu tùng khan quyển 7 ghi chép Vĩnh Nhân Đổng Quốc Trụ mộ bi (bia mộ Đổng Quốc Trụ ở Vĩnh Nhân) đề năm là "Chu tứ niên tuế thứ Đinh Tị" (Năm Chu thứ tư, năm Đinh Tị), Côn Minh Quy Hóa tự bi (bia chùa Quy Hóa ở Côn Minh) đề năm là "Chiêu Vũ nguyên niên tuế tại Mậu Ngọ trọng đông thượng hoán" (Năm Chiêu Vũ thứ nhất, năm Mậu Ngọ, giữa tháng 11 âm lịch, thượng tuần), Trong văn bia có nhắc đến "ngày 16 tháng Hai năm Đinh Tị, năm Chu thứ tư, động thổ khởi công" và "ngày 20 tháng Chín năm Mậu Ngọ, năm Chiêu Vũ nguyên niên, hoàn thành". Hoặc có tài liệu ghi chép niên hiệu Chu Khải (周啟). Hoa Di biến thái quyển 2, phần trên, trong văn bản Ngô Tam Quế hịch có câu: "Năm Giáp Dần, ngày mùng Một Tết, giờ Dần,suy tôn Tam Thái tử, tế Giao trời đất, cung kính lên ngôi Đại Bảo (ngôi vua), đặt niên hiệu là Chu Khải"; Cùng sách, quyển 2, phần dưới, trong văn bản Ngô Tam Quế hịch 2 bản có ghi "Niên hiệu Chu Khải", đề năm "Chu Khải nguyên niên" (Năm Chu Khải thứ nhất).
Tham khảo
Trích dẫn
- ^ Lý Trị Đình 2005, tr. 1112-1169.
- ^ a b Nguyễn Gia Phu 2003, tr. 167.
- ^ a b Bình Ngô lục ghi chép như sau: "Sau khi Quế (chỉ Ngô Tam Quế) tự ý xưng đế, diện mạo (hình dung) tiều tụy (ốm yếu), và qua đời vào ngày mười tám tháng Tám (âm lịch). Hồ Quốc Trụ và những người khác dùng bông (vải) bọc xác, lén chở (người chết) đến Thường Đức để làm lễ táng (liễm). Phương Hiến Đình từ chức, hộ tống tang lễ về Vân Nam. Quân dân ở Hành Châu bảy ngày sau mới biết Ngô Quế đã chết. Quách Tráng Đồ phò tá cháu nội là Thế Phiên lên ngôi giả vương ở Vân Nam, truy phong cho Quế ngụy hiệu là Thái Tổ Cao Hoàng Đế, và cho Ngô Ứng Hùng (cha của Thế Phiên) là Hiếu Cung Hoàng Đế."
Thư mục
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).